Ỷ Thiên Đồ Long ký

Hồi 5: Cánh Tay Ngọc Trúng Mai Hoa Tiêu

trước
tiếp

Sông Tiền Đường đến chỗ tháp Lục Hòa thì chuyển qua một khúc quanh lớn, rồi mới chảy thẳng về phía đông. Chỗ này cách phủ Lâm An không gần, khi Trương Thúy Sơn tới đó thì trời đã tối, thấy phía đông ngọn tháp quả nhiên có ba cây liễu lớn, bên dưới đậu một chiếc thuyền. Chiếc thuyền trên sông Tiền Đường này có buồm, lớn hơn hẳn loại du thuyền trên Tây Hồ, nhưng mũi thuyền vẫn treo hai chiếc đèn lồng vải sa xanh y hệt tối qua. Trương Thúy Sơn hồi hộp, tim đập mạnh, cố trấn tĩnh đi tới bên cây liễu lớn, thấy thiếu nữ nọ ngồi một mình ở mũi thuyền, y phục màu xanh nhạt, hôm nay đã đổi sang trang phục nữ nhi.

Trương Thúy Sơn tới đây chỉ cốt hỏi thiếu nữ chuyện tối qua, giờ thấy nàng đổi sang trang phục nữ nhi thì còn đang ngần ngại, bỗng nghe nàng ngẩng mặt lên trời mà ngâm: “Ngồi ôm gối đầu thuyền đợi khách, biết khi nào chàng mới đến cho, gió kia với sóng muốn đùa, lay ai mau tỉnh qua cơn mơ màng”.

Trương Thúy Sơn nói to:

– Tại hạ Trương Thúy Sơn có điều muốn hỏi, chưa dám mạo muội!

Thiếu nữ nói:

– Mời chàng xuống thuyền.

Trương Thúy Sơn nhảy nhẹ xuống mũi thuyền.

Thiếu nữ nói:

– Tối qua mây đen đầy trời, không thấy ánh trăng. Tối nay mây tan trời trong, cảnh đẹp hơn nhiều.

Tiếng thiếu nữ trong trẻo ngân nga, song lúc nói nàng chỉ nhìn trời, chẳng buồn nhìn Trương Thúy Sơn lấy một lần. Chàng nói:

– Mạn phép được thỉnh vấn tôn tính của cô nương?

Thiếu nữ đột nhiên quay mặt lại, đôi mắt sáng lướt qua lướt lại trên mặt Trương Thúy Sơn, không trả lời. Chàng thấy diện mạo nàng vô cùng mỹ lệ, nhưng như có điều gì dồn bức, chàng chợt thấy ngượng ngùng, không dám hỏi thêm, đành quay mình nhảy luôn lên bờ, chạy ngược về phía mặt đường.

Chạy hơn mười trượng, chàng bỗng dừng bước, nghĩ thầm: “Trương Thúy Sơn ơi là Trương Thúy Sơn, mi bảy thước ngang tàng, nam tử hán đại trượng phu tung hoành giang hồ không biết sợ, vậy mà giờ đây lại sợ hãi một thiếu nữ là sao?” Ngoảnh nhìn lại chỉ thấy chiếc thuyền của thiếu nữ đang từ từ trôi xuôi theo dòng sông Tiền Đường, hai ngọn đèn lồng chiếu xuống mặt sông. Trương Thúy Sơn nhất thời chưa biết nên làm gì, bèn thả bộ men sông mà đi.

Người đi trên bờ, thuyền trôi dưới sông, một người một thuyền cứ thế song hành cùng nhau. Thiếu nữ vẫn ngồi ôm gối ở mũi thuyền, ngẩng nhìn mảnh trăng non phía chân trời.

Trương Thúy Sơn đi một hồi, bất giác cũng theo nàng nhìn lên trời, bỗng thấy phía đông bắc đùn lên một đám mây đen lớn. Trời quả thật không sao lường trước được, đám mây đen kia lan ra rất nhanh, chẳng mấy chốc đã che lấp mặt trăng, một trận gió thổi tới rải mưa lắc rắc. Bờ sông quãng này hoàn toàn trống trải, không có chỗ nào trú mưa. Trương Thúy Sơn cũng đang bận lòng, chẳng tính đến việc trú mưa, mưa tuy không nặng hạt, nhưng nếu mưa lâu thì sẽ ướt hết người. Thiếu nữ vẫn ngồi ở mũi thuyền, mặc cho mưa tạt vào ướt người.

Trương Thúy Sơn như sực tỉnh, nói:

– Cô nương, hãy vào khoang thuyền tránh mưa đi!

Thiếu nữ “à” một tiếng, đứng dậy, nói:

– Thế chàng không sợ mưa ướt hay sao?

Đoạn nàng chui vào khoang thuyền, cầm ra một cái dù, vung tay ném cây dù lên bờ.

Trương Thúy Sơn giơ tay đón lấy, thấy đó là một cây dù đỏ làm bằng giấy dầu, mở dù ra thấy trên tán vẽ cảnh sông núi xa gần, vài cây liễu rủ, một bức tranh thủy mặc thanh nhã, đề bảy chữ “Tà phong tế vũ bất tu quy”[24]. Các cây dù ở Hàng Châu thường có vẽ cảnh đề chữ, xưa nay vẫn thế, chẳng có gì lạ. Tranh vẽ và chữ viết của thợ làm dù cũng giống như trên đồ gốm Giang Tây, thường có cái vẻ của dân thợ. Còn tranh và chữ trên cây dù này lại rất tinh xảo, bảy chữ kia tuy nét bút hơi thiếu kình lực, nhưng là do con nhà khuê tú viết nên, đầy vẻ thanh lệ thoát tục.

Trương Thúy Sơn giương dù che mưa, ngẩng nhìn thư họa trên cây dù, chân vẫn không ngừng bước, nào ngờ phía trước có một con mương nhỏ, chân trái của chàng vẫn bước tới liền đạp vào chỗ trống không. Nếu là người thường, bước hụt này đương nhiên sẽ ngã bổ chửng. Nhưng chàng biến chiêu cực nhanh, chân phải đá mạnh về phía trước, thân hình đã vọt lên, nhẹ nhàng xảo diệu bay qua con mương. Chỉ nghe thiếu nữ trên thuyền thốt lên trong trẻo:

– Hay lắm!

Trương Thúy Sơn ngoảnh nhìn, thấy nàng đội nón lá đứng ở mũi thuyền, gió mưa thổi bay bay tà áo, trông hệt như tiên nữ đứng trên những ngọn sóng.

Thiếu nữ nói:

– Thư họa trên cây dù liệu có vừa mắt Trương tướng công chăng?

Trương Thúy Sơn vốn không lưu tâm đến hội họa, chỉ chú ý thư pháp, bèn nói:

– Nét bút là thư pháp của Vệ phu nhân trên “Danh Cơ thiếp”, bút dứt mà ý vẫn liền, bút ngắn mà ý vẫn dài, diễn tả hết cái kỳ diệu của trâm hoa tả vận.

Thiếu nữ thấy chàng nhận ra thể chữ của mình thì trong lòng rất vui, nói:

– Trong bảy chữ ấy, chữ “Bất” viết dở nhất.

Trương Thúy Sơn nhìn kỹ, nói:

– Chữ “Bất” viết rất tự nhiên, có điều không được hàm súc, như sáu chữ kia dư vận bất tận khiến người xem nhìn không biết chán.

Thiếu nữ nói:

– Phải rồi, tiểu muội cảm thấy chữ ấy viết có gì không ổn, nghĩ mãi chưa thấy dở ở chỗ nào, chàng vừa nói là tiểu muội nhận ra ngay.

Chiếc thuyền của thiếu nữ trôi xuôi theo dòng, Trương Thúy Sơn ở trên bờ đi theo, hai người trò chuyện với nhau về thư pháp, người hỏi kẻ đáp, không để ý đã đi cả dặm. Lúc này trời đã tối hơn, đôi bên không còn nhìn rõ mặt nhau nữa, thiếu nữ bỗng nói:

– Trò chuyện với chàng một buổi, hơn cả đọc sách mười năm. Đa tạ Trương tướng công chỉ bảo, giờ xin cáo biệt!

Rồi thiếu nữ giơ tay lên, người lái thuyền liền kéo buồm, chiếc buồm trắng từ từ được kéo lên, no gió, con thuyền lập tức trôi nhanh. Trương Thúy Sơn thấy cánh buồm xa dần, bất giác cảm thấy bồi hồi, chợt nghe giọng nàng vọng lại từ xa:

– Tiểu muội họ Ân, mai ngày có dịp, lại xin thỉnh giáo tướng công…

Trương Thúy Sơn nghe bốn chữ “Tiểu muội họ Ân” liền giật mình nhớ lại rằng Đô Đại Cẩm từng nói, người nhờ y hộ tống Du tam ca là một thư sinh diện mạo tuấn tú, tự xưng họ Ân, liệu có phải là thiếu nữ này giả trai? Nghĩ tới đó, chàng không còn ngại ngần chuyện nam nữ, liền đề khí đuổi theo. Thuyền căng buồm trôi nhanh, song chàng thi triển khinh công, chẳng mấy chốc đã đuổi kịp, lớn tiếng gọi vào thuyền:

– Ân cô nương, nàng có biết Du tam ca Du Đại Nham của tại hạ hay chăng?

Thiếu nữ quay đầu lại, nhưng không trả lời. Trương Thúy Sơn dường như nghe có tiếng thở dài, nhưng người ở trên bờ, người dưới thuyền, nghe không được rõ có đúng là tiếng thở dài hay không.

Trương Thúy Sơn lại nói:

– Trong lòng tại hạ có biết bao nhiêu là nghi vấn, cần hỏi cho rõ.

Thiếu nữ nói:

– Cứ nhất thiết phải hỏi cho rõ ư?

Trương Thúy Sơn nói:

– Ủy thác tiêu cục Long Môn hộ tống Du tam ca của tại hạ về núi Võ Đang phải chăng là Ân cô nương? Ân đức ấy có ngày phải báo đáp.

Thiếu nữ nói:

– Ân ân oán oán, cũng thật khó nói.

Trương Thúy Sơn hỏi:

– Du tam ca của tại hạ về đến chân núi Võ Đang còn bị người ta hạ độc thủ, Ân cô nương có biết hay chăng?

Thiếu nữ nói:

– Tiểu muội quả không vui, rất tiếc về việc đó.

Hai người một hỏi một đáp, gió mạnh dần, thuyền trôi càng nhanh. Trương Thúy Sơn nội lực thâm hậu, trước sau vẫn đi song song với con thuyền, không tụt lại nửa bước. Thiếu nữ nội lực tuy không bằng chàng, nhưng từng câu từng chữ đều nghe rõ ràng.

Sông Tiền Đường càng về phía hạ lưu mặt sông càng rộng. Mà gió nhẹ mưa nhỏ lúc đầu cũng dần dần biến thành cuồng phong bạo vũ.

Trương Thúy Sơn hỏi:

– Tối qua mấy chục mạng người ở tiêu cục Long Môn bị giết, cô nương có biết ai hạ độc thủ chăng?

Thiếu nữ đáp:

– Tiểu muội đã bảo Đô Đại Cẩm phải hộ tống thật chu đáo Du tam hiệp về núi Võ Đang, nếu dọc đường để xảy ra nửa phần sơ suất… Trương Thúy Sơn nói:

– Thì cô nương sẽ giết sạch già trẻ lớn bé trong tiêu cục của y chứ gì?

Thiếu nữ nói:

– Không sai! Hắn đã hộ tống Du tam hiệp không đến nơi đến chốn, đó là hắn tự rước họa vào thân, còn oán trách ai kia chứ?

Trương Thúy Sơn thấy lạnh người, nói:

– Chẳng lẽ… bấy nhiêu mạng người trong tiêu cục đều do… đều do…

Thiếu nữ đáp:

– Đều do tiểu muội giết đó.

Trương Thúy Sơn tai bỗng ù đi, chàng không thể ngờ một thiếu nữ kiều diễm nhường kia rốt cuộc lại là một hung thủ giết người không chớp mắt. Lát sau, chàng hỏi:

– Còn… còn hai hòa thượng Thiếu Lâm tự?

Thiếu nữ nói:

– Cũng là do tiểu muội giết. Tiểu muội vốn không định kết oán thù với phái Thiếu Lâm, nhưng bọn họ lại sử ám khí tẩm độc đả thương tiểu muội trước, nên không thể tha cho họ được.

Trương Thúy Sơn nói:

– Thế sao… tại sao họ lại đổ oan cho tại hạ?

Thiếu nữ cười khanh khách, nói:

– Cái đó là do tiểu muội sắp đặt đó.

Trương Thúy Sơn cả giận nói to:

– Cô nương sắp đặt để họ đổ oan cho ta?

Thiếu nữ mỉm cười yêu kiều:

– Đúng vậy.

Trương Thúy Sơn nói:

– Ta với cô nương không thù không oán, tại sao lại làm như thế?

Chỉ thấy thiếu nữ phẩy tay áo, chui vào khoang thuyền. Đến nước này, Trương Thúy Sơn làm sao có thể không hỏi cho ra nhẽ? Thấy chiếc thuyền cách xa bờ mấy trượng, không thể nào nhảy xuống thuyền, trong cơn cuồng nộ, chàng liền vung chưởng đánh mạnh vào cây phong bên bờ sông, nghe “rắc rắc” mấy tiếng, hai cành lớn gãy rời. Chàng vận lực ném một cành xuống sông, tay trái cầm một cành, chân phải nhún một cái, nhảy xuống sông, chân trái đáp xuống cành cây nổi dưới đó liền mượn lực nhảy tiếp, cùng lúc ném cành thứ hai tới phía trước, chân phải đáp vào nó, lại mượn sức lần nữa, vọt lên mũi thuyền, quát to:

– Cô nương… cô nương sắp đặt như thế nào?

Khoang thuyền tối om, không một tiếng động. Trương Thúy Sơn dợm bước tiến vào, nhưng trong cơn thịnh nộ vẫn biết tự kiềm chế, nghĩ thầm: “Xông vào khoang thuyền của phụ nữ, e mang tiếng thất lễ!” Chàng đang ngần ngại, chợt trong khoang thuyền lóe lên ánh lửa, một ngọn nến được thắp sáng. Thiếu nữ nói:

– Mời vào!

Trương Thúy Sơn sửa lại áo mũ, khép dù, bước vào khoang thuyền và bất giác sững sờ khi thấy trong này là một thư sinh áo xanh khăn vuông, tay cầm quạt giấy phe phẩy, thần thái ung dung; thì ra thiếu nữ kia trong giây lát đã cải nam trang, nhìn thoáng qua diện mạo giống Trương Thúy Sơn như đúc. Thúy Sơn hỏi nàng sắp đặt như thế nào, để các hòa thượng phái Thiếu Lâm đổ oan cho chàng, bây giờ thiếu nữ kia cải trang, chẳng cần đáp, chàng cũng đã hiểu ra, trong đêm tối, ai ai cũng sẽ ngỡ hai người là một, chẳng trách Tuệ Phong và Đô Đại Cẩm cứ một mực đổ riệt cho chàng đã hạ độc thủ.

Thiếu nữ giơ chiếc quạt chỉ phía đối diện, nói:

– Trương ngũ hiệp, mời ngồi!

Nàng cầm ấm trà nhỏ trên kỷ lên, rót một chén, đưa tới trước mặt chàng, nói:

– “Hàn dạ khách lai trà đương tửu”[25], trong thuyền không có rượu, đúng là không khỏi giảm mất thanh hứng của Trương ngũ hiệp.

Cách nàng cầm ấm rót trà, bưng chén mời trà và lời nói thanh nhã khiến Trương Thúy Sơn nguôi bớt cơn giận, chỉ nghiêng mình nói:

– Đa tạ.

Thiếu nữ thấy y phục của chàng ướt sũng, liền nói:

– Trong thuyền có sẵn y phục, Trương ngũ hiệp hãy ra đằng lái mà thay.

Trương Thúy Sơn lắc đầu nói:

– Khỏi cần.

Đoạn chàng ngầm vận nội lực, một luồng hơi ấm từ đan điền bốc lên, toàn thân nóng bừng, quần áo dần bay hết hơi nước. Thiếu nữ nói:

– Nội công của phái Võ Đang đứng đầu võ lâm, tiểu muội bảo Trương ngũ hiệp thay y phục quả là ếch ngồi đáy giếng.

Trương Thúy Sơn nói:

– Cô nương thuộc môn phái nào, có thể cho biết chăng?

Thiếu nữ nghe chàng hỏi câu ấy, thì đưa mắt nhìn qua song cửa, đầu mày hơi cau biểu lộ nét buồn.

Trương Thúy Sơn thấy thần sắc nàng tựa hồ có điều u uất, không tiện gặng hỏi, nhưng lát sau chàng không nhịn được, lại hỏi:

– Du tam ca của tại hạ rốt cuộc là do kẻ nào đả thương, mong cô nương cho biết.

Thiếu nữ nói:

– Chẳng cứ gì Đô Đại Cẩm nhìn lầm, mà chính tiểu muội cũng bị lừa. Tiểu muội luôn nghĩ rằng Võ Đang thất hiệp phong tư anh sảng, chứ đâu thô lỗ táo tợn như thế.

Trương Thúy Sơn thấy nàng không trả lời câu hỏi của chàng, lại nhắc đến bốn chữ “phong tư anh sảng”, hiển nhiên là tán thưởng phong thái của chàng thì trong lòng rộn ràng, hai má nóng bừng, chưa rõ ý tứ câu nói vừa rồi của nàng là thế nào.

Thiếu nữ thở dài, đột nhiên vén tay áo bên trái lên, để lộ ra cánh tay trắng như ngọc. Trương Thúy Sơn vội cúi mặt xuống, không dám nhìn. Thiếu nữ nói:

– Trương ngũ hiệp có nhận ra thứ ám khí này chăng?

Trương Thúy Sơn nghe hai tiếng ám khí” mới ngẩng lên, thấy trên cánh tay nàng có cắm ba mũi cương tiêu nho nhỏ màu đen, làn da nàng trắng như tuyết, chỗ trúng tiêu thì đen như mực. Phần đuôi của ba chiếc tiêu đều có hình hoa mai, thân tiêu dài không quá tấc rưỡi, song lại cắm sâu vào da thịt hơn một tấc. Trương Thúy Sơn ngạc nhiên đứng bật dậy, nói:

– Đây là Mai hoa tiêu của phái Thiếu Lâm, sao… sao nó lại màu đen?

Thiếu nữ nói:

– Không sai, là Mai hoa tiêu của phái Thiếu Lâm, mũi tiêu có tẩm chất độc.

Cánh tay trắng muốt của nàng có cắm ba cây tiêu nhỏ, dưới ánh nến trông đẹp đến nao lòng, song lại mang vẻ huyền bí đáng sợ, như trên giấy trắng ngần có ba giọt mực đen.

Trương Thúy Sơn nói:

– Phái Thiếu Lâm là danh môn chính phái, ám khí của họ quyết không thể tẩm chất độc. Nhưng ba đóa Mai hoa tiêu này, trừ đệ tử phái Thiếu Lâm ra, chưa từng nghe có nhân vật phái nào khác biết sử dụng. Cô nương trúng tiêu bao lâu rồi? Mau chóng tìm cách giải độc là điều cần kíp hơn cả.

Thiếu nữ thấy chàng hết sức quan tâm, bèn nói:

– Trúng tiêu đã hơn hai mươi ngày, độc tính đã bị tiểu muội dùng thuốc ngăn chặn, nhất thời chưa thể lan rộng, nhưng ba mũi ác tiêu này không dám rút ra, sợ nếu rút tiêu ra, chất độc sẽ theo máu lan đi tứ phía.

Trương Thúy Sơn nói:

– Trúng tiêu đã hơn hai mươi ngày, chỉ sợ… chỉ e… sau khi trị lành, trên da sẽ để lại vết sẹo rất lớn…

Thực ra chàng định nói “Chỉ sợ chất độc ở trong cơ thể quá lâu, cánh tay này phải cắt bỏ”.

Thiếu nữ nước mắt lưng tròng, rầu rĩ nói:

– Tối qua, tiểu muội đã cố… lục tìm thuốc giải bên người mấy hòa thượng Thiếu Lâm tự… Ôi, có lẽ cánh tay này của tiểu muội phải bỏ mất thôi…

Đoạn nàng từ từ kéo tay áo xuống.

Trương Thúy Sơn chợt thấy ngực nóng ran, nói:

– Ân cô nương, cô nương tin tại hạ chứ? Tại hạ nội lực tuy kém, nhưng tự tin có thể giúp cô nương trục xuất chất độc khỏi cánh tay này.

Thiếu nữ mỉm cười, trên má hiện rõ lúm đồng tiền, tựa hồ trong lòng vô cùng hoan hỉ, nhưng ngoài miệng lại nói:

– Trương ngũ hiệp, lòng chàng còn đầy nghi hoặc, tiểu muội phải nói rõ trước, kẻo sau khi chữa cho tiểu muội, chàng lại hối hận.

Trương Thúy Sơn khảng khái nói:

– Trị bệnh cứu người vốn là việc tại hạ phải làm, tại sao phải hối hận?

Thiếu nữ nói:

– Dẫu gì cũng đã chịu được hơn hai chục ngày rồi, trong giây lát chẳng cần vội. Tiểu muội cần phải nói với Trương ngũ hiệp, rằng sau khi giao Du tam hiệp cho tiêu cục Long Môn, tiểu muội có thân chinh đi theo sau tiêu đội, dọc đường có vài kẻ định hạ thủ Du tam hiệp, đều bị tiểu muội kín đáo loại trừ, nực cười thay Đô Đại Cẩm cứ như kẻ mơ ngủ.

Trương Thúy Sơn chắp tay nói:

– Đại ân đại đức của cô nương, đệ tử phái Võ Đang cảm kích vô cùng.

Thiếu nữ thản nhiên nói:

– Trương ngũ hiệp khỏi cần đa tạ tiểu muội, chỉ sợ rồi chàng lại hận tiểu muội không chừng.

Trương Thúy Sơn ngẩn người, chưa hiểu ý tứ nàng ra sao.

Thiếu nữ nói:

– Dọc đường tiểu muội nhiều lần cải trang, lúc thành nông phu, lúc làm khách thương, theo sau tiêu đội một quãng khá xa. Nào ngờ đã tới chân núi Võ Đang còn gặp chuyện rắc rối.

Trương Thúy Sơn nghiến răng nói:

– Sáu tên ác tặc nọ, cô nương có thấy mặt chúng hay không? Chỉ giận gã Đô Đại Cẩm mù mù mờ mờ, không nói rõ được lai lịch của sáu tên ác tặc.

Thiếu nữ thở dài, nói:

– Tiểu muội chẳng những thấy mặt mà còn giao đấu với chúng nữa kia, song tiểu muội cũng mù mù mờ mờ, không nói rõ được lai lịch bọn chúng.

Nàng nâng chén trà, nhấp một ngụm, nói tiếp:

– Hôm ấy tiểu muội thấy từ trên núi Võ Đang có sáu người xuống đón, nghe Đô Đại Cẩm chào hỏi họ, gọi họ là “Võ Đang lục hiệp”, sáu người ấy cũng không phủ nhận. Tiểu muội từ đằng xa quan sát, thấy họ tiếp nhận cỗ xe lớn chở Du tam hiệp, tưởng là công việc đã hoàn tất, bèn gò ngựa né sang bên đường, nhường cho đám Đô Đại Cẩm đi qua. Thế nhưng tiểu muội bỗng nảy sinh nghi ngờ: “Võ Đang thất hiệp là huynh đệ đồng môn, tình như cốt nhục, Du tam hiệp bị trọng thương nằm đó, lẽ ra cả bọn phải tức thời đổ xô lại xem thương thế ra sao mới phải. Đằng này chỉ thấy mỗi một người trong bọn đến bên cỗ xe lớn ngó vào trong một cái, năm người còn lại chẳng đếm xỉa gì tới, lại còn tỏ vẻ vui mừng, rối rít giục nhau đánh xe đi, thật trái lẽ thường tình”.

Trương Thúy Sơn gật đầu:

– Cô nương rất tinh tế, nghi ngờ là phải lắm.

Thiếu nữ nói:

– Tiểu muội càng nghĩ càng thấy không phải, bèn phóng ngựa đuổi theo, hỏi tính danh bọn họ. Sáu người ấy nhãn lực cũng khá, vừa thấy tiểu muội đã biết là gái giả trai. Tiểu muội trách họ dám mạo danh đệ tử Võ Đang, cướp Du tam hiệp mang đi hẳn là có tâm địa bất lương. Đôi bên lời qua tiếng lại, tiểu muội xông lên động thủ. Trong sáu người ấy, một tên trạc ba mươi tuổi, thân hình gầy gò, ra đấu với tiểu muội, một gã đạo sĩ đứng bên trông chừng, còn bốn tên kia đánh xe chạy đi. Tên gầy bản lĩnh rất khá, tiểu muội đấu với hắn hơn ba mươi hiệp mà chưa thắng nổi, bỗng gã đạo sĩ đứng bên cạnh vung tay một cái, tiểu muội chỉ cảm thấy cánh tay tê chồn và ngứa ngáy, thế là không nghe một tiếng động, tiểu muội đã trúng ba mũi Mai hoa tiêu. Tên gầy nói năng vô lễ, toan bắt sống tiểu muội, tiểu muội phóng cho hắn ba mũi ngân châm, nhờ vậy mới thoát được.

Nói đến đây, má nàng ửng hồng, nhớ lúc tên gầy nọ thấy nàng là một thiếu nữ cô thân mỹ lệ đã định giở thói sàm sỡ với nàng.

Trương Thúy Sơn trầm ngâm nói:

– Mai hoa tiêu này, chúng phát xạ bằng tay trái ư? Môn hạ phái Thiếu Lâm sao lại xuất hiện đạo sĩ, chả lẽ cũng lại giả trang?

Thiếu nữ mỉm cười:

– Đạo sĩ cải trang thành hòa thượng thì phải cạo đầu, hòa thượng cải trang thành đạo sĩ thì quá dễ, chỉ cần đội mũ là xong.

Trương Thúy Sơn gật đầu. Thiếu nữ nói:

– Tiểu muội thầm biết sự việc nguy rồi, nhưng tự lượng sức mình không thắng nổi tên gầy, gã đạo sĩ xem ra còn lợi hại hơn, huống hồ bọn chúng những sáu người? Thật không còn cách nào khác.

Trương Thúy Sơn mở miệng định nói gì đó, song lại thôi.

Thiếu nữ tiếp:

– Tiểu muội đoán chàng định hỏi, tại sao tiểu muội không lên núi Võ Đang kể rõ sự việc với các vị trên đó, phải không nào? Tiểu muội làm sao có thể lên núi Võ Đang, nếu tiểu muội có thể lộ diện thì cần gì phải nhờ bọn Đô Đại Cẩm hộ tống kia chứ? Tiểu muội đang bàng hoàng vô kế khả thi, đang buồn phiền thì vừa hay thấy Trương ngũ hiệp nói chuyện với bọn Đô Đại Cẩm, sau đó thấy Trương ngũ hiệp đi tìm Du tam hiệp. Tiểu muội nghĩ Võ Đang thất hiệp đã đứng ra lo vụ này, tiểu muội cũng chẳng nên xen vào nữa. Với bản lĩnh nhỏ mọn của mình, tiểu muội có giúp cũng chẳng được bao nhiêu. Bấy giờ tiểu muội mới vội lo chuyện giải độc, đi ngược trở về phía đông, không biết Du tam hiệp sau đó thế nào?

Trương Thúy Sơn bèn kể cho nàng nghe việc Du Đại Nham bị người ta hạ độc thủ ra sao. Thiếu nữ thở dài, chớp chớp mắt xúc động, nói:

– Chỉ mong Du tam hiệp ở hiền gặp lành, cuối cùng sẽ được chữa khỏi, nếu không… nếu không…

Trương Thúy Sơn nghe giọng nói thành thực của nàng thì cảm động, nói:

– Đa tạ hảo tâm của cô nương.

Chàng rưng rưng nước mắt. Thiếu nữ lắc đầu, kể tiếp:

– Tiểu muội về tới Giang Nam, nhờ người xem giùm thứ Mai hoa tiêu này, có người nhận ra đó là ám khí độc môn của phái Thiếu Lâm, bảo rằng trừ phi người phát xạ ám khí cho giải dược bổn môn, nếu không khó lòng giải trừ được độc tính. Ở phủ Lâm An, ngoài tiêu cục Long Môn, đâu có ai khác thuộc phái Thiếu Lâm? Bởi thế đang đêm tiểu muội mới lẻn vào tiêu cục, định buộc họ trao giải dược, nào ngờ họ đã chẳng cho, lại còn mai phục nhân mã, tiểu muội vừa vào đến cửa liền bị họ hạ độc thủ. Trương Thúy Sơn “à” một tiếng, trầm ngâm nói:

– Cô nương bảo cố ý sắp đặt để họ tưởng lầm là tại hạ?

Thiếu nữ tỏ vẻ bẽn lẽn, cúi đầu nói nhỏ:

– Tiểu muội thấy chàng mua bộ y phục này, mặc vào trông rất… rất dễ ưa. Nên tiểu muội cũng bắt chước mua một bộ.

Trương Thúy Sơn nói:

– Thì ra thế! Có điều cô nương ra tay giết liền mấy chục mạng người, quả là tàn ác, mà mọi người trong tiêu cục có thù oán gì với cô nương đâu.

Thiếu nữ sa sầm mặt, cười nhạt nói:

– Trương ngũ hiệp định giáo huấn tiểu muội sao? Tiểu muội sống mười chín năm nay, chưa nghe ai giáo huấn đâu. Trương ngũ hiệp đại nhân đại nghĩa thì mời đi chỗ khác. Trong con thuyền này toàn hạng người tàn ác, đâu dám mong kết giao với Trương ngũ hiệp!

Trương Thúy Sơn bị thiếu nữ nói cho một trận, bất giác đỏ mặt, đứng dậy tính rời khỏi thuyền, nhưng chợt nhớ mình đã nhận lời trị thương cho nàng, bèn nói:

– Cô nương vén tay áo lên đi.

Thiếu nữ hơi nhướn đôi mày ngài, nói:

– Trương ngũ hiệp hay mắng người như thế, tiểu muội không cần chàng trị thương cho đâu!

Trương Thúy Sơn nói:

– Vết thương trên cánh tay cô nương để vậy đã lâu, dây dưa thêm chỉ sợ… chỉ sợ chất độc phát tác khó trị.

Thiếu nữ giận dỗi nói:

– Có chết cũng không sao, chẳng qua đều do Trương ngũ hiệp làm hại tiểu muội.

Trương Thúy Sơn ngạc nhiên:

– Ô hay, bắn tiêu vào tay cô nương là kẻ ác của phái Thiếu Lâm, đâu có liên quan gì tại hạ?

Thiếu nữ nói:

– Nếu tiểu muội không vượt ngàn dặm hộ tống tam sư ca của Trương ngũ hiệp về núi Võ Đang, liệu tiểu muội có gặp sáu tên ác tặc nọ hay không? Khi chúng cướp tam sư ca của chàng đi, nếu tiểu muội tụ thủ bàng quan, liệu cánh tay có bị trúng tiêu hay không? Nếu chàng đến sớm một bước, giúp tiểu muội một tay, liệu tiểu muội có bị trúng tiêu độc hay không?

Trừ hai câu cuối cùng cưỡng từ đoạt lý, những lời khác nghe cũng hợp tình hợp lý, chàng chắp tay nói:

– Không sai, tại hạ giúp cô nương trị thương, chẳng qua chỉ báo đáp được một chút đại ân đại đức của cô nương.

Thiếu nữ nghiêng đầu nói:

– Trương ngũ hiệp nhận sai rồi chứ?

Trương Thúy Sơn hỏi:

– Nhận sai cái gì?

Thiếu nữ nói:

– Trương ngũ hiệp bảo tiểu muội tàn ác, nói thế là sai. Mấy lão hòa thượng Thiếu Lâm tự, bọn Đô Đại Cẩm và những người trong tiêu cục đều đáng chết.

Trương Thúy Sơn lắc đầu nói:

– Cánh tay cô nương tuy bị trúng độc, vẫn còn cứu được. Tam sư ca của tại hạ bị trọng thương, cũng chưa mất mạng; mà dẫu có không chữa trị được, thì mình cũng chỉ nên tìm kẻ thủ ác, chứ giết hại một lúc mấy chục mạng người thì chẳng hợp lý chút nào.

Thiếu nữ nhướn đôi mày ngài, nói:

– Trương ngũ hiệp bảo tiểu muội giết lầm người ư? Thế kẻ phát xạ Mai hoa tiêu không phải là người của phái Thiếu Lâm hay sao? Tiêu cục Long Môn chẳng phải do người của phái Thiếu Lâm mở ra đó sao?

Trương Thúy Sơn nói:

– Môn đồ Thiếu Lâm ở khắp thiên hạ, đông ngàn vạn người, tay cô nương trúng ba mũi tiêu, không lẽ vì thế mà phải giết sạch môn hạ đệ tử của phái Thiếu Lâm?

Thiếu nữ cãi không lại, bỗng giơ tay phải vỗ một chưởng vào chỗ ba mũi Mai hoa tiêu trên cánh tay trái, cái vỗ đó khiến ba mũi tiêu ngập sâu vào thịt, thương thế càng nặng thêm.

Trương Thúy Sơn hoàn toàn không ngờ tâm tính nàng lại quái dị như thế, nghe một lời không vừa ý liền ra tay tàn hại chính cơ thể mình. Đối với bản thân nàng còn như vậy, thì việc nàng tùy tiện hạ độc thủ giết người đâu có gì lạ. Chàng định ngăn lại, nhưng không kịp, vội nói:

– Sao cô nương… tự hành hạ mình như vậy?

Chỉ thấy máu đen thấm ra tay áo nàng. Trương Thúy Sơn biết rằng lúc này vết thương đã rất nặng, nội lực của nàng không còn đủ sức ngăn máu độc chảy ngược lên, nếu không cứu chữa ngay chắc sẽ nguy đến tính mệnh, bèn đưa tay trái nắm lấy cánh tay trái của nàng, tay phải vén ống tay áo của nàng lên.

Bỗng sau lưng có người quát:

– Cuồng đồ không được vô lễ!

Nghe vù một tiếng, người ấy đã vung đao chém lưng chàng. Trương Thúy Sơn biết đó là gã lái thuyền, tình huống khẩn cấp, không kịp giải thích, chàng đá ngược một cú về phía sau, khiến hắn văng khỏi khoang thuyền.

Thiếu nữ nói:

– Tiểu muội không cần chàng cứu, tiểu muội tự mình muốn chết, đâu có liên quan đến chàng?

Nói đoạn nghe “bốp” một tiếng, thiếu nữ đã cho Trương Thúy Sơn một cái tát. Nàng xuất thủ quá nhanh, Trương Thúy Sơn không hề đề phòng, bị bất ngờ liền buông tay nàng ra. Thiếu nữ sầm mặt, nói:

– Trương ngũ hiệp lên bờ đi, tiểu muội không muốn thấy mặt chàng nữa!

Trương Thúy Sơn bị một cái tát của nàng, vừa xấu hổ vừa tức giận, nói:

– Được lắm! Tại hạ chưa từng gặp người nào vô lễ như cô nương!

Đoạn bước ra mũi thuyền. Thiếu nữ cười khẩy, nói:

– Chưa từng gặp thì bây giờ được gặp rồi đấy!

Trương Thúy Sơn cầm một tấm ván lên, tính ném xuống sông làm bàn đạp để lên bờ, nhưng chợt nghĩ lại: “Mình mà bỏ đi, thể nào nàng ta cũng mất mạng”, bèn nén giận trở vào khoang thuyền, nói:

– Cô nương đánh ta, ta cũng chẳng thèm chấp cái thứ lý sự khó nghe của cô nương. Hãy mau vén tay áo lên đi, cô nương có muốn sống hay không?

Thiếu nữ hậm hực nói:

– Tiểu muội muốn sống hay muốn chết thì liên quan gì Trương ngũ hiệp?

Trương Thúy Sơn nói:

– Cô nương vất vả đi ngàn dặm hộ tống Du tam ca của ta, ơn đó không thể không báo đáp.

Thiếu nữ cười nhạt nói:

– À, thì ra chẳng qua chàng thay mặt tam sư ca trả nợ thôi! Nếu tiểu muội không hộ tống tam sư ca của chàng, tiểu muội có bị thương nặng hơn thế này, chàng cũng thây kệ chứ gì?

Trương Thúy Sơn ngẩn ra, nói:

– Chưa hẳn như thế.

Chỉ thấy thiếu nữ co ro run rẩy, hẳn là chất độc đang lan đi, chàng vội nói:

– Mau vén áo lên nào, cô nương tính đùa bỡn với tính mệnh của mình hay sao?

Thiếu nữ nghiến răng đáp:

– Chàng không nhận sai, tiểu muội sẽ không chịu để chàng cứu đâu!

Sắc diện nàng vốn trắng trẻo, lúc này nàng vừa giận dỗi vừa sợ hãi, trông càng thêm phần đáng thương.

Trương Thúy Sơn thở dài:

– Thôi được, cứ coi như ta nói sai, cô nương giết người không sai.

Thiếu nữ nói:

– Không được, sai là sai, sao lại “coi như”?!!! Tại sao chàng thở dài rồi mới nhận sai, rõ ràng chưa thành tâm thành ý.

Trương Thúy Sơn nghĩ cứu người là cần kíp, giờ không phải lúc tranh cãi hơn thua với thiếu nữ, liền nói to:

– Hoàng thiên ở trên, giang thần ở dưới, tại hạ Trương Thúy Sơn hôm nay thành tâm thành ý… nhận với Ân… Ân…

Nói đến đó, chàng ngập ngừng; thiếu nữ tiếp lời:

– Ân Tố Tố.

Trương Thúy Sơn nói tiếp:

– Nhận với cô nương Ân Tố Tố là mình nói sai.

Ân Tố Tố cả mừng, nhoẻn miệng cười, nhưng chân nàng bỗng bủn rủn, lảo đảo ngồi phịch xuống ghế. Trương Thúy Sơn vội móc lọ thuốc trong bọc, lấy ra một viên Thiên tâm giải độc đơn cho nàng uống. Chàng vén tay áo nàng lên, thấy nửa cánh tay đã tím bầm, khí đen đang lan nhanh lên vai. Chàng dùng tay trái bóp chặt phía trên cánh tay của nàng lại, hỏi:

– Cô nương cảm thấy thế nào?

Ân Tố Tố nói:

– Tức ngực quá. Ai bảo chàng không chịu nhận sai sớm hơn? Tiểu muội có chết cũng do chàng hại đó!

Đến nước này, Trương Thúy Sơn chỉ đành dịu giọng an ủi:

– Cô nương cứ yên tâm. Đừng gắng gượng, hãy thả lỏng toàn thân, chớ vận khí, cứ làm như mình đang ngủ vậy.

Ân Tố Tố lườm chàng một cái, nói:

– Thì cứ coi như tiểu muội chết rồi đi.

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: “Lúc này mà cô nàng vẫn ương ngạnh điêu ác, mai kia ai lấy phải nàng ta chắc khổ cả đời”. Nghĩ đến đây, chàng bỗng thấy bồi hồi trong lòng, mặt nóng bừng, chỉ lo Ân Tố Tố đoán biết ý nghĩ của mình, bèn liếc trộm một cái, chỉ thấy nàng đỏ bừng hai má, đầy vẻ thẹn thùng, không biết đang nghĩ gì. Ánh mắt đôi bên gặp nhau, không hẹn mà cùng ngó sang phía khác.

Ân Tố Tố bỗng nhỏ nhẹ:

– Trương ngũ ca, tiểu muội nói năng thiếu ý tứ, lại đánh chàng nữa, chàng… chàng đừng giận muội nhé!

Trương Thúy Sơn thấy Ân Tố Tố bỗng đổi cách xưng hô, từ “Trương ngũ hiệp” sang “Trương ngũ ca” thì tim đập rộn ràng, bèn hít một hơi, thâu nhiếp tâm thần, một luồng khí ấm từ đan điền dâng lên, truyền ra hai tay, chàng nắm chặt lấy hai phía trên dưới vết thương ở cánh tay Tố Tố.

Lát sau, từ đỉnh đầu Trương Thúy Sơn có làn hơi trắng bốc lên, hiển nhiên chàng đã dốc toàn lực, mồ hôi đang bốc hơi. Ân Tố Tố cảm động, biết đây là lúc quan trọng nhất trong việc trị độc, sợ chàng phân tâm, bèn nhắm mắt lại không dám nói chuyện. Bỗng “phựt” một tiếng, một cây Mai hoa tiêu từ cánh tay nàng bắn ra, văng xa hơn trượng, rồi một vòi máu đen từ vết thương phun ra. Máu đen dần dần chuyển sang màu hồng, mũi hoa tiêu thứ hai cũng bị nội lực của Trương Thúy Sơn trục khỏi cánh tay nàng.

Lúc đó bỗng nghe trên mặt sông có tiếng gọi to:

– Ân cô nương có ở đó chăng? Chu Tước đàn chủ xin tham kiến.

Trương Thúy Sơn thấy hơi lạ, nhưng đang lúc vận lực gấp gáp, chàng không bận tâm. Người kia lại gọi to một lần nữa. Chỉ nghe gã lái thuyền này nói:

– Ở đây có một kẻ ác đang muốn hại Ân cô nương, Thường đàn chủ mau tới cứu!

Người ở thuyền bên kia quát lớn:

– Ác tặc không được vô lễ, ngươi chỉ cần động tới một sợi tóc của Ân cô nương, ngươi sẽ bị băm vằm ngàn nhát.

Giọng người kia như tiếng chuông, vang vọng trên mặt sông nghe thật uy mãnh.

Ân Tố Tố mở mắt ra nhìn Trương Thúy Sơn mỉm cười, tựa hồ muốn chàng lượng thứ cho sự hiểu lầm này. Mũi Mai hoa tiêu thứ ba bị nàng đập ngập sâu vào trong thịt, Trương Thúy Sơn vận lực đạo ba lần liên tiếp vẫn chưa đẩy được nó ra ngoài. Chỉ nghe tiếng mái chèo khua gấp, chiếc thuyền bên kia đã áp tới gần, Trương Thúy Sơn thấy thuyền hơi chòng chành, hẳn có người đã nhảy sang, chàng đang mải vận lực, chẳng để tâm tới.

Người kia tiến vào khoang thuyền, thấy Trương Thúy Sơn đang dùng hai tay nắm chặt cánh tay trái của Ân Tố Tố, không biết chàng đang vận lực trị thương, bèn cả giận giáng ngay một chưởng vào hậu tâm của Trương Thúy Sơn, miệng quát:

– Ác tặc còn chưa buông tay ra!

Trương Thúy Sơn không cách gì giơ tay chống đỡ, bèn hít một hơi, phơi lưng cho hắn đánh một chưởng, chỉ nghe “hự” một tiếng, chưởng lực cực mạnh kia đã giáng ngay giữa lưng chàng. Trương Thúy Sơn nắm vững tinh yếu nội công của phái Võ Đang, toàn thân bất động, mượn lực dẫn chưởng lực trầm trọng kia ra lòng bàn tay, chỉ nghe “phựt” một tiếng, mũi Mai hoa tiêu thứ ba từ cánh tay Ân Tố Tố bật ra, cắm vào ván thuyền, dư lực còn mạnh nên rung rung hồi lâu.

Kẻ phát chưởng giáng tiếp chưởng thứ hai, nhưng thấy thế vội thu tay về, nói:

– Ân cô nương, cô nương… không bị thương chứ?

Chỉ thấy máu đen từ vết thương phun ra. Người ấy là đại hành gia trên chốn giang hồ, biết mình vừa đánh lầm người, trong lòng cảm thấy rất áy náy, nghĩ thầm chưởng vừa rồi của mình có kình lực đánh vỡ bia đá, không khéo nội tạng của chàng trai này bị chấn thương hết cả, chỉ e tính mạng khó toàn, hắn vội vàng mở bọc lấy thuốc trị thương đưa cho Trương Thúy Sơn uống.

Trương Thúy Sơn lắc đầu, thấy máu từ vết thương của Ân Tố Tố đã chuyển thành màu đỏ, mới buông tay ra, ngoảnh lại nói với người kia:

– Chưởng vừa rồi của các hạ, lực đạo quả không nhỏ.

Người kia sửng sốt, nghĩ thầm rằng một chưởng của hắn đã đánh chết không biết bao nhiêu hảo thủ đã thành danh trong võ lâm, chàng thiếu niên này không né tránh, lãnh trọn một chưởng, mà vẫn điềm nhiên như không. Hắn nói:

– Ngươi… ngươi…

Vừa quan sát sắc diện, vừa giơ tay xem mạch cho chàng. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: “Mình phải đùa y cho biết”, bèn ngầm vận nội kình, cho phúc mạc nâng lên khiến tim ngừng đập trong giây lát. Người kia bắt mạch cổ tay, thấy khí đã tuyệt thì càng sợ hãi.

Trương Thúy Sơn nhận chiếc khăn tay Ân Tố Tố đưa, buộc vào vết thương cho nàng, nói:

– Chất độc đã theo máu ra hết, cô nương chỉ cần uống thuốc giải độc thông thường là xong.

Ân Tố Tố nói:

– Đa tạ.

Rồi quay sang người kia, nghiêm mặt, nói:

– Thường đàn chủ không được vô lễ, đây là Trương ngũ hiệp của phái Võ Đang.

Người kia lùi một bước, cúi mình thi lễ, nói:

– Hóa ra là Trương ngũ hiệp trong Võ Đang thất hiệp, thảo nào nội công thâm hậu như thế, tiểu nhân Thường Kim Bằng mạo phạm quá nhiều, mong Trương ngũ hiệp đừng trách cứ.

Trương Thúy Sơn thấy người kia tuổi trạc ngũ tuần, mặt mũi và hai tay bắp thịt cuồn cuộn từng múi, bèn đứng dậy đáp lễ.

Thường Kim Bằng thi lễ xong với Trương Thúy Sơn thì quay sang cung kính thi lễ với Ân Tố Tố. Ân Tố Tố chỉ lặng lẽ gật đầu. Trương Thúy Sơn hơi lạ, lại nghe Thường Kim Bằng nói:

– Huyền Vũ đàn Bạch đàn chủ có ước hẹn với nhân vật các phái Hải Sa, bang Cự Kình, môn phái Thần Quyền, sáng sớm ngày mai tương hội tại Vương Bàn sơn đảo ở cửa sông Tiền Đường để giương đao lập uy. Cô nương không được khỏe, để tiểu nhân hộ tống cô nương về phủ Lâm An. Việc trên Vương Bàn sơn đảo, do một mình Bạch đàn chủ lo liệu cũng dư sức.

Ân Tố Tố hừ một tiếng, nói:

– Phái Hải Sa, bang Cự Kình, môn phái Thần Quyền, được… Thế chưởng môn của phái Thần Quyền là Quá Tam Quyền cũng tới chứ?

Thường Kim Bằng đáp:

– Nghe đâu y sẽ dẫn mười hai đệ tử hảo thủ của phái Thần Quyền đến Vương Bàn sơn đảo phó hội.

Ân Tố Tố cười khẩy:

– Quá Tam Quyền tuy có địa vị cao, nhưng chịu chẳng nổi một đòn của Bạch đàn chủ. Còn có cao thủ nào nữa không?

Thường Kim Bằng ngập ngừng một lát, rồi nói:

– Nghe đâu phái Côn Luân có hai kiếm khách trẻ tuổi cũng đến phó hội, nói là muốn được thấy Đồ…

Đồ…

Nói tới đây, hắn liếc Trương Thúy Sơn một cái, không nói nữa. Ân Tố Tố lạnh lùng nói:

– Bọn họ cũng muốn xem thanh đao Đồ Long ư? Chỉ e thấy rồi lại nổi lòng…

Trương Thúy Sơn nghe đến bốn tiếng “thanh đao Đồ Long” thì giật mình, chỉ thấy Ân Tố Tố nói:

– Hừ, người của phái Côn Luân, không thể coi thường. Vết thương trên tay ta không đáng ngại, vậy chúng ta phải tới xem trò nhiệt náo ấy mới được, không chừng cũng giúp được Bạch đàn chủ một tay.

Đoạn nàng quay sang nói với Trương Thúy Sơn:

– Trương ngũ hiệp, hai ta tạm biệt ở đây thôi, muội sẽ đi thuyền của Thường đàn chủ, chàng hãy đáp thuyền này về phủ Lâm An. Phái Võ Đang của chàng không nên dính vào chuyện ngày mai.

Trương Thúy Sơn nói:

– Tam sư ca của tại hạ bị thương dường như có liên quan tới thanh đao Đồ Long, sự việc ra sao, mong cô nương cho biết.

Ân Tố Tố đáp:

– Những tình tiết và uẩn khúc của việc đó, muội cũng không biết rõ lắm, sau này chàng hỏi chính tam sư ca thì hơn!

Trương Thúy Sơn thấy Ân Tố Tố không chịu nói, biết có hỏi nữa cũng vô ích, nghĩ thầm: “Kẻ tàn hại tam ca của ta cốt nhắm đến thanh đao Đồ Long. Thường Kim Bằng nói rằng họ sẽ giương đao lập uy tại Vương Bàn sơn đảo, tựa hồ thanh đao Đồ Long đang ở trong tay họ. Sáu tên ác tặc kia nghe tin thể nào cũng tới phó hội”, bèn nói:

– Tên đạo sĩ phóng ba mũi Mai hoa tiêu nọ, cô nương bảo liệu hắn có tới Vương Bàn sơn đảo hay chăng?

Ân Tố Tố mỉm cười không đáp, chỉ nói:

– Nếu Trương ngũ hiệp tính đi xem trò vui, vậy chúng ta cùng đi.

Đoạn quay sang nói với Thường Kim Bằng:

– Thường đàn chủ, thuyền của ngươi hãy đi trước dẫn đường!

Thường Kim Bằng đáp:

– Tuân lệnh!

Đoạn cúi người đi lùi ra khỏi khoang thuyền, vẻ cung kính như đầy tớ đối với chủ. Ân Tố Tố chỉ gật đầu. Trương Thúy Sơn nể chút võ công của hắn nên đứng dậy tiễn ra ngoài khoang.

Ân Tố Tố thấy trường bào của chàng bị Thường Kim Bằng đánh rách một mảng, chờ lúc chàng trở vào trong khoang, bèn nói:

– Chàng hãy cởi trường bào ra, để muội vá lại cho.

Trương Thúy Sơn nói:

– Không cần đâu!

Ân Tố Tố nói:

– Chàng sợ muội khâu vá vụng về ư?

Trương Thúy Sơn nói:

– Đâu dám.

Nói xong hai tiếng đó, chàng im lặng nghĩ đến việc tối hôm qua Ân Tố Tố ra tay giết hại liền một lúc mấy chục mạng người già trẻ lớn bé trong tiêu cục Long Môn; hung thủ đại gian đại ác như thế, đáng lý chàng phải xuất thủ diệt trừ, đằng này chàng chẳng những ngồi cùng thuyền, mà còn trị thương cho nàng ta, tuy nói là báo đáp cái ơn đã hộ tống sư huynh, song dẫu sao cũng là thiện ác bất minh, lúc nào xong việc ở Vương Bàn sơn, mình sẽ lập tức chia tay, quyết không tái ngộ với nàng ta nữa.

Ân Tố Tố thấy vẻ mặt khó coi của Thúy Sơn, đoán biết ý nghĩ của chàng, bèn lạnh lùng nói:

– Không chỉ Đô Đại Cẩm và hai tiêu đầu Chúc, Sử; không chỉ gia môn tiêu cục Long Môn và hai hòa thượng Thiếu Lâm tự, mà cả Tuệ Phong cũng do muội giết đó!

Trương Thúy Sơn nói:

– Tại hạ cũng nghi cô nương từ sớm, có điều chưa hiểu cô nương giết y bằng cách nào.

Ân Tố Tố nói:

– Đâu có gì lạ? Muội ngâm mình dưới hồ, nghe các vị đấu khẩu với nhau. Gã Tuệ Phong bỗng phát hiện hai ta tướng mạo khác nhau, đang định nói ra, muội liền phóng một mũi ngân châm vào miệng gã. Chàng cứ đi tìm tung tích muội ở trên đường, trong lùm cây, thì thấy sao được?

Trương Thúy Sơn nói:

– Hèn chi phái Thiếu Lâm cứ một mực bảo rằng tại hạ là hung thủ. Ân cô nương, cô nương thật quá ư thông minh, quá ư thủ đoạn!

Câu sau cùng chàng nói bằng giọng đầy tức tối. Ân Tố Tố giả bộ không hiểu, đứng dậy nói:

– Không dám, Trương ngũ hiệp quá khen!

Trương Thúy Sơn hết chịu nổi, xẵng giọng:

– Họ Trương ta không thù không oán với cô nương, sao cô nương lại cố công hãm hại ta chứ?

Ân Tố Tố mỉm cười nói:

– Muội cũng không muốn hãm hại chàng đâu, chẳng qua Thiếu Lâm và Võ Đang hiệu xưng là hai đại tông phái võ học đương thế, muội muốn hai phái các vị đánh nhau một phen, xem bên nào mạnh bên nào yếu.

Trương Thúy Sơn quá kinh hãi, lửa giận nguôi hẳn, nhưng trong lòng thấy cần phải hết sức đề phòng thiếu nữ đáng gờm này: “Thì ra nàng ta không chỉ hãm hại riêng ta, mà còn có đại gian mưu khác. Nếu phái Võ Đang ta với phái Thiếu Lâm đánh nhau thật, tất sẽ lưỡng bại câu thương, thành một đại kiếp nạn trong võ lâm mất thôi”.

Ân Tố Tố mở chiếc quạt ra phe phẩy, thần sắc thản nhiên, nói:

– Trương ngũ hiệp, chàng có thể cho muội thưởng thức thư họa trên chiếc quạt của chàng được chăng?

Trương Thúy Sơn chưa kịp đáp, bỗng nghe có người ở thuyền của Thường Kim Bằng lớn tiếng hỏi:

– Có phải thuyền của bang Cự Kình đó không? Vị nào ở thuyền đó vậy?

Trên mặt sông phía bên hữu có tiếng đáp:

– Thiếu bang chủ bang Cự Kình đến Vương Bàn sơn đảo phó hội đây!

Người trên thuyền của Thường Kim Bằng nói:

– Tại đây có Ân cô nương và Thường đàn chủ Chu Tước đàn của Thiên Ưng giáo, lại có quý khách danh môn. Quý thuyền hãy lùi lại nhường đường đi! Người trên thuyền ở bên hữu đáp, giọng thô lỗ:

– Nếu là giáo chủ quý giáo giá lâm, bọn này sẽ nhường, người khác thì đừng hòng.

Trương Thúy Sơn trong lòng chợt động, nghĩ thầm: “Thiên Ưng giáo là tà giáo nào mà mình chưa hề nghe qua thế nhỉ? Xem thanh thế và lực lượng của họ thì chẳng phải nhỏ. Chắc giáo phái này nổi lên chưa lâu, mình lại ít xuống vùng Giang Nam, không biết họ là phải. Bang Cự Kình thì nghe tiếng đã lâu, là một bọn chẳng tử tế gì”. Chàng mở cửa sổ khoang thuyền, nhìn ra thấy ở mé bên phải có một chiếc thuyền đóng thành hình một con cá kình, mũi thuyền lấp lánh bạch quang, có mấy chục cây đao sắp thành hàm răng con cá kình, thân thuyền cong cong, đuôi vểnh lên y như cá. Chiếc thuyền đó buồm lớn, thân nhẹ, lướt nhanh hơn hẳn thuyền của Thường Kim Bằng.

Thường Kim Bằng đứng ở mũi thuyền, gọi to:

– Mạch thiếu bang chủ, Ân cô nương đang ở đây, bộ ngươi không nể mặt chút nào ư?

Từ trong khoang thuyền của bang Cự Kình bước ra một hoàng y thiếu niên, y cười khẩy, nói:

– Ở trên bộ thì Thiên Ưng giáo các vị là hơn, nhưng trên mặt nước thì phải là bang Cự Kình của bọn này chứ? Làm sao có thể nhường các vị đi trước?

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: “Mặt sông rộng nhường này, vài trăm chiếc thuyền cùng đi cũng được, hà tất đòi họ phải nhường đường, Thiên Ưng giáo này kể cũng ngang ngược thật”.

Lúc này thuyền của bang Cự Kình lại giương thêm một chiếc buồm, nên lướt càng nhanh. Hai thuyền cách nhau xa dần, thuyền này chẳng cách gì theo kịp. Thường Kim Bằng hừ một tiếng, nói:

– Bang Cự Kình… thanh đao Đồ Long… đúng… thanh đao Đồ Long…

Sông rộng, gió mạnh, sóng cao, hai thuyền cách nhau lại xa, chẳng hiểu Thường Kim Bằng nói những gì.

Mạch thiếu bang chủ nghe mấy tiếng “thanh đao Đồ Long”, nghĩ là chuyện hệ trọng, bèn lệnh cho thủy thủ quay thuyền trở lại, mỗi lúc một gần thuyền của Thường Kim Bằng, cao giọng hỏi:

– Vừa nãy Thường đàn chủ nói gì vậy?

Thường Kim Bằng nói:

– Mạch thiếu bang chủ… Bạch đàn chủ của Huyền Vũ đàn chúng tôi… thanh đao Đồ Long ấy…

Trương Thúy Sơn cảm thấy hơi kỳ “Sao hắn cứ nói lấp lấp lửng lửng vậy nhỉ?”

Chỉ thấy thuyền của bang Cự Kình đã tới gần, chỉ còn cách vài trượng, nghe “vù” một tiếng, Thường Kim Bằng đã cầm cây neo lớn ở mũi thuyền quăng mạnh sang phía thuyền bên kia, tiếng xích sắt loảng xoảng, hai tên thủy thủ bên đó rú lên thảm thiết, cây neo đã ngoắc vào thuyền của bang Cự Kình.

Mạch thiếu bang chủ quát:

– Ngươi làm gì thế?

Thường Kim Bằng tay chân thật nhanh nhẹn, nhấc luôn cây neo thứ hai quăng sang. Hai cây neo đã đánh chết ba thủy thủ thuyền đối phương, đồng thời móc chùm hai chiếc thuyền lại với nhau. Mạch thiếu bang chủ vội chạy ra mạn thuyền để gỡ cây neo. Thường Kim Bằng vung tay phải, tiếng xích leng keng, một trái dưa hấu to tướng màu xanh bay đi, rồi “bình” một tiếng, giáng trúng cột buồm cái của thuyền bang Cự Kình. Lúc này Trương Thúy Sơn mới biết trái dưa hấu lớn kia là binh khí thường dùng của Thường Kim Bằng, nó được đúc bằng sắt, vỏ sơn màu xanh sọc đen, có hai trái như thế, sử dụng như chùy lưu tinh, chỉ khác là mỗi trái dưa này nặng đến dăm sáu chục cân, cánh tay phải cực khỏe mới đủ sức nhấc lên.

Trái dưa sắt bên tay phải giáng trúng đích, cột buồm cái của thuyền bang Cự Kình kêu răng rắc. Thường Kim Bằng thu hồi vũ khí bên tay phải, lại vung trái dưa bên tay trái đánh sang, đến lần thứ ba thì cột buồm bên kia gãy gục. Bọn hải tặc trên thuyền bang Cự Kình kêu la om sòm. Thường Kim Bằng quăng hai trái dưa cùng một lúc, nhắm đánh vào cột buồm phụ phía sau, một đòn gãy liền.

Lúc đó hai thuyền cách nhau hơn hai trượng, Mạch thiếu bang chủ đành trơ mắt nhìn hai cột buồm lần lượt bị đánh gãy, chẳng thể làm gì, chỉ biết chửi bới ầm ĩ.

Thường Kim Bằng quát:

– Có Thiên Ưng giáo ở đây, ở dưới nước cũng chẳng có chỗ cho bang Cự Kình các ngươi xưng hùng!

Tay phải lại vung trái dưa sang, lần này đánh vào mạn thuyền bang Cự Kình, “bình” một tiếng, mạn thuyền vỡ ra một mảng lớn, nước tràn vào trong, bọn thủy thủ kêu la nhớn nhác.

Mạch thiếu bang chủ cầm chiếc “Phân thủy Nga Mi thích” nhún chân tung mình nhảy sang mũi thuyền của Thường Kim Bằng. Thường Kim Bằng chờ lúc y nhảy lên vị trí cao nhất liền văng trái dưa bên tay trái lên đánh thẳng vào mặt hắn; chiêu này rất hiểm, khi trái dưa sắt bay đến là lúc tên kia đang lơ lửng trên không, lực nhảy sắp suy, khó bề né tránh. Mạch thiếu bang chủ kêu Ối cha!” vội dùng “Nga Mi thích” điểm vào trái dưa, muốn mượn lực bay trở lại, cảm thấy tức ngực ngộp thở, mắt tối sầm, lộn người trở ngược về thuyền mình.

Hai trái dưa của Thường Kim Bằng thay nhau tung ra thu vào, trong giây lát chiếc thuyền của bang Cự Kình đã bị đánh thủng bảy tám lỗ lớn. Thường Kim Bằng nắm dây neo, vận kình kéo mạnh. “Xoạch xoạch” hai tiếng, mạn thuyền kia bị toạc ván, hai cây neo được kéo về thuyền bên này.

Thủy thủ trên thuyền của Thiên Ưng giáo không đợi đàn chủ phân phó, liền giương buồm bẻ lái cho thuyền lướt thẳng lên phía trước.

Trương Thúy Sơn thấy Thường Kim Bằng đánh phá thuyền địch uy mãnh như thế, thầm kinh hãi: “Mình mà không được ân sư truyền thụ phép mượn lực ngự lực, thì một chưởng ‘Cự linh thần chưởng’ của hắn giáng vào giữa lưng mình chịu sao nổi. Tên này trong giây lát biết dụ địch phá địch, chẳng những võ công đáng gờm mà còn nham hiểm tàn ác, tâm kế đa đoan, quả là một nhân vật vô cùng lợi hại trong tà giáo”. Nhìn lại Ân Tố Tố, chỉ thấy nàng thần sắc thản nhiên, tựa hồ những chuyện thế này là chuyện thường ngày, chẳng đáng bận tâm.

Nghe có tiếng sấm ì ầm xa xa, ấy là thủy triều ban đêm trên sông Tiền Đường sắp tới. Bang chúng của bang Cự Kình tuy ai nấy thông thạo thủy tính, nhưng lúc này đang ở chỗ sông biển giao nhau, mặt nước rộng tới vài chục dặm, cách xa hai bờ nam bắc. Nghe thấy tiếng thủy triều sắp tràn tới, bang chúng bang Cự Kình không khỏi hoảng sợ kêu cứu ầm ỹ.

Hai chiếc thuyền của Thường Kim Bằng và Ân Tố Tố cứ thế lướt về phía đông, chẳng thèm để ý đến bọn kia.

Trương Thúy Sơn thò đầu ra ngoài, nhìn về phía sau, thấy chiếc thuyền của bang Cự Kình đã chìm non nửa dưới nước, khi thủy triều tràn tới ắt sẽ bị đánh vỡ tan. Nghe tiếng kêu cứu thảm thiết, chàng cầm lòng không đậu; nhưng thừa biết Ân Tố Tố và Thường Kim Bằng là hạng người tàn ác, dù có bảo họ dừng thuyền cứu hộ, họ cũng cự tuyệt, chỉ khiến mình thêm bực bội, nên chàng đành ngồi im không nói gì.

Ân Tố Tố nhìn thần sắc của chàng, mỉm cười, gọi to:

– Thường đàn chủ, quý khách Trương ngũ hiệp của chúng ta đại phát từ bi, người hãy mau cứu vớt bang chúng bang Cự Kình!

Điều này thật bất ngờ đối với Trương Thúy Sơn, chỉ nghe Thường Kim Bằng ở chiếc thuyền đằng trước đáp:

– Xin tuân lệnh quý khách!

Đoạn chiếc thuyền nghiêng qua, quay về phía ngược dòng. Thường Kim Bằng lớn tiếng nói:

– Bang chúng bang Cự Kình nghe đây, Trương ngũ hiệp của phái Võ Đang cứu mạng các ngươi đó, kẻ nào muốn sống mau bơi xuống đây!

Bang chúng liền thuận dòng bơi xuống, thuyền của Thường Kim Bằng chạy ngược lên, chặn đầu thủy triều, vớt Mạch thiếu bang chủ và tám chín phần bang chúng lên thuyền, song vẫn còn ngót chục thủy thủ bị táng mạng trong sóng gió.

Trương Thúy Sơn như được an ủi, vui vẻ nói:

– Đa tạ cô nương!

Ân Tố Tố lạnh lùng nói:

– Bang Cự Kình giết người như ngoé, bọn chúng tên nào tay cũng dính máu, chàng cứu chúng làm gì kia chứ?

Trương Thúy Sơn ngẩn ra, không biết nói sao. Bang Cự Kình lừng danh tàn ác, là một trong tứ đại ác bang trên sông nước, chàng từng nghe danh, chẳng biết sao hôm nay lại cứu mạng chúng. Ân Tố Tố nói:

– Không vớt chúng lên thuyền, Trương ngũ hiệp lại rủa thầm muội là kẻ tâm địa tàn ác như độc xà, lại hối hận đã trị thương cho muội!

Câu này nói trúng tâm sự của Trương Thúy Sơn, khiến chàng đỏ mặt, đành cười gượng:

– Cô nương miệng lưỡi sắc sảo, tại hạ đối đáp chẳng lại. Cứu người là cô nương tích công đức cho cô nương, chứ liên can gì tại hạ.

Lúc đó thủy triều ầm ầm như sấm động váng cả tai, chiếc thuyền Ân Tố Tố và Trương Thúy Sơn đang đi cứ bị dồi lên giáng xuống, mọi lời nói đều bị tiếng sóng át đi. Trương Thúy Sơn nhìn qua cửa sổ, thấy sóng cao như bức tường trong suốt, bang chúng bang Cự Kình mà không được vớt từ sớm thì lúc này đã bị sóng cuốn vùi rồi.

Ân Tố Tố đi ra khoang sau, đóng cửa lại, lúc trở ra đã đổi sang y phục thiếu nữ. Nàng dùng tay ra hiệu Trương Thúy Sơn cởi trường bào. Chàng không tiện từ chối nữa, đành cởi áo ra. Cứ ngỡ Ân Tố Tố sẽ vá chỗ rách trên trường bào cho chàng, nào ngờ nàng đưa cho chàng cái trường bào mà nàng vừa thay, bảo chàng mặc vào, còn cái áo rách thì nàng đem cất vào khoang sau.

Trương Thúy Sơn trên mình chỉ còn chiếc áo ngắn, đành mặc cái trường bào giả trai của Ân Tố Tố. Cái áo ấy vốn rộng rãi, Trương Thúy Sơn tuy cao lớn hơn nàng nhiều, song chàng mặc cũng không đến nỗi quá chật; một mùi hương dễ chịu đưa lên mũi, chàng cảm thấy lâng lâng, không dám nhìn nàng, chỉ nghiêm trang ngồi giả bộ thưởng thức thư họa trên vách thuyền. Nhưng tâm sự của chàng giống như nước triều đưa con thuyền trồi lên hụp xuống, chứ đâu có nhìn thấy thư họa gì. Ân Tố Tố cũng không nói chuyện với chàng.

Bỗng có một đợt sóng lớn ập tới, con thuyền chao nghiêng, đèn nến tắt ngấm. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: “Trong khoang thuyền tối om chỉ có mình và Ân Tố Tố, tuy mình không làm gì mờ ám, nhưng có thể hại cho thanh danh của nàng”, chàng bèn đẩy cửa khoang sau, đi ra xem người lái đang vững vàng tay lái điều khiển con thuyền vượt lên sóng dữ.

Hơn nửa canh giờ sau, nước thủy triều rút trở ra biển, thuận gió xuôi dòng, thuyền chạy càng nhanh, sáng sớm hôm sau đã tới gần Vương Bàn sơn đảo.

Vương Bàn sơn đảo là một hoang đảo nhỏ ở cửa sông Tiền Đường, trên biển Đông. Đảo này đá núi lởm chởm, không có người ở. Hai chiếc thuyền tiến gần phía nam đảo, còn cách vài dặm đã nghe có tiếng tù và thổi vang trên đảo, hai người đứng trên bờ vẫy hai ngọn cờ lớn làm hiệu. Thuyền từ từ tiến vào, thấy hai lá cờ đều thêu một con chim ưng lớn dang rộng đôi cánh, trông thật uy vũ.

Đứng giữa hai lá cờ là một lão già. Lão lớn tiếng nói:

– Huyền Vũ đàn Bạch Quy Thọ cung nghênh Ân cô nương.

Giọng y chậm và dài, thanh âm quyện vào nhau, tuy không vang động nhưng khí lực hùng hậu. Thuyền cập bến, Bạch Quy Thọ đích thân bắc ván làm cầu cho khách lên bờ. Ân Tố Tố mời Trương Thúy Sơn đi trước, sau khi lên bờ mới đưa chàng lại giới thiệu với Bạch Quy Thọ.

Bạch Quy Thọ thấy Ân Tố Tố hết sức kính nể Trương Thúy Sơn, lại nghe chàng là Trương ngũ hiệp trong Võ Đang thất hiệp thì chột dạ, nói:

– Nghe thanh danh Võ Đang thất hiệp từ lâu, hôm nay được gặp, thực là đại vinh hạnh.

Trương Thúy Sơn khiêm tốn đáp lại vài câu.

Ân Tố Tố cười:

– Hai vị nói năng giữ kẽ, nghe chẳng thoải mái chút nào. Một vị thì nghĩ thầm: “Nguy rồi, người của phái Võ Đang cũng tới, thêm một nhân vật lợi hại giành giật thanh đao Đồ Long”. Vị kia thì nghĩ thầm: “Lão thuộc loại tà giáo tả đạo, ta đâu thèm kết giao với ngươi”. Bổn cô nương ta muốn hai vị cứ thích sao nói vậy, đừng nghĩ một đằng nói một nẻo.

Bạch Quy Thọ cười ha hả. Trương Thúy Sơn thì nói:

– Không dám! Bạch đàn chủ võ công tinh thâm, tại hạ được nghe công phu “Cách hải truyền thanh” của các hạ, trong lòng khâm phục bội phần. Tại hạ theo Ân cô nương tới đây xem trò vui, không hề có ý nhòm ngó thanh đao Đồ Long.

Ân Tố Tố nghe Trương Thúy Sơn nói vậy thì rất vui mừng, mặt tươi như hoa. Bạch Quy Thọ biết Ân Tố Tố mặt lạnh lùng, dạ lang sói, lâu nay chẳng tử tế với ai, nay đối với Trương Thúy Sơn quả nhiên khác hẳn thì đoán rằng nàng coi trọng nam tử lắm, lại nghe chàng tán tụng nội công của lão, nên lão hết coi chàng là thù địch, nói:

– Ân cô nương, một số nhân vật của phái Hải Sa, bang Cự Kình, môn phái Thần Quyền đã tới rồi, còn có hai kiếm khách trẻ tuổi của phái Côn Luân. Hai tên tiểu tử ấy đầy vẻ vênh váo, phách lối, đâu được như Trương ngũ hiệp danh vang thiên hạ mà vẫn khiêm nhường. Đủ biết có một phần bản lĩnh rồi, rất cần có một phần tu dưỡng…

Lão nói tới đó, thì bỗng nghe có tiếng người quát từ phía núi đằng sau:

– Lén lén lút lút phỉ báng sau lưng người khác, là cái thói gì chứ?

Tiếng nói dứt, có hai người đi ra, cả hai đều mặc trường bào màu xanh lưng đeo chéo một thanh trường kiếm, tuổi ngót tam tuần, vẻ mặt vênh vênh như muốn gây sự.

Bạch Quy Thọ cười, nói:

– Vừa nhắc Tào Tháo thì Tào Tháo đến liền. Lại đây, lại đây nào, tại hạ sẽ giới thiệu các vị với nhau!

Hai kiếm khách của phái Côn Luân đang định sinh sự, bỗng nhiên thấy dung quang diễm lệ phi phàm của Ân Tố Tố liền bất giác cùng động lòng, một gã cứ nhìn nàng chằm chằm không chớp mắt, gã kia thì quay mặt đi rồi chốc chốc lại liếc trộm nàng.

Bạch Quy Thọ chỉ gã đang ngây người nhìn Ân Tố Tố, nói:

– Đây là Cao đại kiếm khách Cao Tắc Thành.

Đoạn chỉ gã thứ hai, nói:

– Vị này là Tưởng đại kiếm khách Tưởng Đào. Hai vị đều là cao thủ võ học của phái Côn Luân. Phái Côn Luân uy chấn Tây Vực, võ học có những môn bí truyền. Hai vị Cao, Tưởng đây lại là nhân vật kỳ tài, siêu quần của phái Côn Luân. Lần đầu đến Trung nguyên này, hẳn hai vị sẽ đại hiển tài nghệ để mở mắt cho mọi người.

Mấy câu trên hàm ý mỉa mai, Trương Thúy Sơn cứ tưởng hai gã kiếm khách nếu không tức thời động võ, hẳn cũng đấu khẩu vài câu, nào ngờ cả hai gã Cao Tưởng chỉ ậm à ậm ừ, tựa hồ chẳng nghe gì cả; lúc chàng ngó lại thần sắc của hai gã, thì chợt hiểu, vừa nhìn thấy Ân Tố Tố, một gã cứ đờ đẫn như kẻ mất hồn, một gã len lén nhìn trộm nàng, cả hai cùng như si như ngốc. Trương Thúy Sơn cười thầm: “Phái Côn Luân nổi danh thiên hạ, hiệu xưng kiếm thuật thông thần, ai ngờ đệ tử của họ lại thiếu tư cách đến thế”.

Bạch Quy Thọ nói tiếp:

– Vị này là Trương Thúy Sơn Trương tướng công thuộc phái Võ Đang, vị này là Ân Tố Tố Ân cô nương, vị này là Thường đàn chủ Thường Kim Bằng của bổn giáo.

Lão giới thiệu tính danh ba người một cách sơ lược, không màu mè, đối với Trương Thúy Sơn, lão gọi là Trương tướng công chứ không hề nhắc đến ba chữ “Trương ngũ hiệp”, chứng tỏ lão coi chàng là người rất thân cận.

Ân Tố Tố mừng rỡ trong lòng, đưa mắt nhìn lướt qua mặt chàng, làn thu ba lóng lánh, lúm đồng tiền hơi lộ.

Cao Tắc Thành thấy Ân Tố Tố tỏ ra thân mật với Trương Thúy Sơn thì không hiểu sao hậm hực, trừng mắt nhìn đối phương một cái, giọng lạnh lùng nói:

– Tưởng sư đệ, ở Tây Vực hình như chúng ta cũng có nghe nói phái Võ Đang cũng là danh môn chính phái trong võ lâm Trung nguyên thì phải?!

Tưởng Đào nói:

– Không sai, hình như có nghe qua.

Cao Tắc Thành nói:

– Quả nhiên tai nghe không bằng mắt thấy, chỉ nghe đồn thật khó mà tin.

Tưởng Đào nói:

– Vậy ư? Giang hồ thiếu gì tin đồn, mười điều chỉ đáng tin một thôi. Cao sư ca bảo phái Võ Đang làm sao?

Cao Tắc Thành nói:

– Đệ tử danh môn chính phái, sao lại đi đàn đúm với bọn tà giáo, như thế khác gì tự hạ thấp mình?

Hai gã kẻ xướng người họa, cứ nhắm Trương Thúy Sơn châm chọc; chúng không biết Ân Tố Tố cũng là nhân vật trong Thiên Ưng giáo, hai chữ “tà giáo” của chúng là chỉ hai lão Bạch, Thường.

Trương Thúy Sơn nghe hai gã nói năng vô lễ như thế, đã giận lắm, nhưng chợt nghĩ mình tới Vương Bàn sơn đảo chuyến này là nhằm điều tra hung thủ hãm hại Du tam ca; hai tên đệ tử phái Côn Luân kia tuy hơn tuổi chàng, nhưng chỉ là bọn vô danh, mới “ra khỏi lều tranh”, không cần hạ mình tranh biện với chúng, huống hồ Thiên Ưng giáo hành sự quả thực tà ác, cứ xem Ân Tố Tố cùng Thường Kim Bằng giết người như ngóe thì biết, mình không thể nào gắn bó với họ; thế nên chàng mỉm cười nói:

– Tại hạ với các vị Thiên Ưng giáo cũng mới quen, chẳng khác gì hai vị nhân huynh đây.

Câu nói của chàng, ai nghe cũng bị bất ngờ. Bạch, Thường hai đàn chủ cứ ngỡ Ân Tố Tố với chàng là chỗ thâm giao, ai ngờ chỉ mới quen. Ân Tố Tố thì trong bụng giận lắm, biết Trương Thúy Sơn nói như thế là có ý coi Thiên Ưng giáo chẳng ra gì. Hai gã Cao Tưởng thì nhìn nhau cười nhạt, nghĩ thầm: “Tên tiểu tử này là đồ bị thịt, mới nghe danh phái Côn Luân đã sợ huynh đệ ta rồi”.

Bạch Quy Thọ nói:

– Các vị quý khách đã tề tựu, chỉ còn thiếu Mạch thiếu bang chủ của bang Cự Kình, chúng ta khỏi cần chờ y. Bây giờ các vị tùy ý ngao du, chính Ngọ xin mời tới sơn cốc đằng kia uống rượu xem đao.

Thường Kim Bằng cười nói:

– Thuyền của Mạch thiếu bang chủ bị đắm, Trương tướng công ra lệnh cứu y, hiện giờ y đang ở dưới thuyền, đợi lúc đó mời y phó yến cũng được.

Trương Thúy Sơn thấy hai vị đàn chủ Bạch, Thường đối với chàng quá cung kính, Ân Tố Tố thì đầu mày cuối mắt cứ đắm đuối nhìn mình, chàng nghĩ phải làm sao xa lánh bọn này, bèn nói:

– Tại hạ muốn đi loanh quanh một mình, mong các vị cứ tự nhiên.

Cũng không đợi ai hồi đáp, chàng giơ tay lên ra hiệu, rồi đi về phía cánh rừng ở mé đông.

*

*   *

Vương Bàn sơn là một đảo nhỏ, đá núi và thảo mộc chẳng có gì đáng ngắm. Ở góc đông nam có một cái vịnh, thấy lô xô cột buồm, đậu mươi chiếc thuyền lớn, chắc là của phái Hải Sa và bang Cự Kình. Trương Thúy Sơn thả bộ trên bờ biển. Chàng hết sức bất mãn về hành vi giết người tàn bạo của Ân Tố Tố, nhưng lạ thay, ý nghĩ về nàng cứ luôn lởn vởn trong tâm trí: “Ân cô nương có địa vị cực kỳ tôn quý trong Thiên Ưng giáo, hai lão Bạch, Thường đàn chủ đối với nàng ta cung kính cứ như với một nàng công chúa, nhưng rõ ràng nàng ta không phải giáo chủ, thế nghĩa là sao?” Lại nghĩ thầm: “Thiên Ưng giáo muốn giương đao lập uy trên đảo này, trong khi phái Hải Sa, Thần Quyền môn và bang Cự Kình đều do các thủ lĩnh phó hội, Thiên Ưng giáo chỉ phái hai vị đàn chủ chủ trì, tức không hề coi trọng các đối thủ. Xem ra Bạch đàn chủ của Huyền Vũ đàn có võ công cao hơn Thường đàn chủ của Chu Tước đàn. Thiên Ưng giáo đã trở thành mối lo cực lớn trong võ lâm; hôm nay mình cần dò xét cho rõ lai lịch của chúng, không chừng mai này Võ Đang thất hiệp sẽ phải đối đầu một mất một còn với chúng cũng nên”.

Đang trầm ngâm, bỗng nghe từ phía rừng cây vọng ra tiếng binh khí va chạm nhau, chàng nổi tính hiếu kỳ bèn đi về hướng đó, thấy dưới tán cây là Cao Tắc Thành và Tưởng Đào đang luyện kiếm với nhau, Ân Tố Tố đứng bên cạnh vừa xem vừa cười khúc khích. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: “Sư phụ thường nói kiếm thuật của phái Côn Luân có nhiều chỗ độc đáo, hồi trẻ lão nhân gia từng giao đấu với một danh gia của phái Côn Luân được tôn là “Kiếm thánh”, cơ duyên này thật hiếm có”. Thế nhưng nhân sĩ võ lâm khi đang luyện võ, rất kỵ người khác coi lén. Trương Thúy Sơn tuy rất muốn xem, nhưng phải theo quy củ võ lâm, chàng chỉ liếc một cái, rồi quay mình trở lui.

Song Ân Tố Tố đã trông thấy chàng, nàng vừa vẫy tay vừa gọi:

– Trương ngũ ca, mau lại đây.

Trương Thúy Sơn lúc này nếu cứ bỏ đi, sẽ bị người ta nghi là đã xem lén, chàng đành đủng đỉnh lại gần, nói:

– Hai vị huynh đài kia đang luyện kiếm ở đây, mình ra chỗ khác để người ta khỏi bực.

Chưa nghe Ân Tố Tố trả lời, chỉ thấy một đạo bạch quang lóe lên, Tưởng Đào trả đòn, đâm một kiếm trúng vai Cao Tắc Thành, máu tươi bắn ra. Trương Thúy Sơn kinh ngạc, cứ ngỡ Tưởng Đào lỡ tay đả thương sư huynh, nào ngờ Cao Tắc Thành bặm môi, mặt hầm hầm, nghe “chát, chát, chát” ba tiếng, vung trường kiếm đâm toàn vào những chỗ yếu hại của Tưởng Đào, chiêu số xảo diệu và hiểm độc. Trương Thúy Sơn nhìn kỹ mới biết hai gã đang đánh nhau thật, thì càng lạ thêm.

Ân Tố Tố cười, nói:

– Xem ra sư ca không bằng sư đệ, kiếm pháp của Tưởng huynh có phần tinh diệu hơn.

Cao Tắc Thành nghe vậy thì nghiến răng, đảo người hồi kiếm, kiếm quyết nghiêng đi, một chiêu “Bách trượng phi bộc” mũi kiếm từ trên lưng chừng đâm thẳng xuống. Trương Thúy Sơn không nhịn được, thốt lên:

– Hảo kiếm pháp!

Tưởng Đào rụt người tránh, nhưng kiếm thế của Cao Tắc Thành không sử hết, giữa chừng liền biến chiêu, mũi kiếm chợt đâm chéo sang, “kịch” một tiếng, đâm trúng vào đùi bên trái Tưởng Đào. Ân Tố Tố vỗ tay reo to:

– Thì ra sư huynh cũng có miếng đòn lợi hại, chiêu này thì Tưởng huynh chịu rồi.

Tưởng Đào nổi giận nói:

– Cái đó chưa hẳn!

Kiếm chiêu chợt biến hóa, pho kiếm pháp “Vũ đả phi hoa” được phô bày. Đường kiếm này toàn là đâm xéo, phiêu dật vô luân, cứ bảy tám chiêu đâm xéo lại xen một chiêu chọc thẳng, khiến đối phương rất khó chống đỡ. Đối với đường kiếm pháp của bản môn này, Cao Tắc Thành đã quá quen thuộc, cứ kiến chiêu chiết chiêu, trả đòn không chút nương tay. Cả hai gã đều bị thương, tuy không vào chỗ yếu hại, nhưng trong trận kịch đấu máu cứ văng tung tóe, mặt mũi, tay chân, quần áo đều có vết máu. Hai sư huynh sư đệ càng đấu càng hăng, tưởng chừng liều chết với nhau một phen. Ân Tố Tố đứng bên cạnh luôn miệng xui nguyên giục bị, tán dương Cao Tắc Thành vài lời, rồi lại tán dương Tưởng Đào vài câu làm cho hai gã như điên như si cứ lao vào đâm chém nhau, chứng tỏ kiếm pháp của mình cao cường để lấy lòng Ân Tố Tố.

Lúc này Trương Thúy Sơn đã hiểu hai gã kia xả thân ác đấu với nhau chẳng qua là do Ân Tố Tố xúi giục, nàng trả thù cái việc hai gã trước đó dám nói lời khinh bỉ Thiên Ưng giáo. Hai gã càng đấu càng ác, ban đầu chẳng qua chỉ muốn thủ thắng, về sau thì đều không tự kiềm chế được nữa, cứ như thể muốn lấy mạng đối phương, nếu cứ tiếp tục thế này, ắt gây ra đại họa. Nhìn kiếm pháp của hai gã tuy có tinh diệu nhưng biến hóa chưa linh hoạt, nội lực còn non yếu, chỉ phát huy được một hai thành uy lực mà thôi.

Ân Tố Tố vỗ tay thích thú, nói:

– Trương ngũ ca, chàng thấy kiếm pháp của phái Côn Luân thế nào?

Không thấy Trương Thúy Sơn đáp lời, nàng ngoảnh lại, thấy chàng hơi cau mày có vẻ chán ghét, bèn nói:

– Quanh đi quẩn lại chỉ có mấy đường, cũng chẳng có gì lý thú, thôi mình ra kia ngắm cảnh biển hay hơn!

Đoạn nắm lấy bàn tay trái của Trương Thúy Sơn mà bước đi.

Trương Thúy Sơn cảm thấy một bàn tay mềm mại ấm áp nắm lấy tay mình, lòng chợt bồi hồi, thừa biết Ân Tố Tố cố ý chọc giận hai gã Cao Tưởng, song cũng không tiện gỡ tay ra, đành cùng nàng đi ra phía biển.

Ân Tố Tố nhìn cảnh biển bao la vô bờ, lặng ngắm một hồi, rồi nói:

– Trong sách Trang Tử Thu thủy thiên có viết: “Nước trong thiên hạ, không gì lớn bằng biển, vạn dòng chảy về đó không ngừng nghỉ mà chẳng biết bao giờ đầy”. Song biển cả hoàn toàn không kiêu ngạo, chỉ nói: “Ta ở giữa trời đất, giống như viên sỏi, ngọn cỏ giữa núi lớn vậy”. Trang Tử quả là người bao dung, tài tình.

Trương Thúy Sơn thấy nàng xúi giục hai gã Cao Tưởng tàn sát lẫn nhau để lấy làm trò vui, chàng vốn rất bất mãn, bỗng nhiên nghe mấy câu này của nàng thì bất giác ngẩn người. Trang Tử là cuốn sách mà người tu dưỡng Đạo gia ai ai cũng phải đọc, trên núi Võ Đang, sư phụ Trương Tam Phong vẫn thường đem sách đó ra giảng giải cho bảy sư huynh sư đệ của chàng. Nay nữ ma đầu giết người không chớp mắt kia đột nhiên thốt lên mấy câu cảm khái như thế, quả là điều chàng không ngờ tới. Ngẩn người một lát rồi, chàng nói:

– Đúng thế, “Phù thiên lý chi viễn, bất túc dĩ cử kỳ đại, thiên nhận chi cao, bất túc dĩ cực kỳ thâm”.

[26]

Ân Tố Tố nghe chàng cũng dùng lời trong sách Trang Tử, Thu thủy thiên miêu tả biển cả để trả lời, vẻ mặt không khỏi biểu lộ sự ngưỡng mộ, nói:

– Chàng nhớ đến sư phụ phải không?

Trương Thúy Sơn kinh ngạc, bất giác đưa tay phải nắm lấy bàn tay kia của nàng, nói:

– Sao cô nương biết?

Năm nào trên núi Võ Đang, chàng cùng đại sư huynh Tống Viễn Kiều và tam sư ca Du Đại Nham đọc chung sách Trang Tử, Thu thủy thiên, đến câu “Phù thiên lý chi viễn, bất túc dĩ cử kỳ đại, thiên nhận chi cao, bất túc dĩ cực kỳ thâm”, Du Đại Nham nói: “Huynh đệ chúng ta theo sư phụ học võ nghệ, càng học càng thấy mình thua xa lão nhân gia, tựa hồ mỗi ngày một kém đi. Dùng hai câu này của Trang Tử để hình dung công phu sâu không thể đo, cao không thể với của lão nhân gia thì thật là hợp”. Tống Viễn Kiều và Trương Thúy Sơn đều gật đầu tán đồng. Bây giờ nhắc đến câu kia của Trang Tử, chàng dĩ nhiên nhớ tới sư phụ.

Ân Tố Tố nói:

– Trông sắc mặt chàng, nếu không phải lòng đang nghĩ đến phụ mẫu thì cũng là nhớ sư trưởng, nhưng câu “thiên lý chi viễn, bất túc dĩ cử kỳ đại…” thì thời nay, ngoài Trương Tam Phong đạo trưởng, e rằng không có người thứ hai sánh nổi.

Trương Thúy Sơn cả mừng, nói:

– Cô nương thông minh quá.

Chợt nhận ra mình đang nắm hai tay Ân Tố Tố, chàng đỏ mặt, từ từ buông ra.

Ân Tố Tố nói:

– Võ công của tôn sư xuất thần nhập hóa như thế nào, chàng kể cho muội nghe được chăng?

Trương Thúy Sơn trầm ngâm giây lát, rồi nói:

– Võ công chỉ là tiểu đạo, sở học của lão nhân gia không chỉ dừng ở võ công, ôi, bác đại tinh thâm, biết kể từ đâu bây giờ?

Ân Tố Tố mỉm cười, nói:

– “Phu tử bộ diệc bộ, xu diệc xu. Phu tử trì diệc trì; Phu tử bôn dật tuyệt trần, Nhan Hồi sanh nhược hồ hậu hĩ”[27].

Trương Thúy Sơn nghe nàng dẫn chương Nhan Hồi ca tụng Khổng Tử trong sách Trang Tử, mà trong lòng chàng quả thực kính phục sư phụ muôn phần, nên nói:

– Sư phụ của tại hạ chẳng cần chạy tung bụi, chỉ cần rảo bước thôi tại hạ đã chẳng theo kịp rồi.

Ân Tố Tố thông minh lanh lợi, có ý lấy lòng chàng, hai người trò chuyện ý hợp tâm đầu, mãi không biết chán, họ ngồi kề vai nhau trên phiến đá, không để ý gì đến thời gian.

Bỗng nghe từ xa có tiếng bước chân nặng nề, tiếng húng hắng ho, rồi tiếng gọi:

– Trương tướng công, Ân cô nương, đã tới giờ Ngọ, xin mời nhập tiệc.

Trương Thúy Sơn quay đầu lại thấy Thường Kim Bằng đứng cách mươi trượng, tuy thần sắc trang nghiêm cung kính, nhưng khoé miệng tủm tỉm, giống như một kẻ bề trên nhìn một cặp tình nhân trẻ tuổi xứng đôi vừa lứa thì rất hài lòng vậy. Ân Tố Tố luôn coi hắn là kẻ dưới, không cần giữ lễ, song lúc này nàng e lệ cúi đầu. Trương Thúy Sơn trong lòng quang minh lỗi lạc, nhưng nhìn vẻ mặt hai người kia, bất giác chàng cũng đỏ mặt.

Thường Kim Bằng quay người đi trước dẫn đường. Ân Tố Tố nói nhỏ:

– Để muội đi trước, chàng đừng đi cùng.

Trương Thúy Sơn hơi lạ, nghĩ thầm: “Sao nàng ta lại sợ hiềm nghi nhỉ?” Chàng gật đầu, Ân Tố Tố rảo bước theo kịp Thường Kim Bằng, chỉ nghe tiếng nàng cười, hỏi:

– Hai tên ngốc phái Côn Luân đánh nhau tới đâu?

Trương Thúy Sơn trong lòng vui không ra vui, buồn chẳng ra buồn, nhìn hai người đi khuất sau hàng cây, mới thong thả tiến về phía sơn cốc.

Tới nơi, chàng thấy trên bãi cỏ xanh bày bảy tám chiếc bàn vuông, trừ bàn thứ nhất ở phía đông, bàn nào cũng đã có người ngồi. Thường Kim Bằng thấy chàng tới gần, nói to:

– Trương ngũ hiệp phái Võ Đang giá đáo!

Tám tiếng đó như tiếng sấm vang vọng sơn cốc. Thường Kim Bằng nói xong, liền cùng Bạch Quy Thọ bước nhanh lên trước mấy bước, mỗi người dẫn theo năm gã đà chủ của bổn đàn, tổng cộng mười hai người, sắp thành hai hàng đứng bên lối vào sơn cốc, cúi mình đón khách. Bạch Quy Thọ nói:

– Thuộc hạ của Ân giáo chủ Thiên Ưng giáo, Huyền Vũ đàn Bạch Quy Thọ, Chu Tước đàn Thường Kim Bằng cung nghênh Trương ngũ hiệp đại giá!

Ân Tố Tố tuy không bước ra đón chàng, nhưng cũng đứng dậy.

Trương Thúy Sơn nghe ba tiếng “Ân giáo chủ”, trong lòng chấn động, nghĩ thầm: “Giáo chủ của họ quả nhiên họ Ân!”, vội chắp tay đáp lễ:

– Không dám! Không dám!

Rồi chàng đi vào, chỉ thấy mọi người ở các bàn ai nấy tỏ vẻ bất bình, tức tối, chàng hơi lạ, nhưng cũng chẳng bận tâm. Chàng đâu biết rằng, khi thủ lĩnh các lộ như phái Hải Sa, bang Cự Kình, Thần Quyền môn tới đây, Thiên Ưng giáo chỉ cho một gã đà chủ ra đón, dẫn vào bàn tiệc, khác hẳn thái độ long trọng như đối với Trương Thúy Sơn, rõ ràng hàm ý coi thường bọn kia.

Bạch Quy Thọ dẫn Trương Thúy Sơn đến chiếc bàn thứ nhất ở phía đông, cung kính mời ngồi. Chiếc bàn này chỉ đặt một cái ghế, là bàn tôn quý nhất trong các bàn. Trương Thúy Sơn đưa mắt nhìn qua, thấy các bàn khác đều có bảy tám người, riêng bàn thứ sáu có hai người là Cao Tắc Thành và Tưởng Đào. Chàng bèn cao giọng khước từ:

– Tại hạ mạt học hậu tiến, không dám ngồi bàn đầu. Mong Bạch huynh cho chuyển xuống bàn dưới tiện hơn.

Bạch Quy Thọ nói:

– Phái Võ Đang hiện là Thái Sơn, Bắc Đẩu trong võ lâm thiên hạ, Trương ngũ hiệp uy chấn thiên hạ, nếu không ngồi bàn đầu, chắc không còn ai dám ngồi.

Trương Thúy Sơn nhớ thường ngày sư phụ vẫn dạy bốn chữ “ninh tĩnh khiêm ức”[28], nghĩ thầm: “Giá sư phụ hoặc đại sư ca ở đây, ngồi bàn đầu là đúng, còn mình đâu đã xứng đáng”. Bởi vậy chàng kiên quyết từ chối.

Cao Tắc Thành và Tưởng Đào đưa mắt cho nhau, Tưởng Đào đột nhiên cầm cái ghế của gã ném vọt sang bàn đầu. Chỗ gã ngồi cách bàn đầu năm bàn, sức ném của gã quả là mạnh mẽ, chiếc ghế bay vù qua đầu những người ngồi quanh năm cái bàn kia, rơi xuống đúng bên cạnh bàn đầu, ngay ngắn thẳng thắn, cách chiếc ghế đặt sẵn tại đó một thước, tài nghệ quả phi phàm. Tưởng Đào ném ghế xong, Cao Tắc Thành nói lớn:

– Hi hi, Thái Sơn, Bắc Đẩu ư, không biết ai phong cho danh hiệu Thái Sơn, Bắc Đẩu đó? Họ Trương kia không dám ngồi, chứ hai sư huynh sư đệ ta đâu có phải thuộc hạng khiếp nhược.

Đoạn hai gã thân pháp như gió lướt ngay tới chiếc bàn đầu.

Thì ra lúc sáng Ân Tố Tố có hỏi hai gã rốt cuộc võ công của ai cao hơn, nàng nói muốn học vài chiêu kiếm pháp của phái Côn Luân, mong được bậc cao thủ kiếm pháp chỉ giáo; hai gã không hề từ chối, lập tức rút kiếm phô diễn. Thoạt đầu cũng chỉ định thắng đối phương, nhưng càng đấu càng hung hăng, dần dần không nương tay được nữa. Ân Tố Tố đứng bên lại nói khích, khiến hai gã đánh nhau tới mức cùng bị thương. Đến khi thấy nàng và Trương Thúy Sơn thân mật nắm tay bỏ đi, hai gã mới biết đã mắc mưu nàng, bèn thu kiếm, băng vết thương, vừa đau vừa ức, song không dám gây sự với nàng. Lúc này hai gã thừa cơ đoạt lấy chỗ ngồi của Trương Thúy Sơn, định khích chàng xuất thủ để chúng có dịp làm cho chàng bẽ mặt một phen trước quần hùng.

Thường Kim Bằng giơ tay ngăn lại, nói:

– Hãy khoan!

Cao Tắc Thành giơ ngón tay định điểm vào huyệt ở khuỷu tay của Thường Kim Bằng.

Trương Thúy Sơn nói:

– Hai vị ngồi ở bàn số một này là thích hợp hơn cả. Tại hạ xuống bàn dưới cũng được!

Đoạn đi xuống chiếc bàn thứ sáu. Ân Tố Tố bỗng giơ tay vẫy, nói:

– Trương ngũ ca, lại đây nào!

Trương Thúy Sơn không biết nàng muốn nói gì, bèn bước tới gần. Ân Tố Tố đưa tay kéo một chiếc ghế, đặt ngay bên cạnh mình, mỉm cười, nói:

– Chàng hãy ngồi đây.

Trương Thúy Sơn không ngờ Ân Tố Tố lại bộc lộ hình tích ngay trước mắt quần hào thế này, còn đang phân vân, nếu ngồi xuống kề vai nàng, không tránh khỏi quá ư thân mật; nếu không ngồi, e sẽ làm cho nàng bẽ mặt. Ân Tố Tố thấp giọng nói:

– Muội có điều muốn nói với chàng!

Trương Thúy Sơn thấy vẻ mặt cầu khẩn của nàng thì không tiện từ chối, bèn ngồi xuống. Ân Tố Tố tươi như hoa, cười sung sướng, rót rượu mời chàng.

Bàn đằng kia, Cao Tắc Thành và Tưởng Đào tuy đã chiếm được vị trí tôn quý, nhưng nhìn cảnh ấy lại càng hậm hực. Chỉ thấy Bạch Quy Thọ phẩy phẩy tay mấy cái để phủi bụi, rồi cười, nói:

– Hai vị kiếm khách phái Côn Luân muốn ngồi bàn đầu, không sai chút nào, vậy thì mời ngồi, mời ngồi!

Đoạn cùng Thường Kim Bằng và mười tên đà chủ ai nấy trở về chỗ ngồi của mình. Cao Tắc Thành và Tưởng Đào đều nghĩ bụng: “Tên tiểu tử kia không dám ngồi bàn đầu, uy phong của phái Võ Đang rốt cuộc đã bị phái Côn Luân ta đè bẹp”. Hai gã đưa mắt cho nhau, vênh vang ngồi xuống.

Chỉ nghe “rắc rắc” hai tiếng, chân ghế gãy rời, cả hai ngã ngửa về phía sau. Kể ra võ công của họ cũng khá, lưng chưa chạm đất đã kịp dùng tay đẩy xuống đất mà bật người lên, tuy khỏi ngã bổ chửng nhưng cũng bị một phen hoảng hồn. Hào khách ở các bàn cùng cười ầm lên. Cao Tắc Thành và Tưởng Đào biết vừa rồi Bạch Quy Thọ phẩy tay phủi bụi đã lén ra tay, phải nói âm kình như thế quả lợi hại, hai gã tự liệu không thể bì kịp. Hai gã vốn hết sức tự phụ, coi Thiên Ưng giáo là loại bàng môn tả đạo tầm thường, lần này đến Vương Bàn sơn đảo là muốn trổ tài một phen, lúc này thấy Bạch Quy Thọ hiển thị chút công lực thì cả hai đã nhụt hết nhuệ khí.

Bạch Quy Thọ cười ha hả, nói:

– Võ công của phái Côn Luân, mọi người đều biết là cao; hai vị đâu cần làm gãy hai cái ghế cho bõ giận? Thứ công phu thô thiển ngồi làm sao cho gãy ghế, ở đây ai mà chẳng làm được?

Đoạn giơ tay chỉ về phía mười tên đà chủ ngồi ở bàn cuối, nói:

– Các ngươi cũng luyện được phải không?

Chỉ nghe rắc rắc rắc, mười chiếc ghế đều gãy rời. Mười tên đà chủ có chuẩn bị trước cả, ghế gãy rời mà họ vẫn ở tư thế ngồi cười ha hả, thần định khí nhàn, tỏ ra hơn hẳn hai gã Cao, Tưởng lảo đảo chới với ban nãy. Quần hào ở đây phần nhiều hiểu sâu biết rộng, thừa hiểu Bạch Quy Thọ hí lộng hai gã kia, song tình cảnh thật lý thú nên ai nấy cười rộ.

Mọi người còn đang cười thì có hai tên đà chủ của Thiên Ưng giáo bưng hai tảng đá tới bàn thứ nhất, giơ chân gạt hai cái ghế gãy ra, nói:

  • Ghế gỗ mỏng manh, không đỡ nổi quý thể của hai vị, xin mời hai vị ngồi trên hai tảng đá này vậy!

Hai tên đà chủ này nổi danh là đại lực sĩ của Thiên Ưng giáo, tuy võ công tầm thường nhưng thân thể thô tráng, trời phú thần lực, tảng đá mỗi người bưng kia phải nặng tới bốn trăm cân. Họ bưng tới, muốn giao cho hai gã kiếm khách tiếp nhận.

Cao Tắc Thành và Tưởng Đào kiếm pháp tinh diệu, chứ việc đỡ lấy tảng đá khổng lồ kia thì bất lực hoàn toàn.

Cao Tắc Thành cau mày nói:

– Bỏ xuống đi!

Hai tên đà chủ cùng kêu “hự” một tiếng, hai tay giơ thẳng tảng đá lên cao quá đầu và nói:

– Nhận lấy này!

Như thế là buộc hai gã Cao, Tưởng phải co người thoái lui, chỉ sợ một trong hai đại lực sĩ kia yếu sức, lỡ để tảng đá bốn năm trăm cân rơi xuống thì xương thịt nào chịu cho thấu. Hai gã trong bụng tức giận, nhưng không dám xuất thủ tập kích hai đại lực sĩ, tảng đá chênh vênh thế kia, chẳng dại gì xáp tới hiểm địa.

Bạch Quy Thọ cao giọng nói:

– Hai vị kiếm khách phái Côn Luân không dám ngồi bàn đó thì mời Trương ngũ hiệp ngồi cho!

Trương Thúy Sơn đang ngồi bên cạnh Ân Tố Tố, mùi hương thoang thoảng, tâm hồn ngất ngây, bỗng nghe Bạch Quy Thọ gọi thì tức thời cảnh giác: “Mình quyết không thể rơi vào ma chướng, bị nữ ma đầu tà giáo này lôi cuốn nữa!” bèn đứng ngay dậy, bước tới.

Bạch Quy Thọ nghe Thường Kim Bằng ca ngợi võ công của Trương Thúy Sơn cao cường, song lão chưa được tận mắt chứng kiến, lúc này muốn thử một chút, bèn đưa mắt ra hiệu cho hai tên đà chủ đại lực sĩ.

Hai tên kia hiểu ý, chờ lúc Trương Thúy Sơn tới gần liền nhất tề nói lớn:

– Trương tướng công cẩn thận, đỡ lấy này!

Lời vừa dứt, hai tên rùn mình, bốn cánh tay bung ra, thả hai tảng đá rơi thẳng xuống đầu Trương Thúy Sơn.

Quần hào nhìn cảnh tượng đó, bất giác cùng đứng bật dậy.

Bạch Quy Thọ vốn chỉ định thử võ công của Trương Thúy Sơn chứ không hề có ác ý, một phần vì danh tiếng Võ Đang thất hiệp quá lừng lẫy trên giang hồ, hôm nay thấy chàng chẳng qua chỉ là một thiếu niên thư sinh trông quá yếu ớt; một phần vì Ân Tố Tố lâu nay vốn chẳng coi ai ra gì, nay lại tỏ ra si mê chàng thiếu niên kia, hẳn sau này chàng ta sẽ có liên quan lớn lao đến Thiên Ưng giáo. Thấy hai tên đại lực sĩ thả rơi hai tảng đá, lão chợt hối hận, nghĩ thầm: “Nguy rồi!” song biết Trương Thúy Sơn là danh môn đệ tử, tất nhiên sẽ không để cho mình bị thương vì hai tảng đá, nhưng lúc hốt hoảng né tránh, tình cảnh cũng sẽ chẳng đẹp đẽ gì, không chừng còn bị bẽ mặt, Trương Thúy Sơn ắt tức giận, Ân cô nương lại càng phẫn nộ. Trong giây lát lão định ngay chủ ý, nếu tình huống bất lợi, lão sẽ quy tội cho hai tên đà chủ, thà thí mạng hai tên đó chứ không thể đắc tội với Ân cô nương.

Trương Thúy Sơn thấy hai tảng đá rơi xuống, cũng giật mình, giả dụ nhảy lùi về đằng sau né tránh thì có khác gì hai gã Cao – Tưởng phái Côn Luân, khó tránh làm tổn hại uy danh sư môn; thời điểm này không cho phép nghĩ lâu, người luyện võ vào sát-na cấp bách, công phu súc tích lâu dài sẽ tự nhiên nảy ra. Lập tức chàng dùng tay trái sử cái móc bên phải trong tự quyết chữ “Võ”, đẩy vào tảng đá bên trái; tay phải sử nét phất bên trái trong tự quyết chữ “đao”, đẩy vào tảng đá bên phải. Hai tảng đá vốn đã nặng dăm trăm cân, cộng với thế rớt từ trên xuống, quả thật nặng ghê gớm. Trương Thúy Sơn không có sức mạnh cơ bắp, bảo chàng bưng tảng đá kia lên cũng chẳng nổi, nhưng hai chiêu thuật chàng vừa sử là diễn hóa từ bộ thư pháp của võ công Trương Tam Phong mà ra, thực là thần kỳ, đoạt cả công phu của tạo hóa. Nên biết võ công của phái Võ Đang không chú trọng dùng sức mạnh, không yêu cầu ra chiêu nhanh, chỉ cần sử dụng lực đạo đúng cách thì bốn lạng cũng gạt được ngàn cân. Lúc này Trương Thúy Sơn sử dụng công phu tinh diệu nhất mà sư môn truyền thụ, mượn thế ném của hai tên đà chủ hất hai tảng đá bay lên trời.

Hai tảng đá bay lên chính là nhờ lực ném của hai tên đà chủ, chẳng qua chàng dùng chưởng đẩy, làm thay đổi phương hướng. Tay áo chàng phất múa, chưởng giấu trong tay áo, người ngoài nhìn vào cứ ngỡ tay áo chàng cuốn lấy hai tảng đá mà hất lên cao. Hai tảng đá một cao một thấp, nối nhau rớt xuống. Trương Thúy Sơn nhẹ nhàng tung mình nhảy lên, ngồi xếp bằng ở tảng đá bên trên.

Chỉ nghe “ình” một tiếng, mặt đất chấn động, một tảng đá rơi xuống trước, lún sâu quá nửa dưới đất, rồi tảng thứ hai rơi xuống ngay trên tảng thứ nhất, hai tảng đá va nhau, tia lửa bắn tung tóe, bát đĩa trên các bàn tiệc kêu loảng xoảng. Trương Thúy Sơn thản nhiên ngồi ở tảng đá bên trên, cười nói:

– Hai vị đà chủ thần lực kinh người, thán phục, thán phục!

Hai tên đà chủ sửng sốt, trợn mắt há hốc mồm, đứng ngây như phỗng, không thốt được một lời.

Trong giây lát, sơn cốc yên lặng như tờ, sau đó mới òa ra tiếng vỗ tay như sấm hồi lâu không dứt.

Ân Tố Tố nhìn Bạch Quy Thọ một cái, cười tươi như hoa, vô cùng đắc ý. Bạch Quy Thọ cả mừng, may sao Trương Thúy Sơn võ công siêu việt đã biến trò đùa nguy hiểm của lão ta thành cách làm vui lòng Ân cô nương. Thế là lão bèn tới bàn thứ nhất rót rượu vào chén, cao giọng nói:

– Từ lâu nghe uy danh của Võ Đang thất hiệp, bữa nay được thấy võ công của Trương ngũ hiệp, quả thực thán phục vô cùng. Tiểu nhân xin kính Trương ngũ hiệp một chén.

Đoạn lão uống cạn. Trương Thúy Sơn nói:

– Không dám!

Rồi cũng uống cạn một ly.

Bạch Quy Thọ đứng thẳng người, lớn tiếng nói:

– Tệ giáo gần đây có một thanh bảo đao, tên là Đồ Long. Thường nghe: “Võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long, hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng!”

Nói tới đây, lão ngừng lời, đưa ánh mắt sắc lạnh quét từ tả sang hữu một lượt toàn trường. Thân hình lão không cao lớn, nhưng ngữ thanh âm vang, mục quang sắc nhọn, thần khí uy nghiêm buộc người ta nể sợ. Lão nói tiếp:

– Ân giáo chủ tệ giáo cũng định gửi danh thiếp mời các lộ anh hùng thiên hạ đến núi Thiên Ưng dự hội để tệ giáo hiển thị bảo đao cho mọi người cùng chiêm ngưỡng; ngặt vì việc đó phải trù hoạch thời gian cho chu đáo. Hiện thời chỉ lo anh hùng thiên hạ chưa biết bảo đao đã ở trong tay tệ giáo, nên vừa rồi có mời các vị bằng hữu các bang hội ở Giang Nam tới đây chiêm ngưỡng bảo đao.

Nói tới đó, Bạch Quy Thọ khoát tay một cái, tám tên đệ tử của Thiên Ưng giáo đồng thanh dạ một tiếng thật to rồi quay mình đi vào một sơn động ở phía tây.

Quần hào nghĩ tám tên đó đi lấy bảo đao, nên đều chăm chú nhìn theo. Nào ngờ lúc từ trong sơn động đi ra, chúng đều ở trần, khiêng ra một cái đỉnh sắt lớn. Trong cái đỉnh ấy lửa đang cháy rừng rực, bốc cao hàng trượng. Tám tên cách xa đỉnh, dùng mấy chiếc đòn dài mà khiêng đỉnh ra, tên nào tên ấy thở phì phò, ỳ ạch đặt cái đỉnh xuống giữa bãi trống. Mọi người bị lửa phả vào mặt, cảm thấy nóng rát. Sau tám tên kia lại có bốn tên nữa, hai tên khiêng một cái đe sắt lớn, hai tên còn lại mỗi người vác một chiếc búa sắt lớn.

Bạch Quy Thọ nói:

– Thường đàn chủ, xin mời giương đao lập uy.

Thường Kim Bằng nói:

– Tuân lệnh!

Rồi quay qua nói lớn:

– Mang đao ra!

Hai tên đà chủ đại lực sĩ vác đá ban nãy đi vào sơn động, lúc ra thì một tên bưng một cái bao màu vàng đặt ngang, tên thứ hai đi bên cạnh hộ vệ. Sau khi giao cái bao cho Thường Kim Bằng, hai tên đứng ở hai bên tùy giá. Thường Kim Bằng mở bao, lộ ra một thanh đơn đao, Thường Kim Bằng cầm trong tay, đưa mắt nhìn quần hào một lượt, đoạn rút đao ra khỏi vỏ, nói:

– Đây chính là “Võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long”, mời các vị nhìn cho kỹ!

Đoạn hai tay nâng thanh đao lên ngang quá trán, vẻ cực kỳ cung kính.

Quần hào nghe uy danh bảo đao Đồ Long đã lâu, giờ thấy cây đao đen đen, chẳng đẹp chút nào, thì ai nấy nảy sinh nghi ngờ: “Làm sao biết thanh đao này thật hay giả?” Chỉ thấy Thường Kim Bằng thong thả trao thanh đao cho tên đà chủ đứng bên trái, nói:

– Thử búa đi!

Tên đà chủ tiếp lấy thanh đao, đặt trên cái đe, lưỡi đao hướng lên trời; tên kia quai cây búa sắt, nhắm lưỡi đao giáng xuống. Chỉ nghe “keng” một tiếng nhẹ, đầu búa bị cắt làm đôi, một nửa còn dính ở cán búa, nửa thứ hai rơi xuống đất. Quần hào kinh ngạc, lập tức đứng bật dậy, ai cũng nghĩ thầm: “Bảo kiếm, lợi đao có thể cắt vàng chặt ngọc dù là của hiếm, song vẫn có; nhưng thanh đao Đồ Long này cắt cây búa sắt ngọt như cắt miếng đậu phụ, ngay tiếng keng nghe cũng rất nhỏ, nếu không phải là thần vật thì bên trong ắt có gì man trá”.

Có người thuộc Thần Quyền môn và bang Cự Kình bước tới bên cái đe, nhặt mảnh búa dưới đất lên xem kỹ, thấy vết cắt phẳng lỳ, loang loáng, đúng là vết vừa bị cắt.

Tên đà chủ lại vung cây búa với nửa còn lại giáng xuống lưỡi đao, lại nghe “keng” một tiếng nhẹ, nửa đầu búa lại bị chém đứt đôi. Lần này quần hào hoan hô vang động.

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: “Đao báu tới mức này, quả là chưa từng được nghe và nhìn thấy bao giờ!”

Thường Kim Bằng thong thả bước ra bãi, giơ thanh đao lên sử một chiêu “Thượng bộ phách sơn”, chỉ nghe “xoẹt” một tiếng, hắn đã chém đứt đôi cái đe sắt. Đột nhiên hắn lướt sang bên trái, phạt ngang một cái, chém đứt thân một cây tùng lớn; rồi hắn cứ nhảy qua chạy lại, vung đao liên tiếp chém qua mười tám cây đại thụ. Quần hào thấy hắn không ngừng huy động bảo đao mà sao các cây kia vẫn đứng thẳng không có gì lạ, thảy đều khó hiểu, thì Thường Kim Bằng đột nhiên cười một tiếng dài, chạy tới cây thứ nhất, phất tay áo một cái, đánh vào thân cây, “rầm” một tiếng lớn, cây đó đổ gục ra phía ngoài. Thì ra cây đã bị chém đứt đôi, nhưng vì bảo đao quá bén, Thường Kim Bằng lại sử dụng lực rất cân bằng, tuy nửa trên đã đứt đoạn nhưng vẫn đứng thẳng trên cây, đến khi bị ngoại lực đẩy vào mới đổ ụp xuống. Cây đại thụ thứ nhất đổ xuống tạo ra luồng gió mạnh, chỉ nghe “rầm rầm rầm” không dứt, mười bảy cây đại thụ còn lại lần lượt đổ theo.

Thường Kim Bằng cười ha hả, vung tay ném thanh bảo đao Đồ Long vào cái đỉnh sắt đang bốc lửa ngùn ngụt.

Tiếng cây đổ chưa dứt, bỗng nghe từ xa vọng lại tiếng chan chát như có người cũng đang chặt cây. Thường Kim Bằng và Bạch Quy Thọ kinh ngạc nhìn về hướng tiếng động kia truyền lại thì thấy các cột buồm trên thuyền ngoài vịnh đang lần lượt gãy đổ. Các cột buồm đều có treo cờ. Đám thủ lĩnh của Thiên Ưng giáo, Thần Quyền môn, phái Hải Sa, bang Cự Kình thấy cột buồm thuyền mình bị gãy đổ thì thảy đều ngạc nhiên và tức giận, lập tức phái thủ hạ đi tra vấn.

Tiếng chan chát rầm rầm vẫn không dứt, chỉ trong giây lát tất cả các cột buồm đều bị hoặc đánh gãy, hoặc đổ nghiêng, tựa hồ các con thuyền đậu trong vịnh bất ngờ bị cơn lốc hoặc thủy quái lần lượt đánh chìm chẳng còn một chiếc. Quần hào tề tựu trên bãi cỏ hoàn toàn không ai tiên liệu được biến cố này, nhất thời không nói nên lời, thoạt đầu còn nghi Thiên Ưng giáo có âm mưu phá hoại, sau thấy thuyền của Thiên Ưng giáo cũng ngộ kiếp nạn thì mới hết nghi.

Nhóm người thứ hai được phái đi tra vấn. Bãi cỏ này cách vịnh không xa lắm, hơn mười người phái đi mà chẳng một ai quay về.

Mọi người nhìn nhau hoang mang, kinh nghi bất định. Bạch Quy Thọ bảo một tên đà chủ bản đàn:

– Ngươi thử đi coi sao.

Tên đà chủ vâng lệnh đi liền. Bạch Quy Thọ cố trấn tĩnh, cười nói:

– Dù ngoài biển có biến cố chăng nữa, các vị cũng đừng quá lo. Thuyền bị đánh đắm cả, chẳng lẽ chúng ta không thể đi bè trở về hay sao? Thôi, mời các vị, ta cùng cạn chén nào, nào, nào!

Quần hào ai nấy bồn chồn, song không muốn để lộ sự hoảng sợ trước mặt người khác, bèn nhất tề nâng chén lên, nhưng vừa đưa chén tới môi đã bỗng nghe một tiếng rú thảm thương từ phía vịnh vọng vào.

Bạch Quy Thọ và Thường Kim Bằng nghe tiếng kêu liền nhận ra đó là tiếng của tên đà chủ vừa phái đi. Đang sững sờ thì có tiếng bước chân huỳnh huỵch chạy về gần, rồi một người mình mẩy máu me xuất hiện trước mắt mọi người, chính là tên đà chủ vừa nãy.

Hắn hai tay ôm bịt lỗ thủng trên mặt, máu từ các kẽ ngón tay chảy ra, đỉnh đầu bị lột da, quần áo từ ngực xuống qua bụng dưới, tới đùi đều rách nát, một vết thương thật dài, chẳng biết nông sâu, máu thịt bầy nhầy, hắn kêu lên thê thảm:

– Kim Mao Sư Vương, Kim Mao Sư Vương!

Bạch Quy Thọ hỏi:

– Một con sư tử ư?

Nghe tên kia nói, nghĩ là do mãnh thú, lão cảm thấy yên tâm. Tên đà chủ nói:

– Không, không! Là một người. Tất cả mọi người đều bị hắn xé xác, các thuyền đều bị đánh đắm rồi!

Chỉ nói được tới đó, hắn kiệt sức ngã quỵ xuống, tắt thở.

Bạch Quy Thọ nói:

– Ta phải đi coi.

Thường Kim Bằng cũng nói:

– Đệ đi với huynh.

Bạch Quy Thọ nói:

– Huynh ở lại bảo hộ Ân cô nương.

Lão biết tên đà chủ vừa rồi võ công không kém, được xếp vào loại cứng trong Thiên Ưng giáo, vậy mà trong giây lát đã bị đả thương như thế, đủ thấy đối thủ rất ghê gớm. Thường Kim Bằng gật đầu đáp:

– Xin vâng.

Bỗng nghe có tiếng người ho rồi nói:

– Kim Mao Sư Vương đây này!

Ai nấy sửng sốt, chỉ thấy từ sau một gốc đại thụ có một người chậm rãi bước ra. Người ấy cao lớn dị thường, tóc vàng xõa xuống vai, cặp mắt xanh biếc phát quang lóng lánh, tay cầm một cây lang nha bổng có hai đầu, dài chừng trượng sáu trượng bảy. Lão ta đứng sừng sững trước bàn tiệc, uy phong lẫm liệt, hệt như thiên thần thiên tướng.

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: “Kim Mao Sư Vương? Biệt hiệu này chắc là do mái tóc vàng của lão mà ra. Lão là ai nhỉ? Mình chưa hề nghe sư phụ nhắc tới nhân vật này”.

Bạch Quy Thọ tiến lên mấy bước, nói:

– Thỉnh vấn tôn giá cao tính đại danh?

Người kia nói:

– Không dám, tại hạ họ Tạ, đơn danh một chữ Tốn, biểu tự Thoái Tư, có một ngoại hiệu là Kim Mao Sư Vương.

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đưa mắt nhìn nhau, đều nghĩ thầm: “Vị này thần thái uy mãnh thế kia mà tên nghe quá văn nhã, chỉ có ngoại hiệu nghe còn thích hợp”. Bạch Quy Thọ thấy người kia nói năng từ tốn, bèn nói:

– Vậy là Tạ tiên sinh. Tiên sinh với chúng tại hạ không quen biết, tại sao vừa tới đảo đã hủy thuyền giết người?

Tạ Tốn mỉm cười phô hàm răng trắng sáng lấp lánh, hỏi:

– Các vị tề tựu ở đây làm gì thế?

Bạch Quy Thọ nghĩ thầm: “Việc này chẳng giấu nổi y. Võ công của y dĩ nhiên lợi hại, song dẫu sao chỉ có một thân một mình; ta liên thủ với Thường Kim Bằng, lại có Trương ngũ hiệp và Ân cô nương ở bên cạnh trợ giúp, chắc có thể diệt được y”. Bèn cao giọng nói:

– Tệ giáo Thiên Ưng giáo mới có được một thanh bảo đao, nên mời bằng hữu chốn giang hồ tới đây cùng chiêm ngưỡng.

Tạ Tốn đưa mắt nhìn thanh đao Đồ Long hiện đang ở trong cái đỉnh rừng rực lửa, thấy thanh đao bị nung bởi nhiệt độ ngần kia mà không hề suy tổn, quả là lợi khí thần vật, liền sải bước tới đó.

Thường Kim Bằng thấy Tạ Tốn thò tay cầm lấy thanh đao, liền quát:

– Dừng tay!

Tạ Tốn ngoảnh lại, cười nhạt, hỏi:

– Cái gì?

Thường Kim Bằng nói:

– Thanh đao này là sở hữu của tệ giáo, Tạ bằng hữu chỉ có thể đứng xem từ xa, không được chạm vào.

Tạ Tốn nói:

– Thanh đao này bọn ngươi đúc ra, hay bọn ngươi mua được?

Thường Kim Bằng cứng họng, nhất thời chưa biết trả lời thế nào. Tạ Tốn tiếp:

– Bọn ngươi đoạt nó từ tay kẻ khác, ta đoạt lại từ tay bọn ngươi, trời đất công bằng, có gì mà không được chạm tới?

Đoạn họ Tạ quay lại để lấy đao.

Chỉ nghe loảng xoảng, Thường Kim Bằng đã gỡ từ lưng ra hai trái dưa lưu tinh chùy, quát:

– Tạ bằng hữu, nếu không dừng tay, tại hạ đành thất lễ!

Lời lẽ của Thường Kim Bằng nghe như cảnh cáo, kỳ thực nói là đánh ngay, trái dưa sắt từ tay trái nhắm thẳng hậu tâm Tạ Tốn mà bay tới. Tạ Tốn chẳng buồn quay đầu lại, hất cây lang nha bổng về phía sau, “xoảng” một tiếng lớn, trái dưa đụng phải lang nha bổng liền bay ngược lại với tốc độ kinh người. Thường Kim Bằng cả kinh, phóng luôn trái dưa sắt bên tay phải đi, hai trái dưa đụng vào nhau, ai ngờ thần lực của Tạ Tốn quả là khủng khiếp, cả hai trái dưa cùng bay trở lại giáng ngay vào ngực Thường Kim Bằng. Thường Kim Bằng lảo đảo ngã ngửa ra chết liền.

Khi ở trên sông Tiền Đường, hắn dùng chùy sắt đánh phá thuyền của Mạch thiếu bang chủ mới thần uy làm sao, vậy mà giờ đây không chịu nổi một đòn đỡ bằng lang nha bổng của Tạ Tốn.

Năm tên đà chủ thuộc Chu Tước đàn cả kinh, nhất tề xông lên. Hai tên khiêng Thường Kim Bằng lên, ba tên rút binh khí, liều mạng tấn công Tạ Tốn. Tạ Tốn tay trái cầm lấy thanh đao Đồ Long, cây lang nha bổng trong tay phải kề vào đáy đỉnh hất một cái; đỉnh sắt nặng mấy trăm cân kia liền bay lên, quét ngang, đè bẹp liền một lúc cả ba tên đà chủ, rồi dư thế còn khiến nó lăn đi, đè bẹp nốt hai tên đà chủ đang khiêng Thường Kim Bằng. Y phục trên thi thể của năm tên đà chủ cùng Thường Kim Bằng bén lửa cháy bùng, bốn tên đà chủ bị đỉnh đụng chết liền, chỉ còn tên thứ năm quằn quại hấp hối.

Mọi người nhìn cảnh ấy, ai nấy rụng rời. Tạ Tốn mới chỉ vung tay một cái đã đánh chết tươi năm hảo thủ giang hồ, còn tên thứ sáu đang quằn quại kia cũng sắp tắt thở. Trương Thúy Sơn hành tẩu giang hồ từng gặp không ít cao thủ, nhưng võ công thần lực siêu phàm như Tạ Tốn thì chàng chưa hề thấy, nghĩ thầm mình chẳng phải đối thủ của lão, ngay cả đại sư ca, nhị sư ca cũng không thể bì kịp. Hiện nay trong thiên hạ, trừ phi sư phụ xuống núi, ngoài ra chẳng biết có ai thắng nổi người này không.

Tạ Tốn giơ thanh đao Đồ Long lên, dùng ngón tay búng một cái, thanh đao phát ra âm thanh trầm uất không phải của vàng, không phải của gỗ, lão gật gù tán thưởng:

– Vô thanh vô sắc, thần vật tự giấu mình, quả là bảo đao!

Đoạn lão ngẩng đầu, nhìn về phía cái bao của thanh đao đặt bên cạnh Bạch Quy Thọ, hỏi:

– Có phải cái bao của thanh đao Đồ Long đó không? Đưa đây cho ta.

Bạch Quy Thọ thầm biết trong tình thế này tính mạng của mình mười phần chỉ còn một, nếu đưa cái bao đao cho Tạ Tốn, chẳng những anh danh một đời trôi theo dòng nước, mà sau này giáo chủ truy cứu tội trạng thì cái chết còn thảm khốc hơn; song chống lại Tạ Tốn lúc này chắc chết mười mươi, bèn ngang nhiên đáp nói:

– Người muốn giết thì cứ giết, họ Bạch này há là phường tham sống sợ chết ư?

Tạ Tốn mỉm cười, nói:

– Cứng cỏi lắm, cứng cỏi lắm! Thiên Ưng giáo quả cũng có vài nhân vật.

Rồi họ Tạ đột nhiên vung tay phải, thanh đao Đồ Long nặng hơn trăm cân bay vút về phía Bạch Quy Thọ. Bạch Quy Thọ sớm đã đề phòng, thấy thanh đao bay tới, biết kình lực của người kia nào phải tầm thường nên không dám dùng binh khí đón đỡ, cũng chẳng dám giơ tay đón bắt, vội né người tránh; thanh đao bay xéo qua, “xoạch” một tiếng, nó phóng ngay vào cái bao đao đặt nằm trên bàn, lực ném quá mạnh, khiến nó tiếp tục bay lên. Tạ Tốn liền giơ cây lang nha bổng vừa móc vừa khều thanh đao Đồ Long lại gần, rồi tiện tay giắt luôn vào thắt lưng. Thủ pháp ném đao thu bao vừa chuẩn xác vừa kỳ lạ, thật không ai có thể ngờ.

Mục quang của Tạ Tốn quét một lượt khắp mặt quần hào từ trái sang phải, đoạn lão hỏi:

– Tại hạ muốn lấy thanh đao Đồ Long này, các vị có dị nghị gì chăng?

Lão nhắc lại câu hỏi, không một ai dám trả lời.

Bỗng từ bàn tiệc của phái Hải Sa có một người đứng dậy, nói:

– Tạ tiền bối đức cao vọng trọng, danh vang tứ hải, đao này do Tạ tiền bối sở hữu là phải lắm. Chúng vãn bối đều hết sức tán thành.

Tạ Tốn hỏi:

– Các hạ là Tổng đà chủ phái Hải Sa Nguyên Quảng Ba thì phải?

Người kia đáp:

– Thưa phải.

Hắn thấy Tạ Tốn biết tính danh mình thì vừa vui mừng, vừa hoảng sợ.

Tạ Tốn nói:

– Ngươi có biết sư phụ của ta là ai không? Ta thuộc môn phái nào? Ta đã làm những hảo sự gì nào?

Nguyên Quảng Ba ấp úng nói:

– Cái đó… Tạ tiền bối…

Về mấy điều đó, hắn quả thật chẳng biết gì hết. Tạ Tốn lạnh lùng nói:

– Mọi điều về ta, ngươi không hay biết chút nào cả, sao lại bảo ta đức cao vọng trọng, danh vang tứ hải? Ngươi chỉ quen xu nịnh, nói láo quen mồm! Ta bình sinh chúa ghét hạng tiểu nhân vô liêm sỉ như ngươi, mau ra đây!

Câu cuối cùng mỗi tiếng nghe vang như sấm, Nguyên Quảng Ba bị uy thế của Tạ Tốn khuất phục, cúi đầu đi tới trước mặt lão ta, thân hình không cưỡng được cứ run cầm cập.

Tạ Tốn nói:

– Phái Hải Sa các ngươi võ công tầm thường, chuyên dùng muối độc hại người. Năm ngoái ở Dư Diêu đã hại chết toàn gia Trương Đăng Vân, đầu tháng này Âu Dương Thanh bị chết ở Hải Môn, đều là hảo sự của ngươi phải không?

Nguyên Quảng Ba kinh hãi, nghĩ bụng hai vụ đó được thực hiện cực kỳ bí mật, làm sao lão kia biết được chứ? Tạ Tốn quát:

– Bảo thủ hạ của ngươi mang hai tô muối độc ra đây, để ta coi xem rốt cuộc nó như thế nào nào?

Bang chúng phái Hải Sa tên nào cũng mang theo muối độc, Nguyên Quảng Ba không dám trái lời, đành lệnh cho thủ hạ bưng ra hai tô muối độc.

Tạ Tốn cầm một tô đưa lên mũi ngửi ngửi, rồi nói:

– Hai ta, mỗi người xơi một tô.

Đoạn cắm cây lang nha bổng xuống đất, túm lấy Nguyên Quảng Ba, bóp vào quai hàm buộc hắn phải há to miệng không sao ngậm lại được, đoạn đổ hết cả tô muối độc vào đó.

Toàn gia Trương Đăng Vân ở Dư Diêu bị giết hại trong một đêm, Âu Dương Thanh bị chết ở Hải Môn trong khách điếm, là hai nghi án trong võ lâm năm qua. Trương Đăng Vân và Âu Dương Thanh thanh danh trên chốn giang hồ không đến nỗi nào, ai ngờ đều bị Nguyên Quảng Ba phái Hải Sa hãm hại. Trương Thúy Sơn thấy hắn bị bức phải nuốt muối độc thì cảm thấy có phần thích thú.

Tạ Tốn bưng tô muối độc thứ hai, nói:

– Tạ mỗ làm việc gì cũng công bằng, ngươi đã xơi hết một tô, ta cũng tiếp ngươi một tô.

Đoạn lão há to miệng, trút muối độc vào bụng.

Việc này hoàn toàn bất ngờ đối với tất cả mọi người. Trương Thúy Sơn thấy Tạ Tốn tuy hạ thủ tàn bạo nhưng chính khí ngang tàng, huống hồ mấy kẻ bị lão giết toàn là hạng hung ác, nên trong lòng nảy sinh hảo cảm đối với lão, không nhịn được bèn lên tiếng:

– Tạ tiền bối, hạng gian ác như hắn có chết cũng đáng tội, hà tất phải chịu đựng theo hắn?

Tạ Tốn quay sang, trừng mắt nhìn chàng. Trương Thúy Sơn mỉm cười, không hề sợ hãi. Tạ Tốn hỏi:

– Các hạ là ai?

Trương Thúy Sơn đáp:

– Vãn bối là Trương Thúy Sơn phái Võ Đang.

Tạ Tốn nói:

– Hừ, ngươi là Trương ngũ hiệp phái Võ Đang, cũng tới đây tranh đoạt thanh đao Đồ Long ư?

Trương Thúy Sơn lắc đầu nói:

– Vãn bối tới đây chỉ cốt tra vấn nguyên ủy vì sao sư ca Du Đại Nham của vãn bối bị đả thương. Tạ tiền bối nếu biết rõ vụ đó, những mong chỉ giáo.

Tạ Tốn chưa kịp nói thì nghe Nguyên Quảng Ba rú lên thảm thiết, ôm bụng lăn lộn dưới đất mấy vòng, rồi co rúm người mà chết. Trương Thúy Sơn vội giục:

– Tạ tiền bối mau uống thuốc giải độc đi!

Tạ Tốn nói:

– Uống thuốc giải độc làm gì? Mang rượu cho ta!

Gã ty tân chuyên lo việc tiếp khách của Thiên Ưng giáo vội bưng vò rượu và chén ra. Tạ Tốn quát:

– Thiên Ưng giáo tính khí nhỏ nhen, mau mang vò rượu lớn cho ta!

Gã ty tân bưng ra một vò rượu lớn, cung kính đặt trước mặt Tạ Tốn, nghĩ thầm: “Trúng độc rồi còn nốc rượu vào, chẳng lẽ lão ta sợ chết chưa đủ nhanh chắc?”

Chỉ thấy Tạ Tốn bưng vò rượu lên tu ừng ực. Vò rượu này chí ít cũng tới hai mươi cân rượu, vậy mà trong giây lát Tạ Tốn tu hết sạch. Lão vỗ vỗ mấy cái vào cái bụng phình to, rồi bỗng nhiên há mồm, một dòng rượu phun mạnh ra, trúng ngay giữa ngực Bạch Quy Thọ. Bạch Quy Thọ còn đang kinh ngạc, thì cột rượu phun trúng người, tựa hồ bị một quả chùy nặng hàng trăm cân liên tiếp giáng vào ngực, khiến cho lão dù nội công thâm hậu cũng không chịu nổi, lảo đảo ngã lăn ra bất tỉnh.

Tạ Tốn quay đầu lại, phun rượu lên trời, thành đám mưa rơi xuống, bao phủ đám người bang Cự Kình. Từ bang chủ Mạch Kình trở xuống, tên nào cũng bị dính rượu đầy đầu đầy mặt, thấy thứ rượu đó hôi tanh nồng nặc, những kẻ công lực kém một chút đều ngất lịm. Thì ra Tạ Tốn nốc rượu vào bụng để rửa sạch muối độc trong dạ dày, rồi dùng nội lực phun ra, hơn hai mươi cân rượu biến thành rượu độc; trong bụng chỉ còn một chút chất độc, so với nội công như của lão thì chút độc tố ấy chẳng thấm tháp gì.

Bang chủ bang Cự Kình là Mạch Kình bị Tạ Tốn giễu cợt như thế, cả giận đứng lên, nhưng nghĩ thế nào lại không dám lên tiếng, bèn ngồi xuống.

Tạ Tốn nói:

– Mạch bang chủ, hồi tháng Năm năm nay, ngươi có cướp một hải thuyền viễn dương ở Mân Giang Khẩu phải không?

Mạch Kình mặt xám lại như tro, đáp:

– Không sai.

Tạ Tốn nói:

– Các ngươi làm hải tặc, không cướp bóc thì lấy gì mà sống? Điều đó ta không trách cứ, thế nhưng ngươi lại quẳng hết mấy chục thương nhân vô tội xuống biển, cưỡng hiếp đến chết bảy phụ nữ, cái đó có phải là quá thương thiên hại lý hay không?

Mạch Kình ấp úng nói:

– Việc đó… là do các huynh đệ trong bang làm, chứ… không phải tại hạ.

Tạ Tốn nói:

– Thủ hạ của ngươi làm những việc cùng hung cực ác mà ngươi không ngăn cản, vậy có khác gì ngươi làm? Việc đó do những tên nào làm?

Mạch Kình lúc này chỉ mong mình thoát chết, liền rút yêu đao, nói:

– Thái Tứ, Hoa Thanh Sơn, Hải Mã Hồ Lục, việc hôm đó ba ngươi đều có phần!

Nói đoạn “phập, phập, phập”, hắn vung đao chém luôn ba tên thủ hạ; hắn xuất thủ quá nhanh, ba tên kia chưa kịp chống đỡ đã trúng đao chết liền.

Tạ Tốn nói:

– Được! Nhưng quá muộn, lại không phải ngươi thực tâm muốn thế. Giá như hôm đó ngươi giết ngay ba tên kia thì hôm nay ta cũng chẳng tỷ thí với ngươi làm gì. Mạch bang chủ, công phu sở trường của ngươi là gì?

Mạch Kình biết không còn cách né tránh, nghĩ thầm: “Tỷ thí với lão ta ở trên bộ, chỉ e mình không tiếp nổi ba chiêu; nhưng dưới biển là giang sơn của ta, lỡ thua kém ta còn có đường đào tẩu, chẳng lẽ về thủy tính mà lão ta cũng giỏi hơn ta sao?” bèn nói:

– Tại hạ muốn lĩnh giáo Tạ tiền bối công phu dưới nước.

Tạ Tốn nói:

– Được, vậy hai ta ra biển tỷ thí.

Đi được vài bước, Tạ Tốn bỗng nói:

– Hãy khoan, ta ra ngoài kia, chỉ e bọn ở đây sẽ đào tẩu!

Ai nấy cùng giật mình, nghĩ thầm: “Lão ta sợ mọi người chạy trốn, chả lẽ lão tính giết hết mọi người ở đây hay sao?”

Mạch Kình vội nói:

– Thực ra có xuống biển tỷ thí, tại hạ cũng không phải là đối thủ của Tạ tiền bối, tại hạ nhận thua cho rồi.

Tạ Tốn nói:

– Ừ, như thế càng tiện. Ngươi đã nhận thua thì dùng đao tự sát đi!

Mạch Kình giật mình, nói:

– Cái chuyện… cái chuyện tỷ thí, thắng bại là chuyện thường, cần gì phải tự sát… Tạ Tốn quát:

– Nói láo! Cái hạng ngươi mà đòi tỷ thí với ta! Hôm nay ta tới lấy mạng các ngươi. Chúng ta con nhà võ, tay người nào chẳng vấy máu? Nhưng Tạ mỗ bình sinh chỉ giết những người biết võ; chúa ghét kẻ có võ công ỷ mạnh hiếp yếu, sát hại phụ nữ trẻ con không biết võ. Phàm những kẻ như thế, hôm nay Tạ mỗ quyết không bỏ qua.

Trương Thúy Sơn nghe vậy, bất giác nhìn trộm Ân Tố Tố một cái, nghĩ thầm: “Nàng sát hại mấy chục mạng người già trẻ ở tiêu cục Long Môn, trong đó không ít người không biết võ công, Tạ Tốn mà biết việc đó, hẳn sẽ tính sổ với nàng”. Chỉ thấy Ân Tố Tố mặt trắng bệch, môi run run, chàng lại nghĩ thầm: “Nếu Tạ Tốn định giết nàng, mình có ra tay cứu hay không nhỉ? Mình ra tay cứu, chẳng qua chỉ là nộp mạng cho lão. Huống hồ tội nàng đáng bị… có điều… có điều… Chẳng lẽ mình trơ mắt nhìn nàng bị hành hung hay sao?” Chỉ nghe Tạ Tốn lại nói:

– Chỉ e các ngươi chết mà không phục, nên ta cho các ngươi một dịp thi triển tuyệt nghệ bình sinh, chỉ cần thắng được ta một ngón nào đấy, ta sẽ tha chết ngay.

Nói xong, Tạ Tốn cúi xuống móc hai nắm đất lên đổ rượu vào hòa thành hai nắm bùn, rồi nói với Mạch Kình:

– Thủy tính hay dở, là xem nín thở lặn dưới nước lâu mau. Ta và ngươi dùng bùn bịt kín mũi miệng, ai không chịu nổi, đưa tay móc bùn ra trước để thở, kẻ đó sẽ phải vung đao tự tận.

Đoạn lão cũng chẳng đợi Mạch Kình có đồng ý hay không đã đưa nắm bùn tay trái lên bịt kín mũi miệng của mình, rồi vung tay phải, “bạch” một tiếng, nắm bùn thứ hai bay tới bịt kín mũi miệng Mạch Kình.

Mọi người nhìn cảnh tượng đó tuy quá tức cười, nhưng không ai cười nổi.

Trước khi bị bịt mũi miệng, Mạch Kình đã hít một hơi dài, giờ hắn liền ngồi xếp bằng, nín thở bất động. Từ bảy tám tuổi, hắn đã quen lặn xuống biển mò cua bắt cá, thủy tính cực cao, có thể lặn tàn một nén nhang mới trồi lên mặt nước vẫn không bị ngộp thở; bởi vậy trong cuộc tỷ thí này hắn tự tin quyết không thể thua; hết sợ rồi, hắn ngưng thần tĩnh tâm để trụ được lâu hơn.

Tạ Tốn thì chẳng ngồi bất động như hắn mà sải bước tới bên bàn tiệc của Thần Quyền môn, trừng mắt nhìn gã chưởng môn là Quá Tam Quyền.

Quá Tam Quyền sởn tóc gáy trước ánh mắt của Tạ Tốn, đứng dậy ôm quyền nói:

– Thưa Tạ tiền bối, tại hạ là Quá Tam Quyền.

Tạ Tốn miệng bị bịt, không nói được, giơ ngón tay chấm vào rượu, viết lên mặt bàn ba chữ. Quá Tam Quyền tức thời mặt xám ngoét, thần sắc cực kỳ hoảng hốt, tưởng chừng thấy ma quỷ hiện hình. Các đệ tử của hắn cúi nhìn mặt bàn, thấy ba chữ “Thôi Phi Yên” do Tạ Tốn vừa viết, họ không hiểu Thôi Phi Yên là gì, nghe có vẻ như tên phụ nữ, tại sao sư phụ của họ lại hoảng sợ như thế chứ?

Quá Tam Quyền dĩ nhiên biết Thôi Phi Yên là chị dâu của hắn, hắn cưỡng dâm không thành nên đã giết chị ta. Quá Tam Quyền nghĩ bụng: “Chắc chắn lão không tha cho ta, chi bằng nhân lúc lão đang bị bùn bịt kín mũi miệng, ta toàn lực tấn công, lão mà vận khí phát quyền, ắt sẽ thua Mạch Kình”, bèn lớn tiếng nói:

– Tại hạ chấp chưởng Thần Quyền môn, bình sinh có học quyền pháp, xin lĩnh giáo tiền bối vài chiêu!

Cũng chẳng chờ Tạ Tốn dự phòng, hắn tung ngay một quyền vào bụng dưới của Tạ Tốn, một quyền đã đánh ra, quyền thứ hai sẽ tiếp liền. Cái tên Quá Tam Quyền xuất hiện chính là vì quyền lực của hắn cực mạnh, một quyền có thể đấm chết tươi một con trâu đực, một võ sư tầm thường không thể chịu nổi ba cú đấm của hắn, từ đó giang hồ truyền đi, chẳng ai còn nhớ tên thật của hắn là gì nữa. Hắn thầm biết rằng tình thế lúc này phải tấn công thật lẹ, nếu Mạch Kình không nín thở nổi, phải móc bùn ra trước thì Tạ Tốn cũng sẽ móc ra để thở. Giờ là lúc hắn chiếm lợi thế hoàn toàn, đối phương không thể hít khí vận lực, võ công sẽ mất đi phần lớn sức mạnh.

Hai quyền của hắn đánh ra, Tạ Tốn tiện tay hóa giải; Quá Tam Quyền cảm thấy kình lực của đối phương quá yếu, khác hẳn thần uy lúc lão đánh chết Thường Kim Bằng và phun ngã Bạch Quy Thọ. Hắn bèn quát to:

– Quyền thứ ba này!

Cú đấm thứ ba của hắn có tên hẳn hoi, gọi là “Hoành tảo thiên quân, trực thôi vạn mã”[29], là chiêu lợi hại nhất trong sở học bình sinh của hắn; không ít anh hùng hảo hán thành danh chốn giang hồ đã bị đả thương bởi cú đấm này.

Lúc đó Mạch Kình mặt đỏ tía tai, mồ hôi vã ra như tắm, khó bề chịu đựng thêm. Mạch thiếu bang chủ thấy tình thế của phụ thân vô cùng nguy cấp, còn Tạ Tốn đang mải đối phó với Quá Tam Quyền, y chợt nghĩ ra một mẹo, giơ tay rút một cái ngân thoa cài trên tóc một nữ đà chủ trong bang, bẻ lấy một đoạn chừng hơn tấc, rồi nhắm miệng Mạch Kình mà búng tới. Đoạn thoa ấy tuy không khỏi làm tổn thương răng lợi của Mạch Kình, song sẽ tạo nên một lỗ thủng nhỏ qua lớp bùn, không khí theo đó được hít vào, Mạch Kình sẽ không thể thua cuộc.

Đoạn ngân thoa còn cách Mạch Kình hơn một trượng, Tạ Tốn liếc mắt thấy, liền giơ chân hất một cục đá nhỏ dưới đất lên trúng đoạn ngân thoa. Nó bay ngược trở lại, thế nhanh dị thường, chỉ nghe Mạch thiếu bang chủ rú lên một tiếng ái” thảm thiết, giơ tay ôm mắt phải, máu tươi chảy ròng ròng qua kẽ tay, thì ra đoạn ngân thoa đã đâm mù một con mắt của y.

Mạch Kình đưa tay định móc bùn ở mũi ra thở, Tạ Tốn liền đá hai cục đá lên, nghe hai tiếng “pạch, pạch”, trúng hai bả vai của Mạch Kình, làm gãy xương bả vai khiến hai tay hắn không thể động đậy được nữa.

Lúc ấy cú đấm thứ ba của Quá Tam Quyền đánh trúng vào bụng dưới của Tạ Tốn. Quyền này thế như sấm sét, chưa tới mà đã rất uy mãnh. Quá Tam Quyền cho rằng đối phương không dám tiếp cú đấm này, sẽ phải né tránh, nhưng bất kể né phải tránh trái, rướn lên cao rùn xuống thấp, hắn cũng đã chuẩn bị sẵn đòn lợi hại tiếp theo. Nào ngờ Tạ Tốn chẳng hề di động thân hình. Quá Tam Quyền cả mừng, cú đấm thôi sơn của hắn giáng trúng bụng dưới của Tạ Tốn. Trên cơ thể người ta, bụng dưới vốn là nơi rất mềm, đằng này quyền của hắn đấm tới lại không khác gì đụng vào sắt đá, lúc biết nguy tai thì đã hộc máu chết.

Tạ Tốn quay đầu lại thấy Mạch Kình hai mắt trợn lên toàn lòng trắng, khí đã tuyệt hẳn. Lão móc bùn khỏi mũi miệng của Mạch Kình trước, thử xem tên đó còn thở hay không rồi mới gỡ bùn khỏi miệng mình, ngửa mặt lên trời cười một hồi, nói:

– Hai tên này bình sinh tác ác đa đoan, hôm nay mới bị báo ứng là hơi muộn.

Nói rồi lão đưa cặp mặt sáng quắc như tia chớp nhìn hai kiếm khách phái Côn Luân, từ Cao Tắc Thành sang Tưởng Đào, rồi lại quét từ Tưởng Đào sang Cao Tắc Thành, hồi lâu không nói.

Cao, Tưởng hai gã mặt trắng bệch, nhưng vẫn hiên ngang tay nắm đốc kiếm, giương mắt nhìn đối phương.

Trương Thúy Sơn thấy Tạ Tốn trong khoảnh khắc hạ sát liền các thủ lĩnh của bốn đại bang hội, lúc này hẳn đang định hạ sát Cao Tắc Thành và Tưởng Đào, chàng bèn đứng dậy nói:

– Tạ tiền bối, cứ theo lời tiền bối, thì mấy kẻ vừa bị giết đều đáng chết vì quá nhiều tội, bị báo ứng. Nhưng nếu tiền bối cứ ra tay lạm sát, chẳng phân biệt nếp tẻ gì hết, thì có khác chi bọn chúng?

Tạ Tốn cười nhạt, nói:

– Có khác chi ư? Ta võ công cao, chúng võ công thấp, mạnh thắng yếu bại, khác ở chỗ đó đấy.

Trương Thúy Sơn nói:

– Người khác cầm thú ở chỗ phân biệt phải trái, nếu cứ ỷ mạnh hiếp yếu, vậy khác gì cầm thú?

Tạ Tốn cười ha hả, nói:

– Lẽ nào trên thế gian có phân biệt phải trái thật sao? Người Mông Cổ làm hoàng đế, muốn giết bao nhiêu người Hán thì giết, có nói chuyện phải trái với ngươi hay không? Bọn Mông Cổ muốn cướp vợ con, vàng ngọc của người Hán là cứ việc đưa tay ra cướp, người Hán mà không chịu, chúng rút đao chém liền, chúng có nói chuyện phải trái với ngươi hay không?

Trương Thúy Sơn im lặng một lát, rồi nói:

– Bọn Mông Cổ tàn ác bạo ngược, hoành hành như cầm thú, phàm những ai có chí khí, đều nghiến răng căm hận chúng, ngày đêm mong mỏi đuổi bọn Thát tử, lấy lại giang sơn.

Tạ Tốn nói:

– Thời trước người Hán làm hoàng đế, có phân biệt phải trái hay không? Nhạc Phi là đại trung thần, tại sao lại bị Tống Cao Tông giết hại? Tần Cối là đại gian thần, tại sao lại được giữ địa vị cao, tận hưởng vinh hoa phú quý?

Trương Thúy Sơn nói:

– Các hoàng đế Nam Tống trọng dụng gian thần, sát hại bậc trung lương, bài xích danh tướng, cuối cùng để giang sơn gấm vóc rơi vào tay bọn dị tộc, trồng cái nhân ác, hái cái quả ác, đó cũng là phân biệt phải trái.

Tạ Tốn nói:

– Hoàng đế Nam Tống hôn quân vô đạo đã đi một nhẽ, nhưng người Hán khắp thiên hạ đều bị bọn Mông Cổ, bọn người Kim tàn sát, thử hỏi Trương ngũ hiệp, bách tính có làm gì ác mà phải chịu bao nhiêu tai họa như vậy?

Trương Thúy Sơn im lặng.

Đột nhiên Ân Tố Tố lên tiếng:

– Bách tính vô quyền vô dũng, dĩ nhiên phải bị người ta chém giết. Người ta là dao thớt, mình là cá thịt, chuyện ấy âu cũng là lẽ thường trên đời.

Trương Thúy Sơn nói:

– Chúng ta khổ công học võ là để giải oan cứu khổ, diệt cường bạo, giúp kẻ yếu. Tạ tiền bối anh hùng vô địch, nếu đem võ công tuyệt thế này đi hành hiệp thiên hạ, người người đều được hưởng phúc lành.

Tạ Tốn nói:

– Hành hiệp trượng nghĩa có gì là tốt? Tại sao phải hành hiệp trượng nghĩa?

Trương Thúy Sơn ngẩn ra, từ nhỏ, trước khi học võ, chàng đã được sư phụ giáo huấn hành hiệp trượng nghĩa là đại sự phải làm suốt đời, cho nên học võ chính là để hành hiệp, hành hiệp là gốc, học võ chỉ là cái ngọn. Trong tâm trí, chưa khi nào chàng tự hỏi hành hiệp trượng nghĩa có gì là tốt? Tại sao lại phải hành hiệp trượng nghĩa? Chàng chỉ coi đó là cái lý đương nhiên, hoàn toàn sáng tỏ, căn bản không phải bận tâm suy nghĩ; lúc này nghe Tạ Tốn hỏi như thế, chàng ngây người, lát sau mới nói:

– Hành hiệp trượng nghĩa là để khuếch trương chính nghĩa, sao cho thiện được đền đáp, ác bị quả báo.

Tạ Tốn cười một hồi, nói:

– Thiện được đền đáp, ác bị quả báo! Ha ha, toàn là nói láo! Ngươi thử nói xem, trong võ lâm có chuyện thiện được đền đáp, ác bị quả báo thực không?

Trương Thúy Sơn nhớ đến Du Đại Nham, tam sư ca của chàng một đời làm bao nhiêu việc thiện, bỗng dưng lại bị thảm họa như thế, tám chữ “thiện được đền đáp, ác bị quả báo” kia chính chàng cũng khó tin là có thực, đành thở dài, nói:

– Đạo trời khó nói, việc người khó biết. Chúng ta chỉ mong tâm được an, thấy việc nghĩa thì làm, còn chuyện họa hay phúc, chả nên tính đến làm gì.

Tạ Tốn liếc xéo Trương Thúy Sơn một cái, nói:

– Nghe đồn tôn sư Trương Tam Phong tiên sinh võ công quán thế, tiếc rằng chưa có duyên diện kiến. Ngươi là cao đồ của y mà kiến thức tầm thường như thế, thiết tưởng Trương Tam Phong cũng chẳng hơn gì, không diện kiến cũng chẳng sao.

Trương Thúy Sơn nghe lời lẽ của lão hiển nhiên có ý coi thường ân sư thì không nhịn nổi, nói:

– Ân sư của vãn bối sở học cao siêu, kẻ phàm phu tục tử há có thể đo lường. Tạ tiền bối võ công cao cường, vãn bối hậu học không sánh kịp, nhưng so với ân sư, chẳng qua chỉ là cái dũng của kẻ thất phu mà thôi.

Ân Tố Tố kéo kéo vạt áo chàng, ngụ ý khuyên chàng tạm thời nhịn nhục để tránh cái họa trước mắt. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: “Đại trượng phu thà chết, quyết không để lão ta làm nhục ân sư”.

Nào ngờ Tạ Tốn chẳng hề nổi giận, chỉ thản nhiên nói:

– Trương Tam Phong tiên sinh khai sáng tông phái, võ công chắc hẳn cao siêu hơn người. Võ học chi đạo, vô cùng vô tận, ta không bì kịp tôn sư thì cũng chẳng có gì lạ. Rồi sẽ có ngày ta lên núi Võ Đang lĩnh giáo một phen. Này Trương ngũ hiệp, công phu sở trường nhất của ngươi là gì, Tạ mỗ muốn được biết đến.


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.

 Bình luận