Ỷ Thiên Đồ Long ký

Hồi 15: Kì Mưu Bí Kế Mộng Nhất Trường

trước
tiếp

Trương Vô Kỵ và Dương Bất Hối cùng đi với nhau cả vạn dặm sang Tây Vực, lúc nào cũng như hình với bóng, giờ đột nhiên chia tay, Vô Kỵ cảm thấy thật trống vắng, nhưng nghĩ mình đã không phụ sự ủy thác của Kỷ Hiểu Phù, đưa cô bé giao tận tay Dương Tiêu, thì trong lòng rất được an ủi. Cậu đứng ngơ ngẩn một hồi, sợ chạm trán với bọn Hà Thái Xung, Ban Thục Nhàn phái Côn Luân nên cứ nhắm rừng sâu mà đi vào.

Đi như thế hơn chục ngày, vết thương ở cánh tay đã đỡ, song Trương Vô Kỵ vẫn cứ loanh quanh trong dãy Côn Luân, chưa tìm được đường ra khỏi núi. Hôm ấy cậu đi đã nửa ngày, ngồi trên một tảng đá nghỉ chân, bỗng nghe từ phía tây bắc vọng lại tiếng sủa của hàng chục con chó. Tiếng chó sủa mỗi lúc một gần, dường như chúng đang đuổi theo một con dã thú.

Trong tiếng chó sủa, có một con khỉ nhỏ hốt hoảng chạy tới, mông nó cắm một mũi tên ngắn. Con khỉ ấy chạy đến cách Trương Vô Kỵ hơn một trượng thì ngã lăn ra, vì mông trúng tên nên không thể leo cây cao, nó chạy tới đây thì kiệt sức, không gượng nổi nữa. Trương Vô Kỵ bước tới nhìn, con khỉ ánh mắt lộ vẻ van lơn hoảng sợ. Trương Vô Kỵ động lòng, nghĩ thầm: “Ta bị phái Côn Luân truy đuổi, cũng khốn khổ chẳng khác gì ngươi”. Cậu bèn bế con khỉ lên, nhẹ nhàng rút mũi tên ra, lấy thuốc trong bọc rịt vết thương cho nó.

Lúc ấy tiếng chó sủa đã tới gần. Trương Vô Kỵ mở vạt áo, giấu con khỉ vào bên trong, chỉ nghe nhiều tiếng gâu gâu, mười mấy con chó săn cao lớn, răng nhọn vây quanh cậu. Lũ chó săn đánh hơi theo dấu con khỉ, nhe răng gầm gừ, nhất thời chưa dám xông vào. Trương Vô Kỵ thấy lũ chó thật dữ tợn, răng dài trắng nhởn thì thầm hoảng sợ, biết chỉ cần ném con khỉ ra, bầy chó sẽ vồ lấy con khỉ và không làm gì mình cả. Nhưng từ nhỏ cậu đã nghe cha dạy, rằng mọi việc đều phải lấy hiệp nghĩa làm trọng, đối với một con thú hoang cũng không phụ bạc, thế là cậu bèn nhảy vọt qua đầu lũ chó săn, co giò chạy. Lũ chó lập tức vừa sủa vừa hung hăng đuổi theo.

Chó săn chạy rất nhanh, Trương Vô Kỵ chỉ chạy được hơn chục trượng thì lũ chó đã đuổi kịp, chỉ thấy đùi đau nhói đã bị một con chó ngoạm trúng, giữ rịt không nhả ra. Trương Vô Kỵ vội quay đầu, giáng một chưởng thật mạnh trúng đầu con chó ấy khiến nó văng đi, nằm chết ngất. Lũ chó còn lại lập tức xông tới.

Trương Vô Kỵ tay đấm chân đá, ra sức chống cự. Cánh tay trái đau chưa khỏi hẳn, không cử động mạnh được nên chẳng mấy chốc đã bị một con chó ngoạm phải, rồi lũ chó từ bốn phía xông vào cắn loạn xạ, đầu mặt vai lưng chỗ nào cũng bị chó cắn phải. Trong cơn kinh hoảng, nghe như có tiếng người thanh thanh quở chó, nhưng xem chừng ở rất xa, mắt cậu tối sầm, thế là không biết gì nữa.

Trong cơn hôn mê, hình như có vô số sói lang hổ báo cắn xé thân thể mình, Trương Vô Kỵ muốn há miệng kêu to, nhưng không thốt ra được tiếng nào, chợt nghe có tiếng người nói:

– Bớt sốt rồi, may mà không chết.

Trương Vô Kỵ mở mắt, vật đầu tiên nhìn thấy là một ngọn đèn vàng vọt, phát hiện mình đang nằm trong một căn phòng nhỏ, một hán tử trung niên đứng trước mắt. Trương Vô Kỵ nói:

– Đại… đại thúc… sao cháu…

Chỉ nói vài tiếng, đã thấy toàn thân đau nhức như phải bỏng, mới từ từ nhớ lại là mình bị một bầy chó săn điên cuồng cắn xé. Hán tử nói:

– Tiểu tử, mạng ngươi lớn lắm, không chết đâu, ngươi thấy thế nào?

Trương Vô Kỵ nói:

– Cháu… cháu ở đâu vậy?

Các vết thương đau tấy lên khiến cậu lại ngất đi.

Lần thứ hai tỉnh dậy, hán tử trung niên không còn ở trong phòng. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: “Ta còn sống chẳng bao lâu, sao phải chịu lắm sự giày vò thế này?” Cúi đầu nhìn thấy cổ, ngực, cánh tay, chân chỗ nào cũng băng bó, mùi thuốc xộc lên mũi, thì ra có người đã bó thuốc vào các vết thương. Căn cứ mùi dược thảo, biết ngay người trị thương trình độ non kém, dùng các vị dược liệu như Hạnh Nhân, Mã Tiền Tử, Phòng Phong, Nam Tinh, là các vị thuốc trị chó dại cắn, hoặc để giải độc cũng rất kiến hiệu; nhưng cắn cậu đâu phải là chó dại, cậu chỉ bị thương ở bắp cơ, gân cốt; thuốc không đúng bệnh, chỉ tăng thêm đau đớn. Trương Vô Kỵ không thể ngồi dậy nổi, đợi khi trời sáng,  Hán tử kia mới lại ghé thăm.

Trương Vô Kỵ nói:

– Đại thúc, đa tạ đại thúc đã cứu cháu!

Hán tử lạnh lùng nói:

– Đây là Hồng Mai sơn trang, tiểu thư của chúng tôi cứu ngươi đó. Ngươi đói bụng chưa?

Đoạn hán tử kia đi ra, rồi bưng vào một tô cháo nóng. Trương Vô Kỵ húp mấy miếng, thấy tức ngực, chóng mặt nên không ăn nữa.

Trương Vô Kỵ nằm liệt giường tám ngày, mới gắng gượng ngồi dậy, nhưng dưới chân bồng bềnh không có sức. Cậu biết mình mất máu quá nhiều, nhất thời không dễ hồi phục. Hán tử kia mỗi ngày mang cơm, thay thuốc cho cậu, rõ ràng có vẻ phiền toái khó chịu, Trương Vô Kỵ vô cùng cảm kích, nhưng thấy hán tử không ưa trò chuyện, nên rất nhiều nghi vấn mà cậu không dám hỏi. Hôm nay thấy hán tử lại mang mấy vị thuốc Phòng Phong, Nam Tinh đã giã nát thành hồ, Trương Vô Kỵ nhịn không nổi, nói:

– Đại thúc, mấy thứ này trị không đúng bệnh, phiền đại thúc đổi cho vài vị khác được chăng?

Hán tử trừng mắt nhìn Trương Vô Kỵ hồi lâu, rồi nói:

– Bài thuốc này do lão gia kê đơn, sai làm sao được? Ngươi bảo thuốc không trị đúng bệnh, thế sao ngươi chết đi mà sống lại đó? Ta bảo thực, trẻ con đừng nói bậy nói bạ, lão nhân gia nghe thấy thì đừng trách, ngươi nên biết điều một chút.

Đoạn lấy thuốc đắp lên các vết thương cho Trương Vô Kỵ. Cậu đành gượng cười chịu đựng.

Hán tử nói:

– Ta thấy các vết thương của ngươi đã bớt nhiều, ngươi cũng nên đi gặp lão gia, thái thái, tiểu thư mà khấu đầu tạ ơn cứu mạng.

Trương Vô Kỵ nói:

– Việc đó nên lắm, nhờ đại thúc dẫn tôi đi giùm.

Hán tử dẫn cậu ra khỏi phòng, qua một hành lang dài, lại đi qua hai sảnh đường, tới một căn phòng ấm áp. Bấy giờ là đầu mùa đông, dãy núi Côn Luân khí hậu lạnh giá, nhưng căn phòng này ấm áp như mùa xuân, không biết lò sưởi đặt ở chỗ nào. Trong phòng trần thiết huy hoàng xán lạn, phản và ghế đều trải nệm gấm mềm. Trương Vô Kỵ trước nay chưa từng thấy nơi nào sang trọng thế này, mình thì quần áo dơ dáy, bước vào đây chẳng xứng chút nào thì bất giác hổ thẹn.

Trong phòng không có ai, nhưng hán tử tỏ vẻ hết mực cung kính, khom lưng bẩm báo:

– Tiểu tử bị chó cắn đã khỏe lại, nay đến khấu đầu tạ ơn lão gia, thái thái.

Nói xong, y đứng nghiêm chờ, đến thở cũng không dám thở mạnh.

Một lát, từ sau bình phong bước ra một thiếu nữ chừng mười lăm, mười sáu tuổi, liếc xéo Trương Vô Kỵ một cái, nói:

– Kiều Phúc, sao ông lại dẫn cậu ta tới đây, lỡ chấy rận trên người nó bò ra thì làm thế nào?

Kiều Phúc nói:

– Dạ phải, dạ phải!

Trương Vô Kỵ vốn đang hồi hộp lo lắng, nghe vậy liền đỏ mặt, ngoài bộ quần áo mặc trên người, cậu chẳng còn bộ nào khác để thay, quả có sinh ra chấy rận thật, nghĩ bụng vị tiểu thư kia nói không sai. Thiếu nữ mặt trái xoan, tóc xõa vai, y phục không biết lụa là gấm vóc gì mà lấp lánh phát quang, tay đeo vòng vàng, một tiểu thư trang sức sang trọng như thế, Trương Vô Kỵ chưa gặp bao giờ, cậu nghĩ thầm: “Khi ta bị lũ chó vây cắn, hình như có tiếng một thiếu nữ quở chúng. Kiều Phúc đại thúc lại bảo tiểu thư của y cứu mình, vậy mình nên rập đầu tạ ơn cho phải”. Nghĩ vậy, cậu bèn quỳ xuống khấu đầu, nói:

– Đa tạ tiểu thư cứu mạng, suốt đời tại hạ không dám quên đại ân.

Thiếu nữ kia kinh ngạc, đột nhiên cười khúc khích, nói:

– Kiều Phúc, Kiều Phúc, nó làm trò gì thế? Ông đùa giỡn thằng ngốc ấy đấy ư?

Kiều Phúc cười, đáp:

– Tiểu Phụng tỷ tỷ, thằng ngốc này có quỳ lạy tỷ tỷ vài cái cũng được chứ sao. Thằng bé đần độn chưa bao giờ ra ngoài đời, cứ ngỡ tỷ tỷ là tiểu thư! Thực ra, a hoàn trong sơn trang chúng ta còn hơn cả thiên kim tiểu thư nhà người.

Trương Vô Kỵ ngẩn người, vội đứng dậy, nghĩ thầm: “Chết rồi! Hóa ra nàng ta chỉ là một a hoàn, thế mà mình lại tưởng là tiểu thư”. Mặt cậu vừa đỏ vừa tái đi, thật ngượng không để đâu cho hết.

Tiểu Phụng cố nhịn cười, nhìn Trương Vô Kỵ từ đầu xuống chân. Mặt mũi thân thể cậu, vết máu lau chưa sạch, chỗ chó cắn thì băng bó, cậu tự biết mình hôi hám khó coi, hận không có cái lỗ nẻ để chui xuống đất. Tiểu Phụng giơ tay che mũi, nói:

– Lão gia, thái thái đang bận, chỉ có thể đến chào tiểu thư thôi.

Nói xong Tiểu Phụng đi vòng ra, tránh xa Trương Vô Kỵ, đi trước dẫn đường mà cứ sợ chấy rận từ người Trương Vô Kỵ nhảy sang người mình. Trương Vô Kỵ đi theo sau Kiều Phúc và Tiểu Phụng, trên đường gặp nô tì, gia nhân ai nấy trang phục đẹp đẽ, lầu son gác tía chỗ nào cũng cực kỳ sang trọng. Cậu từ khi sinh ra đến mười tuổi sống ở Băng Hỏa đảo, mấy năm sau thì một nửa sống trên núi Võ Đang, một nửa sống ở Hồ Điệp cốc, sinh sống vô cùng đơn giản, dù có nằm mơ cũng không tưởng tượng trên thế gian lại có một gia trang giàu sang thế này.

Đi một hồi đến trước một tòa đại sảnh, thấy treo tấm biển đề ba chữ “Linh Ngao doanh”. Tiểu Phụng bước vào trước, lát sau đi ra vẫy tay, Kiều Phúc bèn dẫn Trương Vô Kỵ vào sảnh.

Vừa bước vào, Trương Vô Kỵ đã giật mình. Chỉ thấy trong sảnh có hơn ba chục con chó săn to khỏe hung dữ, chia thành ba hàng ngồi dưới đất, một thiếu nữ mặc áo lông màu trắng ngồi trên chiếc ghế lót da hổ, tay cầm roi da, miệng quát:

– Tiền tướng quân, yết hầu!

Một con mãnh khuyển nghe lệnh liền vọt tới cắn ngay vào cổ họng một người đứng bên tường.

Trương Vô Kỵ nhìn cảnh đó quá tàn nhẫn, nhịn không nổi, kêu ôi chao”, thấy con chó ngoạm một miếng thịt, cúi xuống xé ăn. Cậu định thần nhìn kỹ, thì ra người đứng bên tường chỉ là một hình nhân bằng da, những vị trí yếu hại trên thân thể có treo các miếng thịt. Thiếu nữ kia lại quát:

– Xa Kỵ tướng quân, bụng dưới!

Con mãnh khuyển thứ hai nhảy tới táp vào bụng hình nhân. Lũ chó được huấn luyện đâu ra đấy, theo lệnh mà cắn đúng từng vị trí một.

Trương Vô Kỵ sau phút sững sờ, lập tức nhận ra kia chính là bầy ác khuyển đã cắn xé mình trong núi, tiếng quở chó chính là giọng của thiếu nữ này. Cậu vẫn nghĩ tiểu thư là ân nhân cứu mạng, giờ mới biết mình bị bao đau đớn khổ sở cũng chính do thiếu nữ này gây nên, nộ khí bừng bừng bốc lên đầu, nghĩ thầm: “Thôi, thôi rồi, cô nàng có đàn chó trợ lực, ta chẳng làm gì nổi đâu! Nếu sớm biết thế này, thà chết trong núi hoang, còn hơn nằm dưỡng thương ở nhà cô nàng”. Cậu bèn giật vải băng bó vứt xuống đất, quay mình đi ra.

Kiều Phúc kêu lên:

– Này, này, ngươi làm gì vậy? Đây chính là tiểu thư, sao ngươi không tới khấu đầu?

Trương Vô Kỵ tức giận nói:

– Hừ, ta phải tạ ơn nàng ta ư? Lũ ác khuyển cắn ta chẳng phải do nàng ta nuôi hay sao?

Thiếu nữ quay đầu lại, thấy Vô Kỵ nổi cáu, liền mỉm cười, vẫy tay gọi:

– Tiểu huynh đệ, lại đây đi!

Trương Vô Kỵ đối diện với thiếu nữ, trống ngực đột nhiên đập thình thình. Nàng ta dung nhan kiều diễm, nước da trắng trẻo mịn màng. Tai cậu ù đi, lưng toát mồ hôi lạnh, chân tay run run, vội cúi đầu không dám nhìn, mặt xanh xao phút chốc bỗng đỏ bừng.

Thiếu nữ cười, giục:

– Tiểu huynh đệ, lại đây nào!

Trương Vô Kỵ ngẩng đầu, liếc nàng ta một cái, gặp ngay làn thu ba long lanh, trong lòng cậu chợt mơ mơ hồ hồ, chân tự dưng thong thả bước tới.

Thiếu nữ mỉm cười, nói:

– Tiểu huynh đệ giận ta, phải không?

Trương Vô Kỵ bị bầy chó cắn xé, chịu bao khổ sở, lẽ nào không căm tức? Nhưng lúc này đứng trước mặt thiếu nữ, chỉ cảm thấy nàng tỏa ra mùi hoa lan thơm mát khiến cậu ngất ngây, làm sao còn thốt ra được chữ “giận”, bèn lắc đầu, nói:

– Không đâu!

Thiếu nữ nói:

– Ta họ Chu, tên là Cửu Chân, còn tiểu huynh đệ?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Ta là Trương Vô Kỵ.

Chu Cửu Chân nói:

– Vô Kỵ, Vô Kỵ! Ồ cái tên này nghe thật cao nhã, tiểu huynh đệ hẳn phải là đệ tử thế gia! Nào, ngồi xuống đây đi.

Nói xong nàng chỉ chiếc ghế thấp bên cạnh mình. Trương Vô Kỵ từ thuở cha sinh mẹ đẻ tới giờ đây là lần đầu cảm thấy ma lực kinh tâm động phách của mỹ nữ, lúc này Chu Cửu Chân có bảo cậu nhảy vào lửa, chắc cậu cũng không chút do dự nhảy ngay, nghe nàng bảo ngồi xuống bên cạnh, thực là hoan hỉ không để đâu cho xiết, liền rón rén ngồi xuống.

Tiểu Phụng và Kiều Phúc thấy tiểu thư biệt đãi gã thiếu niên vừa dơ dáy, vừa hôi hám như thế thì quá bất ngờ.

Chu Cửu Chân lại quát, giọng trong trẻo:

– Chiết Xung tướng quân, tâm khẩu.

Một con chó lớn xông lên, đớp vào hình nhân. Nhưng miếng thịt ở tâm khẩu của hình nhân đã bị con chó khác đớp mất rồi, nên con Chiết Xung tướng quân bèn đớp miếng thịt khác treo ở mạng sườn hình nhân mà ăn. Chu Cửu Chân giận dữ nói:

– Đồ tham ăn, mi không tuân lệnh hả?

Cây roi da trong tay nàng quất liền hai cái vút vút. Cây roi có nhiều gai nhọn, nên để lại trên lưng con chó hai vệt máu dài. Con chó vẫn chưa chịu nhả miếng thịt, lại còn gầm gừ ra uy. Chu Cửu Chân quát to:

– Mi vẫn không tuân lệnh hả?

Cây roi dài lại vung ra quật tới tấp, thân con chó máu tươi dầm dề. Thủ pháp đánh roi của nàng rất linh hoạt, con chó lăn lộn né tránh cách mấy cũng không thoát. Cuối cùng nó phải nhả miếng thịt, nằm phục dưới đất bất động, mồm rên ư ử. Song Chu Cửu Chân vẫn chưa tha, tiếp tục đánh đến lúc con chó chỉ còn thở thoi thóp mới nói:

– Mang nó đi bó thuốc!

Kiều Phúc đáp:

– Vâng, tuân lệnh tiểu thư.

Rồi ôm con chó bị thương ra khỏi sảnh, giao cho người nô bộc chuyên nuôi chó lo liệu.

Bầy chó thấy cảnh vừa rồi, con nào con nấy sợ mất mật, không dám nhúc nhích.

Chu Cửu Chân trở lại ghế ngồi, quát:

– Bình Khấu tướng quân, đùi trái! Uy Viễn tướng quân, tay phải! Chinh Đông tướng quân, mắt!

Từng con chó nghe lệnh lao tới cắn vào đúng bộ vị của hình nhân. Mấy chục con chó dữ, con nào cũng được phong hàm tướng quân, nàng chỉ huy tất cả, dĩ nhiên là đại nguyên soái.

Chu Cửu Chân quay đầu lại, mỉm cười:

– Tiểu huynh đệ thấy mấy con súc sinh này có hèn không? Không cho một trận đòn thì cấm có chịu vâng lệnh.

Trương Vô Kỵ tuy bị lũ chó cắn cho một trận khốn khổ, nhưng chứng kiến thảm trạng của con chó bị đòn thì không khỏi chạnh lòng. Chu Cửu Chân thấy cậu im lặng, cười hỏi:

– Tiểu huynh đệ bảo không giận ta, sao không trả lời? Tiểu huynh đệ làm sao đến được Tây Vực? Cha mẹ ở đâu?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: “Mình bơ vơ thế này, nhắc đến tên tuổi thái sư phụ và phụ mẫu chỉ làm nhục họ thôi”, bèn đáp:

– Cha mẹ đã qua đời, ở Trung nguyên khó sống nên bỏ xứ đi lưu lạc tới chốn này.

Chu Cửu Chân nói:

– Ta bắn con khỉ, ai bảo tiểu huynh đệ giấu nó vào trong bụng? Đói quá nên định ăn thịt khỉ phải không? Ai ngờ bị bầy chó của ta xông vào cắn xé tơi bời.

Trương Vô Kỵ đỏ mặt, lắc đầu lia lịa:

– Ta không định ăn thịt con khỉ đâu.

Chu Cửu Chân cười tươi:

– Trước mặt ta, tiểu huynh đệ không được chối quanh, nghe chưa?

Chợt nhớ ra chuyện gì đó, nàng hỏi:

– Tiểu huynh đệ đã học môn võ gì thế? Giáng một chưởng khiến con Tả tướng quân của ta vỡ đầu chết tươi, chưởng lực không phải nhẹ.

Trương Vô Kỵ nghe nàng bảo mình đã đánh chết con chó quý của nàng ta, không khỏi ân hận, nói:

– Lúc đó ta hoảng sợ, ra tay có lẽ hơi nặng. Hồi nhỏ ta có mấy năm học quyền cước của cha ta, chứ có biết võ công gì đâu.

Cửu Chân gật đầu, nói với Tiểu Phụng:

– Ngươi hãy đưa người này đi tắm rửa, thay quần áo.

Tiểu Phụng vâng dạ, dẫn Trương Vô Kỵ đi ra. Trương Vô Kỵ lưu luyến, ra đến cửa còn quay đầu lại nhìn Chu Cửu Chân một cái, không ngờ lúc ấy Chu Cửu Chân cũng đang nhìn theo cậu; bắt gặp ánh thu ba long lanh của nàng, Trương Vô Kỵ cả thẹn, mặt đỏ tận chân tóc, hồn vía đâu đâu, không nhìn thấy bậc cửa, vấp một cái ngã chúi về phía trước. Thân mình đầy vết thương, nay lại ngã nhào khiến người đau nhoi nhói mà không dám kêu, vội lồm cồm bò dậy. Tiểu Phụng cười khúc khích, nói:

– Gặp tiểu thư nhà ta, ai cũng thần hồn điên đảo. Cậu này còn nhỏ mà cũng đáo để nhỉ?

Trương Vô Kỵ luống cuống vội rảo bước đi trước. Được một quãng, Tiểu Phụng lại cười, nói:

– Cậu vào phòng của thái thái để tắm rửa, thay quần áo hả?

Trương Vô Kỵ dừng chân nhìn kỹ, thấy căn phòng trước mặt rèm thêu trướng rủ, chỗ này cậu chưa tới bao giờ, mới biết mình đã đi lạc đường. Tiểu Phụng là a hoàn láu lỉnh, chả bảo trước, đợi lúc cậu nhầm chỗ rồi mới buông lời châm chọc.

Trương Vô Kỵ mặt đỏ bừng, cúi đầu im lặng. Tiểu Phụng nói:

– Cậu hãy gọi ta “Tiểu Phụng tỷ tỷ, xin tỷ tỷ giúp cho”, ta sẽ dẫn cậu đi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tiểu Phụng tỷ tỷ…

Tiểu Phụng giơ một ngón tay lên má, giả bộ nghiêm trang, hỏi:

– Cậu gọi gì ta?

Trương Vô Kỵ nói:

– Xin tỷ tỷ giúp cho.

Tiểu Phụng cười, nói:

– Thế mới phải chứ.

Rồi dẫn Trương Vô Kỵ trở lại căn phòng nhỏ của cậu, nói với Kiều Phúc:

– Tiểu thư dặn là cho cậu ta tắm rửa, thay bộ đồ sạch sẽ.

Kiều Phúc đáp:

– Vâng, vâng.

Thái độ rất cung kính, xem ra Tiểu Phụng tuy cũng chỉ là một a hoàn nhưng có địa vị cao hơn bọn tì bộc tầm thường. Năm, sáu nam bộc bước tới, đứa này chào “Tiểu Phụng tỷ tỷ”, đứa kia chào “Tiểu Phụng tỷ tỷ”. Tiểu Phụng chả thèm để ý tới họ, đột nhiên quay lại vái Trương Vô Kỵ một vái. Trương Vô Kỵ ngạc nhiên:

– Tiểu Phụng tỷ tỷ… sao lại… Tiểu Phụng cười, đáp:

– Lúc nãy cậu khấu đầu lạy ta, bây giờ ta trả lễ đó.

Rồi đi ra ngoài.

Kiều Phúc bèn đem chuyện Trương Vô Kỵ nhận lầm Tiểu Phụng là tiểu thư, nên khấu đầu lạy nàng ta ra kể lại, còn thêm mắm thêm muối, nghe thật khôi hài, khiến cả đám nam bộc cười rộ một hồi. Trương Vô Kỵ cúi đầu bước vào phòng, cũng chẳng tức giận, chỉ ôn lại từng lời nói, nụ cười của tiểu thư vừa rồi.

Tắm rửa xong, thấy Kiều Phúc mang lại cho cậu bộ quần áo màu xanh, may kiểu thân thẳng, dùng cho nô bộc, thì Trương Vô Kỵ thầm tức giận: “Ta đâu phải là đầy tớ thấp kém, sao lại đưa ta mặc thứ này?” Cậu lại lấy bộ quần áo cũ rách mặc vào, nhưng thấy có nhiều chỗ rách to, lộ rõ da thịt, thì nghĩ thầm: “Tiểu thư sẽ gọi mình lên hỏi chuyện, thấy mình ăn mặc rách rưới dơ dáy thế này, sẽ không vui. Mà giả dụ mình có làm nô bộc cho nàng sai bảo, thì có gì là không tốt”. Cậu liền cảm thấy thanh thản, mặc bộ quần áo mới vào.

Ai ngờ không phải chỉ một ngày tiểu thư không gọi đến cậu, mà mười mấy ngày liền ngay cả a hoàn Tiểu Phụng cũng chẳng ghé đến, nói gì tiểu thư. Trương Vô Kỵ ngẩn ngẩn ngơ ngơ, mơ tưởng dung mạo, tiếng nói, nụ cười mê hồn của nàng, kể cả thần thái lúc nàng dùng roi quật tới tấp con chó, trông cũng kiều mị khả ái. Cậu mong tự đi tới hậu viện, đứng xa xa ngắm nàng cũng được, nghe nàng nói chuyện với ai cũng được, song Kiều Phúc đã dặn đi dặn lại, nếu không được chủ nhân gọi đến thì nhất quyết không được bước vào cổng giữa, nếu không sẽ bị bầy chó cắn xé. Trương Vô Kỵ nghĩ đến bầy chó hung dữ, tuy rất muốn, song cũng không dám bén mảng tới hậu viện.

Lại hơn một tháng nữa, xương cánh tay của Trương Vô Kỵ đã liền như cũ, các vết chó cắn cũng đã lành, song trên cánh tay và đùi để lại mấy vết sẹo rành rành, mỗi lần nghĩ đó là vết răng bầy chó quý của tiểu thư là cậu lại thấy lòng rộn ràng trìu mến. Dạo này chất hàn độc trong cơ thể cậu cứ vài hôm lại phát tác một lần, lần sau nặng nề hơn lần trước.

Hôm ấy Trương Vô Kỵ bị chất hàn độc hành hạ, cậu nằm trên giường, trùm chăn thật chặt, người cứ run bần bật. Kiều Phúc bước vào, nhìn cảnh này đã quen, không lấy làm lạ, nói:

– Lúc nào cắt cơn, cậu hãy húp một tô cháo “lạp bát”[54] sẽ đỡ mệt! Còn đây là bộ quần áo thái thái ban cho nhân dịp Tết.

Nói xong đặt một cái gói lên bàn.

Trương Vô Kỵ bị sốt rét đến nửa đêm cơn hàn độc mới đỡ dần, cậu ngồi dậy mở bọc ra, thấy một cái áo da mới, bên trong lót lông cừu trắng thì rất thích. Cái áo này may cả loạt cho các nô bộc, xem ra nhà họ Chu coi cậu như đầy tớ thật rồi. Trương Vô Kỵ tính nết hiền lành, cũng chả lấy thế làm khó chịu, chỉ nghĩ thầm: “Không ngờ mình ở đây đã hơn một tháng, chẳng mấy chốc là Tết. Hồ tiên sinh bảo mình chỉ sống được một năm, qua Tết này, mình sẽ không còn được đón cái Tết thứ hai nữa”.

Những nhà giàu sang vào dịp cuối năm không khí thật náo nhiệt. Bọn gia nhân hối hả tất bật dọn dẹp, kẻ quét vôi, người sơn cổng, náo nức giết dê mổ heo. Trương Vô Kỵ phụ Kiều Phúc làm tạp dịch, chỉ mong chóng đến ngày Tết sẽ được rập đầu chúc Tết lão gia, thái thái, tiểu thư, được gặp lại Chu Cửu Chân, nhìn nàng một lần cuối rồi cậu sẽ đi vào rừng sâu núi thẳm tìm nơi nhắm mắt xuôi tay, còn hơn ở đây ngày ngày nhập bọn tôi tớ như Kiều Phúc.

*

*   *

Tiếng pháo trúc rền vang, đã đến Tết Nguyên đán. Trương Vô Kỵ theo Kiều Phúc tới đại sảnh chúc Tết chủ nhân. Chỉ thấy một đôi vợ chồng trung niên mặt mày thanh tú ngồi ở chính giữa sảnh, bảy tám chục nô tì cùng quỳ dưới đất. Hai vợ chồng người kia cười vui vẻ, nói:

– Mọi người ai cũng vất vả!

Hai người quản gia đứng hai bên phân phát thưởng kim. Trương Vô Kỵ cũng được hai lạng bạc.

Trương Vô Kỵ không thấy tiểu thư, vô cùng thất vọng, tay cầm hai đĩnh bạc mà lòng ngẩn ngơ, bỗng nghe một giọng nói trong trẻo từ bên ngoài vọng vào:

– Biểu ca, năm nay biểu ca sang sớm thật!

Chính là giọng Chu Cửu Chân. Một giọng nam cười, đáp lại:

– Sang chúc Tết cậu mợ, ta dám đến muộn sao?

Trương Vô Kỵ cảm thấy lòng bồi hồi, tim đập như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, mồ hôi ướt cả hai lòng bàn tay. Cậu mong ngóng hai tháng trời nay mới lại được nghe giọng nói của Chu Cửu Chân, bảo sao cậu không bồi hồi xúc động?

Lại nghe tiếng cười của một thiếu nữ khác:

– Mới sáng ra sư ca đã vội vã sang đây, chả biết đi chúc Tết hai vị tôn trưởng, hay là chúc Tết biểu muội nữa?

Vừa nói, ba người ấy vừa bước vào cửa sảnh. Đám gia nhân vội tránh sang hai bên, Trương Vô Kỵ cứ đứng như kẻ mất hồn, Kiều Phúc phải kéo mạnh một cái cậu mới dạt sang một bên.

Trong ba người thì đi giữa là một thanh niên, Chu Cửu Chân đi bên trái, mặc chiếc áo điêu cừu màu hồng, màu áo ánh lên khiến khuôn mặt nàng càng thêm kiều diễm khó tả. Bên phải là một thiếu nữ khác. Từ lúc Chu Cửu Chân bước vào đại sảnh, Trương Vô Kỵ cứ nhìn nàng không chớp mắt, chẳng để ý xem đôi nam nữ mới tới kia dung mạo xấu đẹp, y phục màu hồng hay xanh nữa. Hai người ấy chúc Tết gia chủ thế nào, chủ khách hàn huyên ra sao, Trương Vô Kỵ nhìn mà không thấy, nghe mà không lưu tâm, trong mắt chỉ có một nàng Chu Cửu Chân. Thực ra cậu còn ít tuổi, chuyện ái tình nam nữ chưa biết gì, nhưng trong đời mỗi người, lần đầu gặp một mỹ nhân, ai mà chẳng thần hồn điên đảo, như si như ngốc. Trương Vô Kỵ cũng vậy thôi. Huống hồ Chu Cửu Chân nhan sắc diễm lệ, cậu gặp nàng trong phút nguy nan, khó bề kìm nén sự đắm say, cảm thấy chỉ cần được ngắm nàng một lần, nghe nàng nói một câu, cũng đủ sung sướng lắm rồi.

Vợ chồng chủ nhân trò chuyện với ba thanh niên nam nữ một hồi, thì Chu Cửu Chân nói:

– Cha, mẹ, con đi chơi với biểu ca và Thanh muội đây!

Giọng nói có đôi chút nũng nịu của trẻ con. Vợ chồng chủ nhân mỉm cười, gật đầu. Chu phu nhân cười, nói:

– Chân nhi, con phải ăn nói nhỏ nhẹ với Võ gia muội tử, ba anh em ngày mồng một Tết không được cãi nhau đấy nhé.

Chu Cửu Chân cười, đáp:

– Mẹ, sao mẹ không dặn biểu ca đừng bắt nạt con?

Ba người trẻ tuổi vừa cười nói vừa đi ra phía hậu viện. Trương Vô Kỵ không nén được liền lẽo đẽo đi theo ở đằng xa. Hôm nay nô bộc được tha hồ chơi đùa, ai muốn làm gì thì làm.

Lúc này Trương Vô Kỵ mới nhìn kỹ, chàng trai kia dung mạo anh tuấn, thân hình cao lớn, tuy đang ở tiết đại hàn mà chỉ mặc một chiếc áo đoạn mỏng màu vàng, rõ ràng nội công không kém. Thiếu nữ kia mặc áo lông màu đen, thân hình mảnh dẻ, cử chỉ nói năng dịu dàng, nhan sắc so với Chu Cửu Chân cũng chả thua gì, mỗi người có vẻ đẹp riêng, nhưng dưới mắt Trương Vô Kỵ thì tiểu thư Cửu Chân y như tiên giáng trần, thiếu nữ kia không thể sánh nổi. Ba người ấy đều trạc mười bảy, mười tám tuổi.

Họ vừa đi vừa nói cười, thẳng ra phía hậu viện. Thiếu nữ nói:

– Chân tỷ, công phu “Nhất dương chỉ”, tỷ tỷ đã luyện thêm được hai bậc nữa chưa? Tỷ tỷ ra tay cho muội xem chút được chăng?

Chu Cửu Chân nói:

– Có gì đáng xem đâu? Dù tỷ có luyện thêm mười năm nữa cũng không theo kịp một cái phẩy tay của môn “Lan hoa phất huyệt thủ” họ Võ nhà muội.

Chàng trai cười, nói:

– Cả hai muội khỏi cần khiêm nhường làm gì, đại danh lừng lẫy của Tuyết Lĩnh Song Chu, ai chẳng biết uy phong lợi hại thế nào kia chứ.

Chu Cửu Chân nói:

– Biểu muội có một mình tập luyện trong nhà, làm sao tiến nhanh bằng hai sư huynh sư muội bên ấy. Hai người tập dượt với nhau, chẳng phải một ngày tiến xa ngàn dặm đó ư?

Thiếu nữ kia nghe giọng nói của Chu Cửu Chân có vẻ hơi mỉa, chỉ mỉm cười, không trả lời, coi như mặc nhiên thừa nhận.

Chàng trai sợ Chu Cửu Chân bực tức, vội nói:

– Cái đó cũng chưa hẳn. Muội có hai vị sư phụ, cậu và mợ cùng dạy cho, chắc chắn giỏi hơn hai chúng ta rồi.

Chu Cửu Chân giận dỗi:

– Hai chúng ta, hai chúng ta mãi! Hừ, sư muội thì phải thân hơn biểu muội rồi. Biểu muội nói đùa với Thanh muội, vậy mà biểu ca cứ phải xen vào bênh mới xong.

Nói xong nàng quay đi làm mặt giận. Chàng trai cười làm lành:

– Biểu muội thân mà sư muội cũng thân, lòng bàn tay hay lưng bàn tay thì cũng thế cả, đâu có phân biệt bên này bên nọ. Biểu muội hãy cho huynh đi xem các vị tướng quân canh cổng của biểu muội, được chăng? Các vị tướng được biểu muội huấn luyện chắc ngày càng lợi hại.

Chu Cửu Chân trở lại vui vẻ, nói:

– Được lắm!

Rồi dẫn hai người kia đến “Linh Ngao doanh”.

Trương Vô Kỵ đi theo đằng sau, phía xa, thấy ba người cười cười nói nói, không nghe rõ họ nói gì, chỉ theo vào nơi luyện chó.

Thì ra Chu Cửu Chân là hậu duệ của Chu Tử Liễu. Thiếu nữ kia họ Võ, tên là Võ Thanh Anh, hậu duệ của Võ Tam Thông, thuộc chi Võ Tu Văn. Võ Tam Thông và Chu Tử Liễu đều là đệ tử của Nhất Đăng đại sư, võ công vốn cùng một mối mà ra. Nhưng sau hơn trăm năm truyền qua mấy đời, sở học của hai nhà đều có thêm bớt. Huynh đệ Võ Đôn Nho, Võ Tu Văn bái đại hiệp Quách Tĩnh làm sư phụ, tuy cũng học qua Nhất dương chỉ, nhưng võ công thiên về loại cương mãnh của “Cửu chỉ thần cái”[55] Hồng Thất Công. Chàng trai tên Vệ Bích, là biểu ca[56] của Chu Cửu Chân, đã anh tuấn, tính nết lại ôn hòa, cả hai nàng Chu Cửu Chân và Võ Thanh Anh đều thầm mong trộm nhớ.

Chu, Võ hai nàng cùng tuổi, cùng xinh đẹp, xuân lan thu cúc, mỗi người một vẻ mặn mà, võ học gia truyền cũng chả bên nào thua bên nào, mấy năm trước được giới võ lâm dải Côn Luân tôn là “Tuyết Lĩnh Song Chu”. Hai nàng vẫn ngầm tranh hơn thua; chàng Vệ Bích không biết thương bên nào bỏ bên nào, nên mỗi lần ba người ở bên nhau, hai nàng ngoài mặt tỏ ra khách khí, song luôn tìm cách châm chọc nhau, không ai chịu ai. Có điều Võ Thanh Anh kín đáo hơn, lại là đồng môn học nghệ cùng Vệ Bích, sớm tối gặp nhau, có lợi thế hơn hẳn Chu Cửu Chân.

Chu Cửu Chân lệnh cho cẩu bộc chuyên việc nuôi chó thả lũ mãnh khuyển ra. Bầy chó nghe lệnh hành sự, không con nào dám sai trái. Vệ Bích luôn miệng tán thưởng. Chu Cửu Chân rất đắc ý. Võ Thanh Anh nhếch mép cười:

– Sư ca, sau này sư ca sẽ làm “Quán Quân” hay “Phiêu Kỵ”?

Vệ Bích sững người, hỏi:

– Sư muội bảo sao?

Võ Thanh Anh nói:

– Sư ca chịu vâng lời Cửu Chân như thế, Cửu Chân chắc sẽ phong cho sư ca làm “Quán Quân tướng quân” hay “Phiêu Kỵ tướng quân” đấy. Có điều là phải cẩn thận đề phòng ngọn roi da mới được.

Khuôn mặt tuấn tú của Vệ Bích đỏ bừng, lông mày hơi cau, hừ một tiếng, nói:

– Sư muội nói năng tầm bậy, có phải định bảo huynh làm chó hay không?

Võ Thanh Anh mỉm cười:

– Các vị tướng quân vẫy đuôi, ngồi chờ hầu hạ cạnh bàn phấn của mỹ nhân, thích thú biết mấy, có gì là không phải nào?

Chu Cửu Chân khó chịu, nói:

– Nếu sư ca là chó, vậy sư muội sẽ là gì nhỉ?

Trương Vô Kỵ nghe đến đây, nhịn không nổi bật cười “ha ha” hai tiếng, nhưng biết ngay mình thất thố, vội che miệng, quay đi.

Võ Thanh Anh cả giận, nhưng không tiện trút thẳng sang Chu Cửu Chân, bèn đứng dậy, nói:

– Cửu Chân tỷ tỷ, nô bộc nhà này có phép tắc quá nhỉ? Chúng ta ngồi nói chuyện vui, hạng đầy tớ thấp hèn như nó đã ngang nhiên đứng bên nghe lén, lại còn dám cười hô hố. Sư ca, muội về trước đây!

Chu Cửu Chân chợt nhớ Trương Vô Kỵ từng một chưởng đánh chết con “Tả tướng quân” của nàng, sức mạnh của cánh tay chẳng phải nhỏ, bèn cười, nói:

– Thanh muội đừng giận, cũng chớ nên coi thường cậu ta. Công phu võ học nhà họ Võ tuy cao, nhưng nếu nội ba chiêu mà đánh ngã được cậu bé thấp hèn ấy thì ta mới phục muội đó.

Võ Thanh Anh nói:

– Hừ, hạng người như thế có đáng để muội ra tay chăng? Cửu Chân tỷ tỷ đừng có xem thường muội quá như vậy.

Trương Vô Kỵ không nhịn nổi, cao giọng nói:

– Võ cô nương, ta cũng do cha mẹ sinh ra, không phải là người hay sao? Còn cô nương là thần tiên Bồ Tát, công chúa nương nương gì chăng?

Võ Thanh Anh không thèm nhìn Trương Vô Kỵ, quay sang nói với Vệ Bích:

– Sư ca, tên đầy tớ kia cãi muội mà sư ca không bênh muội ư?

Vệ Bích thấy sư muội hơi nũng nịu hờn dỗi thì đã mềm lòng, tuy trong thâm tâm không nghiêng về ai trong hai nàng, song chàng biết sư phụ võ công cao siêu khôn cùng, mình mới chỉ được truyền cho đôi phần, muốn học tuyệt thế công phu, không thể không chiều lòng sư muội, bèn cười, nói với Chu Cửu Chân:

– Biểu muội, thằng nhãi kia võ công khá lắm ư? Để huynh thử nó một chút được chăng?

Chu Cửu Chân biết chàng muốn bênh sư muội, nhưng chợt nghĩ thầm: “Tiểu tử họ Trương kia chưa rõ lai lịch ra sao, để biểu ca buộc nó phải lộ gốc gác, cũng là điều hay”, bèn đáp:

– Được lắm, cho nó lĩnh giáo tuyệt học nhà họ Võ thì còn gì bằng. Tên tiểu tử ấy, chính muội cũng không biết nó là đệ tử của môn phái nào cả.

Vệ Bích lấy làm lạ, hỏi:

– Thế ra võ công của nó không phải do quý phủ truyền dạy ư?

Chu Cửu Chân nói với Trương Vô Kỵ:

– Ngươi hãy nói cho biểu thiếu gia biết, ngươi là ai, thuộc môn phái nào?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: “Các ngươi khinh thường ta đến thế, làm sao ta có thể nói ra môn phái của phụ mẫu, để làm nhục thái sư phụ và phụ mẫu quá cố kia chứ? Huống hồ ta chưa hề thực sự luyện tập võ công phái Võ Đang”, bèn nói:

– Phụ mẫu ta mất từ khi ta còn nhỏ, ta lưu lạc giang hồ, chưa học môn võ công nào cả, hồi còn bé ta có được cha ta chỉ bảo cho đôi chút thôi.

Chu Cửu Chân hỏi:

– Thế cha ngươi tên gì? Thuộc môn phái nào?

Trương Vô Kỵ lắc đầu:

– Ta không nói ra được.

Vệ Bích cười:

– Không lẽ ba người mình lại không nhận ra được lai lịch của nó hay sao?

Chàng ta thong thả bước ra sân, cười, nói:

– Tiểu tử, ngươi hãy lại đây tiếp thử ba chiêu của ta coi nào.

Đoạn quay sang nháy mắt với Võ Thanh Anh, ý nói: “Sư muội đừng buồn, để ta đánh thằng nhãi này một trận cho sư muội bõ tức”.

Kẻ đã sa vào lưới ái tình thì nhất cử nhất động, một ánh mắt, một nụ cười của tình nhân đều không bỏ sót, cái nháy mắt đầy hàm ý của Vệ Bích, Chu Cửu Chân nhìn rõ cả. Nàng thấy Trương Vô Kỵ không chịu ra đấu, bèn vẫy cậu lại gần, ghé tai nói nhỏ:

– Biểu ca ta võ công rất cao, ngươi không cần phải thắng, chỉ cần gắng chịu đựng ba chiêu, cũng đủ giữ thể diện cho ta rồi.

Nói đoạn nàng vỗ vỗ vai cậu, ra ý khích lệ.

Trương Vô Kỵ thừa biết mình không phải đối thủ của Vệ Bích, ra đấu với y chỉ chuốc nhục vào thân, làm trò vui cho ba người này thôi. Nhưng trước mặt Chu Cửu Chân cậu không khỏi ý loạn tình mê, lại nghe nàng ngon ngọt dỗ dành, hương thơm thoang thoảng, làm sao còn giữ được chủ ý? Cậu nghĩ thầm: “Tiểu thư đã khuyên nhủ, việc gian nan hung hiểm mấy ta cũng phải liều mình, bị vài cú đấm đá thì sá gì!” Thế là cậu mơ mơ hồ hồ bước tới trước mặt Vệ Bích, đứng ngơ ngơ ngẩn ngẩn.

Vệ Bích nói:

– Tiểu tử, tiếp chiêu đi!

Bốp, bốp hai tiếng, Vệ Bích đã đánh cho Trương Vô Kỵ hai cái tát. Hai chưởng đánh ra quá nhanh, Trương Vô Kỵ vừa định giơ tay chống đỡ thì đã trúng đòn, hai má đỏ hằn vết ngón tay. Vệ Bích biết võ công của Trương Vô Kỵ không phải do nhà họ Chu truyền dạy, không sợ làm bẽ mặt Chu Cửu Chân và cậu mợ nên y hạ thủ chẳng dung tình, nhưng hai chưởng này y chưa sử dụng nội lực, nếu không thì Trương Vô Kỵ đã gãy răng, vỡ mặt, lăn ra bất tỉnh rồi.

Chu Cửu Chân kêu lên:

– Vô Kỵ, hoàn chiêu đi!

Trương Vô Kỵ nghe tiếng nhắc của tiểu thư, tinh thần trở nên phấn chấn, liền tung ra một quyền. Vệ Bích nghiêng người né tránh, khen:

– Khá lắm, tiểu tử! Cũng gọi là biết đấm đá!

Vệ Bích nhảy vọt ra phía sau lưng Trương Vô Kỵ, Trương Vô Kỵ vội xoay người lại, nào ngờ Vệ Bích ra tay nhanh như chớp, đã chộp gáy, nhấc bổng cậu lên, cười, nói:

– Cho ngươi làm chó ăn phân này!

Rồi ném mạnh cậu xuống đất.

Trương Vô Kỵ tuy đã mấy năm học võ công ở Tạ Tốn, nhưng hồi ấy tuổi còn quá nhỏ, Tạ Tốn lại chỉ dạy cậu ghi nhớ khẩu quyết và chiêu số, không cốt giao đấu thực sự; nay gặp một đệ tử danh môn như Vệ Bích, dĩ nhiên chân tay luống cuống chẳng thi triển được gì. Bị Vệ Bích ném đi, đã toan giơ tay đỡ mà không kịp, “hịch” một tiếng, trán và mũi đập mạnh xuống đất, máu chảy ròng ròng.

Võ Thanh Anh vỗ tay khen hay, cười khanh khách, nói:

– Cửu Chân tỷ tỷ, võ công nhà họ Võ có được không nào?

Chu Cửu Chân vừa thẹn vừa tức, nếu bảo võ công họ Võ không hay thì đắc tội với Vệ Bích, nếu bảo là hay, hóa ra không bằng Võ Thanh Anh, nên đành sa sầm mặt, lặng thinh.

Trương Vô Kỵ lồm cồm bò dậy, lấm lét nhìn Chu Cửu Chân, thấy nàng cau mày, thì nghĩ thầm: “Dù ta có phải mất mạng, cũng không để tiểu thư bị mất mặt”. Vệ Bích cười, nói:

– Biểu muội, tên tiểu tử này đến võ công mèo quào còn chẳng biết, nói gì đến môn phái?

Trương Vô Kỵ đột nhiên xông tới, tung chân đá vào bụng dưới của Vệ Bích. Vệ Bích cười, kêu lên:

– Ái chà!

Thân hình y hơi ngả ra sau tránh ngọn cước ấy, tiếp đó dùng tay trái chộp lấy cổ chân phải chưa kịp rút về của Trương Vô Kỵ, đẩy một cái. Cú đẩy này y chỉ sử dụng ba thành công lực mà Trương Vô Kỵ như mũi tên rời khỏi dây cung, bay thẳng vào tường. Trong cơn nguy cấp, Trương Vô Kỵ vận sức nhảy lên, xoay người lại để lưng chạm tường trước, tuy thoát cái họa vỡ đầu gãy xương, nhưng lưng đau nhói, tưởng chừng các đốt sống gãy rời ra cả, rồi thân hình sụm xuống chân tường như một tảng bùn, không đứng lên nổi nữa.

Thân xác tuy đau đớn, song tâm trí cậu vẫn nghĩ đến khuôn mặt Chu Cửu Chân, trong lúc mơ hồ, cậu chỉ nghe nàng nói:

– Tiểu tử kia thật vô dụng, thôi chúng mình ra hoa viên chơi đi!

Giọng nàng ta đầy vẻ bực bội. Trương Vô Kỵ cũng không biết từ đâu dâng lên sức lực, cậu bật dậy, lao tới giáng chưởng vào người Vệ Bích.

Vệ Bích cười ha hả, vung tay tiếp chưởng, “rắc” một tiếng, thân hình lảo đảo phải lùi lại một bước.

Chưởng vừa rồi của Trương Vô Kỵ là chiêu “Thất tinh thủ” trong “Võ Đang trường quyền” do Trương Thúy Sơn dạy cho cậu hồi lênh đênh trên bè gỗ giữa biển. Võ Đang trường quyền là công phu nhập môn của phái Võ Đang, chiêu số không có gì huyền diệu, nhưng võ công của phái Võ Đang đi theo một con đường riêng trong võ học, chuyên lấy nhu khắc cương, lấy nhược thắng cường, không dùng sức của mình đả thương đối thủ mà mượn ngay sức địch đánh ra để phản kích lại; sức địch đánh ra một cân thì lực phản kích cũng một cân, địch đánh ra trăm cân, thì lực phản kích cũng trăm cân chẳng khác gì kẻ địch đấm vào bức tường, cú đấm càng mạnh, chính kẻ đấm sẽ càng bị tổn thương nặng hơn. Năm xưa, khi Giác Viễn đại sư tụng pho Cửu dương chân kinh, từng có câu: “Dĩ kỷ tòng nhân, hậu phát chế nhân”[57]. Trương Tam Phong sau này đưa câu ấy vào quyền pháp của phái Võ Đang. Nếu là các cao thủ như Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu, ngoài việc mượn lực của đối phương, họ sẽ còn phát thêm kình lực của mình vào nữa. Trương Vô Kỵ sở học nông cạn, không biết là mình vận dụng võ công thượng thừa phản kích lại địch thủ.

Vệ Bích cảm thấy cánh tay tê dại, khí huyết nhộn nhạo trong ngực, bèn nghiêng người múa chưởng, đánh vào sau lưng Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ đánh ngược lại phía sau một chưởng, dùng chiêu “Nhất điều tiên”[58]. Vệ Bích thấy chưởng thế của đối phương kỳ diệu, vội hất người về phía sau né tránh, song vai đã bị ba ngón tay của Trương Vô Kỵ quét trúng, tuy không đau đớn gì, nhưng Võ Thanh Anh và Chu Cửu Chân đều nhìn thấy, như vậy là đã thua một chiêu.

Vệ Bích trước mặt ý trung nhân bị thua như thế, làm sao chịu nổi? Thoạt đầu y giao đấu với Trương Vô Kỵ, thấy đối phương nhỏ tuổi, thân phận thấp hèn, có thắng cũng chả vinh hạnh gì, chẳng qua chỉ đem cậu ra đùa giỡn cho Võ Thanh Anh vui lòng nên quyền cước chỉ sử dụng hai ba thành công lực, giờ bị thua liền hai chiêu, bèn quát lớn:

– Tiểu tử, ngươi không sợ chết hả?

Nghe “vù” một tiếng, nhắm ngực Trương Vô Kỵ đánh ra một quyền. Đây là chiêu “Trường Giang tam điệp lãng”[59], chứa ba thành công lực, nếu đối phương dùng toàn lực đỡ được luồng kình lực thứ nhất, sẽ không ngờ rằng luồng kình lực thứ hai liền ập tới, rồi luồng kình lực thứ ba lại dồn dập tràn vào, không phải cao thủ võ học mà trúng phải chiêu này thì không chết cũng bị trọng thương.

Trương Vô Kỵ thấy chiêu thức của đối phương lợi hại, lòng thầm hoảng sợ, không kịp suy nghĩ gì nữa, còn nhớ thủ pháp năm nào cha cậu dạy cho trên chiếc bè gỗ, hai cánh tay liền khoanh thành hình vòng tròn, dùng chiêu “Tỉnh lan”[60] chống đỡ. Chiêu này bác đại tinh thâm, Trương Vô Kỵ đâu hiểu nổi chỗ vi diệu của nó? Chẳng qua trong cơn nguy cấp, thuận tay sử dụng mà thôi. Tay phải của Vệ Bích đấm trúng cánh tay phải của Trương Vô Kỵ, luồng kình lực thứ nhất của y như chìm vào biển cả mênh mông, chẳng còn tăm hơi gì hết; y đang kinh ngạc, thì “rắc” một tiếng, luồng kình lực thứ hai đã dội ngược trở lại làm gãy luôn cánh tay y. Cũng may là luồng kình lực thứ ba chưa dùng tới, nếu không, do Trương Vô Kỵ chưa hiểu cách vận dụng chiêu “Tỉnh lan” cả hai sẽ bị trọng thương bởi luồng kình lực thứ ba.

Võ Thanh Anh và Chu Cửu Chân cùng kêu lên, chạy tới bên Vệ Bích để xem thương thế. Vệ Bích cười gượng, nói:

– Không sao, tại huynh nhất thời sơ ý.

Võ Thanh Anh và Chu Cửu Chân đau lòng vì thấy tình lang bị thương, cả hai nàng không hẹn mà cùng vung chưởng đánh Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ một chiêu đánh gãy tay Vệ Bích, bản thân cậu cũng bị đẩy ngã ngửa, đứng lên chưa vững đã bị Chu, Võ hai nàng tấn công. Cậu quên cả né tránh, bị trúng một chưởng vào ngực, một chưởng vào vai, lập tức ộc ra một ngụm máu. Trương Vô Kỵ đau đớn, không phải vì vết thương thể xác, cậu nghĩ thầm: “Ta đã vì nàng mà liều mạng giao đấu, cốt giữ thể diện cho nàng, tại sao khi ta thắng, nàng lại đánh ta?” Vệ Bích nói:

– Hai muội hãy dừng tay!

Chu, Võ hai nàng nghe lời dừng lại, chỉ thấy Vệ Bích tím mặt, vung tay trái đánh Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ vội nhảy tránh. Chu Cửu Chân nói:

– Biểu ca bị thương rồi, hà tất phải hơn thua với thằng nhãi ấy làm gì? Đó là lỗi của muội để biểu ca động thủ với hắn.

Với tính cao ngạo, ngày thường bảo nàng phải cúi đầu nhận lỗi với người khác là điều ngàn vạn lần không thể. Nếu không phải do tình lang bị gãy tay, nàng vừa lo sợ vừa thương xót thì không đời nào nàng chịu hạ mình van nài như thế. Nào ngờ nghe xong, Vệ Bích lại càng tức tối, cười khẩy:

– Biểu muội, tên đầy tớ nhà muội bản lĩnh cao cường, chứ muội có lỗi gì chứ? Có điều huynh chưa phục đâu.

Đoạn lấy tay trái gạt Chu Cửu Chân sang một bên, rồi vung quyền nhắm Trương Vô Kỵ đánh tới.

Trương Vô Kỵ định lùi lại để tránh, Võ Thanh Anh liền dùng hai bàn tay đẩy nhẹ vào sau lưng cậu, khiến cậu hết đường lùi. Cú đấm của Vệ Bích trúng ngay sống mũi Trương Vô Kỵ, lập tức máu chảy ròng ròng. Võ Thanh Anh mưu mẹo khôn ngoan hơn Chu Cửu Chân, chỉ ngầm giúp sư ca chứ không lộ liễu, để chàng ta giữ được thể diện mà thầm cảm kích. Chu Cửu Chân thấy thế, nghĩ thầm: “Ngươi biết giúp sư ca của ngươi, chả lẽ ta không biết giúp biểu ca của ta?” Nàng ta liền ra tay bước tới giáp công.

Trương Vô Kỵ võ công vốn thua xa Vệ Bích, giờ lại thêm hai nàng kia ra tay, một người công khai, một người kín đáo trợ giúp Vệ Bích, trong giây lát bị ba người tay đấm chân đá, trúng bảy tám đòn liền, nôn ra mấy ngụm máu. Cậu phẫn uất, liều mình một phen, sử dụng ba mươi hai thế Võ Đang trường quyền từng được cha dạy, tuy công lực không đủ, quyền cước đều thiếu uy lực, nhưng sở học toàn là gia số thượng thừa nên cũng cầm cự được chừng một tuần trà mà vẫn chưa bị đánh ngã.

Chu Cửu Chân quát:

– Tên tiểu tử thối tha không biết từ đâu tới lại dám vào “Chu Võ liên hoàn trang” làm loạn, chắc ngươi không thiết sống nữa rồi!

Thấy Vệ Bích giơ tả chưởng lên, vận kình đánh ra, Chu Cửu Chân bèn dùng vai huých mạnh, đẩy Trương Vô Kỵ vào đón chưởng của Vệ Bích. Chỗ cánh tay bị gãy của Vệ Bích càng lúc càng đau, y không muốn dây dưa lâu thêm với tên đầy tớ này nên dồn tới mười thành công lực vào chưởng đó. Trương Vô Kỵ bị đẩy về phía trước, chỉ thấy gió quạt mạnh tới mặt, tự biết khó chống trả, song vẫn giơ hai cánh tay che mặt.

Bỗng một tiếng quát uy nghiêm vang lên:

– Dừng tay!

Bóng xanh thấp thoáng, một người từ bên cạnh phóng tới, giơ tay gạt chưởng của Vệ Bích. Cái gạt trông nhẹ nhàng, vậy mà Vệ Bích loạng choạng, phải lùi lại mấy bước, suýt ngã xuống nếu không được người mặc áo xanh kia nhanh nhẹn đỡ vai cho y đứng vững lại.

Chu Cửu Chân kêu lên:

– Cha!

Võ Thanh Anh kêu:

– Chu bá phụ!

Vệ Bích thở hổn hển, nói:

– Cữu cữu[61]!

Người kia chính là Chu Trường Linh, phụ thân của Chu Cửu Chân. Khi Vệ Bích bị thương gãy tay, sự việc không phải nhỏ, đám cẩu bộc ở Linh Ngao doanh vội phi báo chủ nhân, Chu Trường Linh lập tức chạy đến thì thấy ba người đang vây đánh Trương Vô Kỵ. Chu Trường Linh quan sát một hồi, khi thấy Vệ Bích giở sát thủ, mới nhảy vào cứu mạng Trương Vô Kỵ.

Chu Trường Linh trừng mắt nhìn Chu Cửu Chân và Vệ, Võ hai đứa kia, mặt hầm hầm tức giận, đột nhiên giáng cho con gái mình một cái tát, miệng quát lớn:

– Giỏi quá, giỏi quá nhỉ! Con cháu nhà họ Chu ngày một tiến xa! Ta sinh ra đứa con gái như ngươi, sau này còn mặt mũi đi gặp tổ tiên dưới suối vàng được chăng?

Chu Cửu Chân từ nhỏ luôn được phụ mẫu sủng ái, chưa bị mắng mỏ một lời, hôm nay trước mặt mọi người lại bị cha giáng cho một cái bạt tai, thấy trời đất quay cuồng trước mắt, chả biết nói sao, lát sau mới khóc òa lên.

Chu Trường Linh quát to:

– Câm miệng đi, không được khóc!

Giọng nói thật uy nghiêm, tiếng vang chấn động cả trong nhà, khiến bụi trên trần bay xuống lả tả. Chu Cửu Chân cả sợ, nín bặt luôn.

Chu Trường Linh nói:

– Nhà họ Chu ta bao đời nay lấy hiệp nghĩa làm trọng, vị cao tổ của ngươi là Tử Liễu công phò tá Nhất Đăng đại sư, làm quan đến chức Tể tướng ở nước Đại Lý, sau giúp giữ thành Tương Dương, nổi danh thiên hạ, anh hùng biết chừng nào. Ngờ đâu con cháu kém cỏi, đến đời Chu Trường Linh ta lại sinh ra một đứa con gái như ngươi, ba người lớn vây đánh một đứa bé, lại còn định giết nó. Thử hỏi như thế có đáng hổ thẹn hay không hả?

Chu Trường Linh tuy trách mắng con mình, nhưng mấy câu đó Vệ Bích và Võ Thanh Anh nghe khác gì dao cứa vào mặt, thật chẳng còn mặt mũi nào hết.

Trương Vô Kỵ toàn thân đau đớn, mấy lần muốn xỉu, cố nghiến răng chịu đựng mới còn đứng nổi, nhưng đầu óc vẫn tỉnh táo, nghe Chu Trường Linh nói thế thì sinh lòng thán phục, nghĩ thầm: “Thị phi phân minh, thế mới đáng bậc hiệp nghĩa thực sự!” Thấy Chu Trường Linh giận đến tái mặt, toàn thân run rẩy, hơi thở hổn hển, còn Chu Cửu Chân, Vệ, Võ thì đứng cúi gầm mặt, không dám ngẩng lên nhìn ông ta.

Trương Vô Kỵ thấy nửa khuôn mặt của Chu Cửu Chân bị sưng lên, hiển nhiên cái tát vừa rồi của phụ thân thực không nhẹ, dáng dấp nàng vừa xấu hổ vừa sợ hãi, muốn khóc mà không dám, chỉ cắn chặt môi, thì cậu liền nói:

– Lão gia, việc này không phải tại tiểu thư đâu ạ.

Nói xong, cậu mới giật mình, vì cậu ú ớ như người câm, nói không ra tiếng, cổ họng đã bị Vệ Bích đánh trọng thương.

Chu Trường Linh nói:

– Vị tiểu huynh đệ này quyền cước không thành chương pháp, rõ ràng chưa bái sư học nghệ, chỉ do lòng quả cảm mà liều chết chống đỡ, càng khiến cho người ta kính phục. Ba đứa ngươi ăn hiếp một người không biết võ công, bao lời giáo huấn của sư trưởng, phụ mẫu, có còn nhớ được câu nào hay không?

Câu này là một lời trách mắng nghiêm khắc, đối với Vệ Bích và Võ Thanh Anh cũng chẳng nể nang gì hết. Trương Vô Kỵ nghe vậy càng cảm thấy áy náy thêm.

Chu Trường Linh lại hỏi từ đâu Trương Vô Kỵ đến sơn trang, tại sao lại mặc y phục nô bộc, vừa hỏi vừa sai người lấy thuốc trị thương và cao tiếp cốt cho Trương Vô Kỵ và Vệ Bích. Chu Cửu Chân biết cha đang tức giận, không dám nói dối, bèn kể lại việc Trương Vô Kỵ giấu con khỉ nhỏ, bị bầy chó cắn xé và được nàng ta đưa về sơn trang cứu chữa như thế nào.

Chu Trường Linh càng nghe, lông mày càng nhíu lại. Khi con gái kể xong, ông xẵng giọng:

– Vị Trương huynh đệ này vì nghĩa mà cứu con khỉ, thật là người nhân từ hiệp nghĩa, vậy mà ngươi lại coi cậu ấy như kẻ tôi đòi. Mai mốt chuyện này truyền ra, người trong giang hồ sẽ bảo “Kinh thiên nhất bút” Chu Trường Linh là kẻ bất nhân bất nghĩa. Ngươi nuôi bầy ác cẩu, ta cứ ngỡ chỉ để cho vui, ai ngờ ngươi lại cả gan sai chó cắn người. Hôm nay ta không đánh chết con a đầu này, Chu Trường Linh ta còn mặt mũi nào nhìn mọi người trong giới võ lâm nữa chứ?

Chu Cửu Chân thấy cha nổi giận thật sự, vội quỳ xuống, nói:

– Thưa cha, từ rày con không dám thế nữa.

Chu Trường Linh vẫn hầm hầm tức giận, Vệ Bích và Võ Thanh Anh cũng cùng quỳ xuống cầu khẩn.

Trương Vô Kỵ nói:

– Lão gia…

Chu Trường Linh vội ngắt lời:

– Tiểu huynh đệ, xin cậu đừng gọi ta là lão gia, ta chỉ hơn cậu vài tuổi, cùng lắm cậu gọi ta hai tiếng “tiền bối” là được rồi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Vâng, thưa Chu tiền bối, việc này cũng không phải lỗi của tiểu thư, tiểu thư quả thật không định làm như vậy.

Chu Trường Linh nói:

– Ba đứa ngươi coi đó, người ta còn nhỏ tuổi mà đã độ lượng như thế, ba đứa ngươi có sánh nổi chăng? Hôm nay mồng một Tết, Võ cô nương lại là khách, đáng lẽ ta không nên nổi giận, nhưng việc này quá quắt lắm không thể chịu nổi, chỉ có bọn hắc đạo hèn hạ mới làm, chứ người hiệp nghĩa ai lại như thế? Nay vị Trương huynh đệ đã xin cho, ta cho phép ba đứa ngươi đứng dậy.

Ba người kia hổ thẹn cùng đứng lên.

Chu Trường Linh quay sang hỏi đám cẩu bộc:

– Lũ ác khuyển đâu? Thả chúng ra cả đây cho ta.

Đám cẩu bộc vâng lệnh, thả bầy chó dữ ra.

Chu Cửu Chân thấy cha mặt hầm hầm, chưa biết dụng ý của ông thế nào, gọi khẽ:

– Cha.

Chu Trường Linh cười khẩy, nói:

– Ngươi nuôi bầy chó dữ này để cắn người, giỏi lắm, vậy ngươi sai chó cắn ta thử coi.

Chu Cửu Chân khóc, nói:

– Thưa cha, con biết tội rồi.

Chu Trường Linh hừ một tiếng, bước vào giữa bầy chó, chỉ nghe bốp bốp bốn tiếng, bốn con ác cẩu to tướng đã vỡ đầu chết ngay tại chỗ. Mấy người đứng xung quanh sợ hãi, ngẩn ra không nói nên lời. Chu Trường Linh tay đấm chân đá, chém ngang chọc thẳng, chỉ thấy thân hình ông phiêu động, cái bóng người màu xanh đi quanh bầy chó một vòng đã khiến hơn ba chục con mãnh khuyển bị đánh chết, đừng nói việc chúng cắn lại, ngay chỉ chạy vài bước chúng cũng chẳng kịp. Chu Trường Linh đánh chết luôn một lúc cả bầy chó, dĩ nhiên chúng chưa nhận được hiệu lệnh của Chu Cửu Chân, lại bị đòn bất ngờ. Nhưng Chu Trường Linh xuất thủ nhanh như chớp, chưởng lực lại rất mạnh, bọn Trương Vô Kỵ, Vệ Bích và Võ Thanh Anh nhìn thấy chỉ biết lè lưỡi lắc đầu.

Chu Trường Linh bế ngang Trương Vô Kỵ lên, đem về phòng mình dưỡng thương. Lát sau Chu phu nhân và Chu Cửu Chân cùng tới lo việc sắc thuốc. Trương Vô Kỵ vốn bị chó cắn mất nhiều máu dạo trước, cơ thể đã suy nhược, lần này lại bị đả thương không nhẹ, nên nửa tỉnh nửa mê mấy ngày liền. Khi tỉnh hẳn, cậu viết bài thuốc, bảo theo đó mà sắc cho cậu uống, nên hồi phục rất nhanh. Chu Trường Linh thấy cậu dùng thuốc như thần thì vừa kinh ngạc vừa vui mừng.

Trong hơn hai chục ngày dưỡng thương, Chu Cửu Chân thường ở bên giường bệnh của Trương Vô Kỵ, lúc hát, lúc ra câu đố, khi kể chuyện khi nói đùa, chẳng khác gì người chị gái chăm sóc cậu em bị bệnh, mọi việc hết sức chu đáo.

Khi Trương Vô Kỵ đã dậy đi lại được, ngày ngày Chu Cửu Chân vẫn bầu bạn với cậu cả nửa buổi, lúc theo cha học võ, nàng cũng không ngại ngần gọi Trương Vô Kỵ đến xem. Chu Trường Linh hai lần ướm lời ngỏ ý thu nhận Trương Vô Kỵ làm đồ đệ, đem võ công một đời truyền cho cậu, song thấy cậu không tiếp nhận nên cũng không nhắc lại nữa. Ông đối với cậu rất thân thiết, coi như người trong nhà. Võ công nhà họ Chu có liên quan đến thư pháp, ngày ngày Chu Cửu Chân đều tập viết, cũng rủ Trương Vô Kỵ cùng tập với nàng. Trương Vô Kỵ từ sau khi rời Băng Hỏa đảo về Trung nguyên chỉ gặp toàn những cảnh lênh đênh khốn khổ, lo lắng bệnh hoạn, chưa bao giờ được hưởng những ngày yên ổn vui sướng như thế này.

*

*   *

Thấm thoắt đã đến trung tuần tháng Hai, hôm đó Trương Vô Kỵ và Chu Cửu Chân đang tập viết trong thư phòng, bỗng a hoàn Tiểu Phụng chạy vào bẩm:

– Tiểu thư, Diêu nhị gia đã từ Trung nguyên trở về.

Chu Cửu Chân cả mừng, đặt bút xuống, reo lên:

– Hay lắm, ta đợi Diêu nhị thúc hơn nửa năm rồi, bây giờ mới về tới.

Nàng kéo tay Trương Vô Kỵ, nói:

– Vô Kỵ đệ, chúng mình ra đón nào, không biết Diêu nhị thúc có mua đủ các thứ tỷ tỷ nhờ hay không?

Hai người nắm tay nhau đi ra đại sảnh. Trương Vô Kỵ hỏi:

– Diêu nhị thúc là ai thế?

Chu Cửu Chân nói:

– Diêu nhị thúc là huynh đệ kết nghĩa của cha ta, tên là Thiên Lý Truy Phong Diêu Thanh Tuyền. Năm ngoái cha ta nhờ Diêu nhị thúc mang lễ vật đi Trung nguyên, ta nhờ Diêu nhị thúc tới Hàng Châu mua son phấn và vải vóc, tới Tô Châu mua kim chỉ, khung thêu, lại nhờ mua bút Hồ Châu và mực Vi Châu, nghiên thiếp thư tịch, chả hiểu Diêu nhị thúc có mua đủ các thứ hay không.

Rồi nàng giải thích, Chu sơn trang nằm trong dãy núi Côn Luân ở Tây Vực, một số mặt hàng tốt, trong vòng ngàn dặm không đâu có bán, núi Côn Luân cách Trung nguyên cả vạn dặm, mỗi lần đi về tốn hai ba năm, nên gặp dịp có ai đi Trung nguyên, Chu Cửu Chân đều nhờ mua giùm một số lớn vật phẩm.

Hai người bước vào cửa sảnh, chỉ nghe tiếng khóc hu hu thì bất giác giật mình, vào trong sảnh lại càng kinh ngạc, thấy Chu Trường Linh cùng một hán tử trung niên cao gầy đang quỳ dưới đất bên nhau khóc. Hán tử mặc đồ tang màu trắng, lưng thắt một sợi dây bện bằng cỏ. Chu Cửu Chân tới bên người đó, gọi:

– Diêu nhị thúc!

Chu Trường Linh khóc òa lên, nói:

– Cửu Chân con ơi, Đại ân nhân của gia đình ta, Trương ngũ gia… Trương ngũ gia… đã… mất rồi!

Chu Cửu Chân hốt hoảng hỏi:

– Sao lại thế? Trương ân công… mất tích mười năm, chẳng phải đã bình yên trở về đó sao?

Diêu Thanh Tuyền nghẹn ngào nói:

– Chúng ta ở nơi xa xôi hẻo lánh, tin tức đến chậm, đâu biết rằng Trương ân công đã cùng phu nhân tự vẫn cách đây hơn bốn năm rồi. Ta chưa đến núi Võ Đang, mới ở Thiểm Tây đã nghe tin này, lúc lên núi gặp Tống đại hiệp và Du nhị hiệp mới biết là thực, ôi…

Trương Vô Kỵ càng nghe càng ngạc nhiên, đến đoạn sau thì không còn nghi ngờ gì nữa, người mà họ gọi là “đại ân nhân Trương ngũ gia” chính là Trương Thúy Sơn thân phụ của cậu. Cậu thấy Chu Trường Linh và Diêu Thanh Tuyền khóc lóc thảm thiết, Chu Cửu Chân cũng sụt sùi rơi lệ, cậu đã định bước tới thổ lộ thân phận của mình, nhưng lại nghĩ thầm: “Từ trước tới nay mình không hề nói rõ thân thế, bây giờ nói ra, Chu bá phụ và Cửu Chân tỷ tỷ sẽ không tin, cho rằng mình mạo nhận cầu ân, không khỏi coi thường mình”.

Lát sau, trong nội viện lại có tiếng khóc lớn, Chu phu nhân được a hoàn dìu ra, liên tiếp hỏi han Diêu Thanh Tuyền. Diêu Thanh Tuyền trong cơn đau lòng quên cả chào nghĩa tẩu, kể luôn đầu đuôi việc Trương Thúy Sơn tự cắt cổ chết ra sao. Trương Vô Kỵ tuy cố nén lòng không khóc thành tiếng, nhưng nước mắt cũng chảy ròng ròng. Trong đại sảnh mọi người cùng khóc, nên không ai để ý đến cậu.

Chu Trường Linh đột nhiên đập mạnh tay xuống bàn, làm vỡ một bên chiếc bàn bát tiên trước mặt, nói:

– Nhị đệ, hãy nói rõ ràng cho huynh nghe, những kẻ nào đã lên núi Võ Đang bức tử Trương ân công và phu nhân?

Diêu Thanh Tuyền nói:

– Tiểu đệ sau khi nghe tin, đã định về cấp báo với đại ca, nhưng lại nghĩ cần biết rõ tính danh kẻ thù. Tính ra, bọn lên núi Võ Đang bức tử Trương ngũ ân công, từ tam đại thần tăng phái Thiếu Lâm trở xuống, số người không phải là ít, tiểu đệ phải đi các nơi dò hỏi, thành thử mới tốn thời gian như thế.

Rồi kể lại tên tuổi tất cả những người thuộc các phái Không Động, Nga Mi, Côn Luân, các bang hội Hải Sa, Cự Kình, Thần Quyền, Vu Sơn từng lên núi Võ Đang sinh sự với Trương Thúy Sơn, như Không Văn phương trượng, Không Trí đại sư, Hà Thái Xung, Tĩnh Huyền sư thái, Quan Năng.

Chu Trường Linh khẳng khái nói:

– Nhị đệ, những người ấy đều là cao thủ số một số hai trong võ lâm, chúng ta đánh một người trong số đó cũng không nổi. Nhưng Trương ngũ gia đối với chúng ta ơn nặng như núi, huynh đệ ta dù tan xương nát thịt cũng phải trả mối thù này cho Trương ngũ gia.

Diêu Thanh Tuyền gạt lệ, nói:

– Đại ca nói rất phải, tính mạng huynh đệ ta đều do Trương ngũ gia cứu, nên đã sống thêm mười mấy năm nữa, nay có trả lại cho Trương ngũ gia thì cũng phải thôi. Tiểu đệ ân hận nhất là không gặp được công tử của Trương ngũ gia, nếu không đã chuyển đạt ý của đại ca; hay nhất là mời được Trương công tử đến đây để mọi người dốc lòng săn sóc hầu hạ Trương công tử.

Chu phu nhân hỏi han tỉ mỉ về Trương công tử. Diêu Thanh Tuyền kể chỉ biết Trương công tử bị trọng thương, không rõ chữa trị ở đâu, hình như năm nay mới tám, chín tuổi gì đó, hẳn là Trương Tam Phong sẽ truyền cho võ công tuyệt thế, sau này làm chưởng môn phái Võ Đang. Vợ chồng Chu Trường Linh quỳ xuống lạy tạ trời đất, mừng cho họ Trương có người nối dõi.

Diêu Thanh Tuyền nói:

– Nhân sâm ngàn năm, hoa sen núi tuyết Thiên Sơn, giấy Ngọc Sư, dao Ô Kim… các lễ vật mà đại ca bảo tiểu đệ đem biếu Trương ân công, tiểu đệ đều để lại trên núi Võ Đang, nhờ Tống đại hiệp giao lại cho Trương công tử.

Chu Trường Linh nói:

– Làm thế rất hay, làm thế rất hay!

Rồi quay sang nói với Chu Cửu Chân:

– Gia đình ta thụ đại ân thế nào, ngươi hãy kể cho Trương huynh đệ biết.

Chu Cửu Chân cầm tay Trương Vô Kỵ dẫn tới thư phòng của phụ thân, chỉ cho cậu xem bức tranh lớn treo ở trên tường, bên phải bức tranh đề bảy chữ “Trương công Thúy Sơn ân đức đồ”.

Trương Vô Kỵ lần thứ nhất bước vào thư phòng của Chu Trường Linh, lúc này thấy tên họ phụ thân, mắt rưng rưng lệ, nhìn bức tranh vẽ một nơi hoang dã và một võ sĩ trẻ tuổi diện mạo anh tuấn, tay trái cầm ngân câu, tay phải múa thiết bút đang giao đấu với năm tên địch diện mạo hung ác. Trương Vô Kỵ biết võ sĩ chính là cha mình, tuy mặt mũi không thật giống, song cậu tưởng như trông thấy hình ảnh phụ thân. Nằm dưới đất có hai người, một là Diêu Thanh Tuyền, một là Chu Trường Linh; còn có hai người khác đã đầu một nơi, thân một nẻo. Góc trái bên dưới vẽ một thiếu phụ rất trẻ, vẻ mặt hốt hoảng, chính là Chu phu nhân đang bế một đứa con gái chừng một, hai tuổi. Trương Vô Kỵ nhìn kỹ, thấy bé gái kia có một nốt ruồi nhỏ bên miệng, chính là Chu Cửu Chân bây giờ. Giấy vẽ tranh đã ngả màu vàng, ít ra cũng phải trên chục năm.

Chu Cửu Chân chỉ bức tranh giải thích cho Trương Vô Kỵ rõ.

Ngày ấy, Chu Cửu Chân mới sinh chưa lâu, Chu Trường Linh phải đưa gia đình lánh sang phía tây để tránh kẻ thù, dọc đường bị bọn chúng đuổi kịp. Hai sư đệ đã bị địch giết, Chu Trường Linh và Diêu Thanh Tuyền cũng đã bị đánh ngã. Bọn địch sắp hạ độc thủ thì Trương Thúy Sơn đi ngang qua ra tay trượng nghĩa đánh đuổi bọn địch kia, cứu sống cả nhà. Nhẩm tính thời gian, thì đấy là trước khi Trương Thúy Sơn đi Băng Hỏa đảo.

Chu Cửu Chân kể xong, buồn rầu nói:

– Gia đình ta ẩn cư chốn xa xôi, tin Trương ân công từ hải ngoại trở về, mãi năm ngoái mới biết. Cha ta từng thề sẽ không bao giờ trở lại Trung nguyên, nên mới bảo Diêu nhị thúc mang lễ vật đến núi Võ Đang bái kiến, nào ngờ…

Nói đến đây, một tên thư đồng vào mời nàng sang linh đường hành lễ.

Chu Cửu Chân vội trở về phòng mình, thay quần áo sạch sẽ, rồi cùng Trương Vô Kỵ đến hậu đường, thấy trong đó bày hai linh vị, thắp nến trắng, một linh bài đề “Ân công Trương đại hiệp, húy Thúy Sơn chi linh vị”, linh bài thứ hai đề “Trương phu nhân Ân thị chi linh vị”. Vợ chồng Chu Trường Linh và Diêu Thanh Tuyền quỳ lạy dưới đất, khóc lóc thảm thiết. Trương Vô Kỵ cùng Chu Cửu Chân cũng quỳ xuống lạy.

Chu Trường Linh xoa đầu Trương Vô Kỵ, nghẹn ngào nói:

– Tiểu huynh đệ, tốt lắm, tốt lắm! Vị Trương đại hiệp ấy khảng khái lỗi lạc, thật là một nam tử đương thế vô song, cậu tuy không biết Trương đại hiệp, nhưng quỳ lạy như thế cũng phải lắm.

Trong hoàn cảnh này, Trương Vô Kỵ càng không thể tự nhận mình là con trai của “Trương ân công”, cậu nghĩ thầm: “Diêu Thanh Tuyền nghe nhầm thế nào, bảo ta chỉ tám chín tuổi, nếu bây giờ mình đứng ra nhận, mọi người nhất định sẽ không tin”.

Bỗng Diêu Thanh Tuyền nói:

– Đại ca, vị Tạ gia…

Chu Trường Linh đằng hắng một tiếng, nháy mắt ra hiệu, Diêu Thanh Tuyền lập tức hiểu ý, nói trớ đi:

– Việc lễ tạ kia phải làm thế nào? Có cần phát tang Ân công hay không?

Chu Trường Linh nói:

– Việc đó tùy nhị đệ liệu mà làm!

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: “Rõ ràng lúc đầu nói là vị Tạ gia, sao bỗng dưng lại đổi thành lễ tạ? Tạ gia, Tạ gia? Không lẽ Diêu Thanh Tuyền nhắc đến nghĩa phụ của ta?”

*

*   *

Đêm đó Trương Vô Kỵ nằm nghĩ đến phụ mẫu đã qua đời, nghĩ đến nghĩa phụ đang sống kiếp sống thừa ở hoang đảo miền cực bắc giá lạnh, trằn trọc mãi không ngủ được.

Sáng hôm sau trở dậy, nghe tiếng bước chân nhẹ nhàng, ngửi thấy mùi hương thoang thoảng, thấy Chu Cửu Chân bưng chậu nước rửa mặt vào phòng thì Trương Vô Kỵ kinh ngạc, hỏi:

– Cửu Chân tỷ tỷ, sao… sao tỷ tỷ lại mang cho đệ…

Chu Cửu Chân nói:

– Nô bộc, a hoàn đi hết cả rồi, ta hầu đệ một lần thì đã sao?

Trương Vô Kỵ càng kinh ngạc, hỏi:

– Vì sao… vì sao họ lại đi hết?

Chu Cửu Chân nói:

– Tối qua cha ta cho mỗi người một ít bạc, để họ tìm đường về quê, vì ở đây sẽ gặp nguy hiểm.

Nàng ngừng lời một lát, rồi tiếp:

– Đệ rửa mặt đi, cha ta có chuyện muốn nói với đệ.

Trương Vô Kỵ vội vàng rửa mặt qua loa. Chu Cửu Chân chải đầu cho cậu, rồi hai người cùng sang thư phòng của Chu Trường Linh. Tòa sơn trang này vốn có đến bảy tám chục tì bộc, lúc này đột nhiên vắng lặng, không một bóng người.

Chu Trường Linh thấy hai người tới, nói:

– Trương huynh đệ, ta kính nể tấm lòng nhân hiệp anh hùng khí khái của cậu, vốn dĩ muốn giữ cậu sống dăm mười năm ở đây cùng chúng tôi, nhưng sắp xảy ra biến cố bất ngờ, nên đành phải chia tay với cậu, mong cậu đừng trách.

Nói xong đưa ra một cái khay, trên đặt mười hai đĩnh vàng, mười hai đĩnh bạc, thêm một thanh đoản kiếm phòng thân, nói:

– Đây là chút quà mọn của vợ chồng ta và tiểu nữ, mong Trương huynh đệ tiếp nhận, nếu lão phu phen này giữ được tính mạng thì sau này chúng ta còn có dịp gặp nhau…

Nói đến đó, giọng ông nghẹn ngào không nói tiếp được nữa.

Trương Vô Kỵ liền né sang một bên, hiên ngang đáp:

– Chu bá bá, tiểu điệt tuy tuổi nhỏ vô dụng, song không phải là phường tham sống sợ chết. Quý phủ đã có chuyện nguy nan, tiểu điệt quyết không bỏ đi. Dù không giúp được bá bá và tỷ tỷ, cũng xin cùng bá bá và tỷ tỷ đồng sinh cộng tử.

Chu Trường Linh khuyên nhủ thêm đôi lần, Trương Vô Kỵ vẫn không nghe.

Chu Trường Linh thở dài:

– Ôi, trẻ con không biết sợ là gì, để ta nói thật cho cậu hay vậy. Nhưng trước hết cậu phải thề không tiết lộ chuyện này với bất cứ ai, cũng không được hỏi gì thêm.

Trương Vô Kỵ quỳ xuống, nói rành rọt:

– Thề có trời đất, những gì Chu bá bá nói với tôi, nếu tôi nói lại với người khác, hoặc lắm lời hỏi thêm thì sẽ bị loạn đao phanh thây, thân bại danh liệt.

Chu Trường Linh đỡ cậu dậy, thò đầu ra ngoài cửa sổ quan sát một vòng, rồi lại phi thân lên mái nhà xét kỹ xung quanh, biết chắc tứ phía không có ai thì mới quay vào thư phòng, ghé tai Trương Vô Kỵ nói nhỏ:

– Điều ta nói với cậu, cậu chỉ ghi nhớ trong lòng, không được hỏi lại câu nào, đề phòng tai vách mạch rừng.

Trương Vô Kỵ gật đầu. Chu Trường Linh thấp giọng nói:

– Hôm qua, khi Diêu nhị đệ về báo tin Trương ân công đã chết, có dẫn theo một người, tên là Tạ Tốn, ngoại hiệu Kim Mao Sư Vương…

Trương Vô Kỵ giật mình, run cả người. Chu Trường Linh nói tiếp:

– Vị Tạ đại hiệp này đã cùng Trương ân công kết nghĩa huynh đệ, lại kết mối thâm cừu với các môn phái, Trương ân công và phu nhân sở dĩ tự vẫn chính là vì không chịu tiết lộ chỗ ở của nghĩa huynh. Tạ đại hiệp không hiểu sao đã trở về Trung thổ, ra tay rửa hận cho Trương ân công, giết được nhiều kẻ thù, nhưng mãnh hổ nan địch quần hồ, Tạ đại hiệp cuối cùng bị trọng thương. Diêu nhị đệ là người cơ trí, cứu được Tạ đại hiệp chạy về đây, kẻ địch chẳng mấy chốc sẽ đuổi tới, chúng người đông thế mạnh, huynh đệ ta không tài gì chống chọi nổi. Ta quyết xả thân báo ân, vì Tạ đại hiệp mà chết, còn cậu không có dây mơ rễ má gì với Tạ đại hiệp, hà tất phải bỏ mạng ở đây? Trương huynh đệ, ta đã nói hết lời, cậu hãy mau mau rời khỏi đây là hơn! Bọn địch tràn tới, ngọc đá gì cũng tan nát cả, chậm trễ là không kịp đâu.

Trương Vô Kỵ nghe mà trong lòng bồn chồn, vừa lo vừa mừng, không thể ngờ nghĩa phụ cuối cùng lại đang ở chốn này, bèn hỏi:

– Tạ đại hiệp đang ở…

Chu Trường Linh dùng tay phải bịt miệng cậu lại, ghé tai nói thầm:

– Không được nói chuyện; bọn địch thần thông quảng đại, một câu sơ hở là nguy hiểm ngay cho tính mạng của Tạ đại hiệp. Cậu quên lời vừa thề rồi sao?

Trương Vô Kỵ gật đầu. Chu Trường Linh nói tiếp:

– Ta đã nói rõ với cậu, Trương huynh đệ, cậu tuy ít tuổi, song ta coi cậu như hảo bằng hữu, có bí mật gì đã thổ lộ cả với cậu, cậu hãy đi ngay mới kịp.

Trương Vô Kỵ nói:

– Bá bá đã nói hết với tiểu điệt rồi, tiểu điệt càng nhất quyết không đi.

Chu Trường Linh trầm ngâm hồi lâu, thở dài, quả quyết nói:

– Được, vậy từ nay chúng ta đồng sinh cộng tử, không nói thêm nữa. Việc không thể chậm trễ, phải ra tay ngay.

Đoạn cùng Chu Cửu Chân và Trương Vô Kỵ chạy ra cổng lớn đã thấy Chu phu nhân và Diêu Thanh Tuyền chờ sẵn ở bên ngoài, bên cạnh đặt mấy cái bao hành lý, tựa hồ chuẩn bị đi xa. Trương Vô Kỵ nhìn quanh chẳng thấy nghĩa phụ đâu cả.

Chu Trường Linh bật lửa đốt một bó đuốc, cầm bó đuốc châm vào cổng lớn. Lửa bùng lên cao, bén sang phía tây nhanh như gió, thì ra mấy trăm gian phòng của sơn trang đã được tưới dầu. Cả một dải Thiên Sơn, Côn Luân ở Tây Vực có rất nhiều dầu lửa từ lòng đất phun lên, chảy như suối, chỉ việc múc về đốt lên đun nấu. Bao gian nhà hoa lệ trải dài hàng dặm của Chu gia trang nhanh chóng bị đốt cháy vì đã được tưới sẵn dầu lửa.

Trương Vô Kỵ thấy các cột kèo chạm trổ chìm vào đám lửa cháy ngùn ngụt, lòng không khỏi cảm kích; “Chu bá bá cả một đời gây dựng, biết bao tâm huyết, vậy mà phút chốc đều ra tro, tất cả chỉ vì cha ta và nghĩa phụ. Một người nghĩa khí như thế, thật hiếm có trên thế gian”.

Đêm đó, vợ chồng Chu Trường Linh, Chu Cửu Chân và Trương Vô Kỵ bốn người qua đêm trong một hang núi. Năm đệ tử thân tín của Chu Trường Linh cầm binh khí, do Diêu Thanh Tuyền chỉ huy, đứng canh chừng bên ngoài hang. Chu gia trang cháy đến ngày thứ ba mới tắt, cũng may bọn địch chưa đuổi tới đây.

Tối ngày thứ ba, Chu Trường Linh đưa vợ con, đệ tử, cùng Diêu Thanh Tuyền và Trương Vô Kỵ rời hang núi, đi theo một con đường ngoằn ngoèo tối om om, tới mấy gian thạch thất nằm sâu dưới lòng đất. Trong mấy gian ấy có đủ lương thực và nước uống, chỉ tội rất nóng.

Chu Trường Linh thấy Trương Vô Kỵ không ngớt dùng tay áo lau mồ hôi, cười hỏi:

– Vô Kỵ đệ, cậu thử đoán xem, tại sao ở đây lại nóng như thế? Cậu có biết chúng ta đang ở đâu hay không?

Trương Vô Kỵ ngửi thấy mùi khét, lập tức vỡ lẽ, nói:

– Ồ, thì ra chúng ta đang ở bên dưới trang viện!

Chu Cửu Chân cười, nói:

– Vô Kỵ thông minh lắm!

Trương Vô Kỵ thấy Chu Trường Linh tính toán chu đáo lại càng bội phục, bọn địch tới đây tấn công, thấy Chu gia trang tất cả ra tro, ắt sẽ đi nơi khác truy tìm, đâu ngờ Tạ Tốn ẩn náu bên dưới đống tro tàn. Trương Vô Kỵ thấy đầu kia thạch thất có một tấm cửa sắt đóng chặt, nghĩ bụng chắc nghĩa phụ ẩn thân trong đó, tuy cậu nóng lòng gặp lại nghĩa phụ sau mấy năm xa cách cho thỏa lòng mong nhớ, nhưng trong tình thế nguy hiểm, đến hỏi chuyện Chu Trường Linh còn không được, huống hồ khinh suất vọng động? Nếu làm hỏng đại sự, mình có mất mạng cũng không đáng gì, song để liên lụy đến tính mạng của nghĩa phụ và cả gia đình họ Chu thì tội lớn vô cùng.

Ở dưới thạch thất nửa ngày, khí nóng giảm dần, mọi người trải áo lông, toan nằm ngủ, chợt nghe tiếng vó ngựa của cả một đoàn người từ xa vọng tới, chẳng mấy chốc đã tới ngay trên đỉnh đầu. Chỉ nghe một giọng ồm ồm nói:

– Lão tặc Chu Trường Linh hẳn là hộ tống Tạ Tốn chạy mất rồi, đuổi theo mau, đuổi theo mau!

Mọi người tuy ở sâu trong lòng đất, song vẫn nghe rõ mồn một tiếng động bên trên, thì ra ở dưới này có ống sắt thông hơi với bên trên. Tiếng vó ngựa lại rầm rập phóng đi xa dần.

Đêm ấy truy binh chạy qua trên đầu trước sau cả thảy năm đoàn, có phái Không Động, phái Côn Luân, bang Cự Kình, còn hai đoàn khác không rõ lai lịch. Mỗi đoàn ít cũng bảy tám người, nhiều thì hơn một chục, đao kiếm loảng xoảng, ngựa khỏe hí vang, đám nào cũng buông lời độc ác, khí thế hung hăng. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: “Nghĩa phụ ta giả như hai mắt không mù, lại không bị trọng thương, thì bọn yêu ma tiểu quỷ kia có thấm gì?”

Chờ lúc đoàn người thứ năm đã đi xa, Diêu Thanh Tuyền liền lấy nút gỗ đậy ống thông hơi lại, để tiếng nói của người dưới này không sợ bị những kẻ ở bên trên tình cờ đi qua nghe thấy. Làm thế rồi mà Diêu Thanh Tuyền vẫn hạ giọng, nói nhỏ:

– Để tiểu đệ đi xem thương thế của Tạ đại hiệp ra sao.

Chu Trường Linh gật đầu. Diêu Thanh Tuyền giơ tay xoay động cơ quan bên cạnh tấm cửa sắt, cánh cửa từ từ mở ra. Diêu Thanh Tuyền cầm đĩa đèn dầu bước vào trong.

Lúc này Trương Vô Kỵ hết nhịn nổi, liền đứng dậy, ghé mắt nhìn theo lưng của Diêu Thanh Tuyền, thấy một hán tử thân hình cao lớn nằm quay mặt vào tường. Trương Vô Kỵ nhìn tấm lưng to rộng của nghĩa phụ, nước mắt tức thì rưng rưng. Chỉ nghe Diêu Thanh Tuyền thấp giọng hỏi:

– Tạ đại hiệp, có đỡ chút nào chăng? Có khát nước không?

Đột nhiên kình phong ào ra, đĩa đèn tắt phụt, tiếp đó nghe “bình” một tiếng, Diêu Thanh Tuyền bị Tạ Tốn giáng cho một chưởng, bay ra ngoài cửa sắt ngã huỵch xuống đất. Chỉ nghe Tạ Tốn quát lớn:

– Bọn cẩu tặc phái Thiếu Lâm, phái Côn Luân, phái Không Động, có giỏi thì vào đây, vào đây, vào đây, Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn ta há sợ bọn bay?

Chu Trường Linh nói:

– Không hay, Tạ đại hiệp lại mê sảng rồi!

Đoạn tới bên cửa sắt, nói chõ vào:

– Tạ đại hiệp, chúng tôi là bằng hữu, chứ không phải kẻ thù của đại hiệp đâu.

Tạ Tốn cười khẩy, nói:

– Bằng hữu cái gì? Bọn bay đừng hòng ngon ngọt lừa dối ta!

Rồi sải bước ra cửa, tung chưởng đánh vào ngực Chu Trường Linh. Chưởng này kình lực rất mạnh, làm cho các ngọn đèn trong thạch thất lung lay muốn tắt. Chu Trường Linh không dám chống đỡ, vội né sang một bên, tay trái của Tạ Tốn liền đánh ngay vào mặt. Chu Trường Linh bất đắc dĩ giơ tay gạt ra, thân hình loạng choạng lùi lại hai bước. Trương Vô Kỵ thấy biến cố bất ngờ, bất giác ngây người ra.

Tạ Tốn kia quyền chưởng vù vù như gió, quá ư lợi hại, Chu Trường Linh không dám chống đỡ, chỉ còn nước thoái lui. Chưởng đó của Tạ Tốn đánh không trúng Chu Trường Linh, quệt vào tường đá khiến đá vụn rơi lả tả, ví thử trúng người thì ai chịu nổi?

Gã Tạ Tốn kia tóc xõa dài phủ vai, cặp mắt sáng như tia chớp, mặt đầy vết máu, miệng hầm hè, chưởng thế mỗi lúc càng mãnh liệt. Chu phu nhân và Chu Cửu Chân sợ hãi nép vào một góc tường. Chu Trường Linh thấy Tạ Tốn đánh tới, vội đẩy chiếc bàn bên cạnh chống đỡ, chiếc bàn trúng hai quyền của Tạ Tốn, lập tức vỡ nát.

Trương Vô Kỵ hoảng hốt, há hốc mồm đứng ngây một bên, thấy gã Tạ Tốn kia hoàn toàn không phải là nghĩa phụ Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn của cậu. Nghĩa phụ của cậu đã mù hai mắt, còn kẻ kia hai mắt sáng long lanh. Lại thấy kẻ kia đánh ra một chưởng, Chu Trường Linh lưng đã sát tường, không còn chỗ lùi thêm, song lại không giơ tay đỡ đòn, chỉ kêu lên:

– Tạ đại hiệp, tại hạ không phải là kẻ thù của đại hiệp, tại hạ không đánh trả đâu!

Gã kia không lý gì tới, đánh thẳng một chưởng vào ngực Chu Trường Linh. Chu Trường Linh trông thật đau khổ, kêu:

– Tạ đại hiệp không tin tại hạ ư?

Gã kia quát to:

– Cẩu tặc, cho ngươi thêm một quyền này!

Gã lại giáng một quyền. Chu Trường Linh ộc ra một ngụm máu, giọng run run:

– Tạ đại hiệp là nghĩa huynh của ân công, có đánh chết tại hạ, tại hạ cũng không đánh trả.

Gã kia cười như điên:

– Không trả đòn càng tốt, để ta đánh chết ngươi!

Hai quyền liên tiếp đánh ra, đều trúng vào ngực. Chu Trường Linh kêu ối” một tiếng thảm thiết, thân hình sụm xuống.

Gã kia không chút nương tay, lại vung tay đấm tới. Trương Vô Kỵ tiến lên một bước, lấy tay gạt ra, chỉ cảm thấy quyền kình rất mạnh, cánh tay tê dại đến nghẹn thở, bèn liều chết kêu lên:

– Ngươi không phải Tạ Tốn, ngươi không phải… Gã đại hán kia tức giận quát:

– Tên tiểu quỷ này thì biết gì?

Rồi tung chân đá Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ né sang bên tránh được, kêu to:

– Ngươi mạo nhận Kim Mao Sư Vương, không có thiện ý, đồ giả mạo, quân giả mạo…

Chu Trường Linh đang nằm gục dưới đất, nghe Trương Vô Kỵ nói thế, cố đứng lên, chỉ mặt gã kia, nói:

– Ngươi… ngươi không phải… ngươi lừa ta…

Đột nhiên hộc ra một ngụm máu to, phun cả vào mặt gã đại hán, thân hình ngã chúi về phía trước, thuận thế điểm luôn vào huyệt Thần Phong dưới vú bên phải của hắn. Chu Trường Linh đã bị trọng thương, vốn không còn là đối thủ của hắn, nhưng ông nhân cơ hội hộc máu mà nhào tới, xuất kỳ bất ý sử dụng thủ pháp Nhất dương chỉ gia truyền điểm trúng đại huyệt tên kia. Chu Trường Linh lại điểm thêm hai huyệt ở sườn hắn, rồi mới ngã lăn ra bất tỉnh. Chu Cửu Chân và Trương Vô Kỵ vội đỡ ông dậy.

Lát sau, Chu Trường Linh dần dần hồi tỉnh, hỏi Trương Vô Kỵ:

– Hắn… hắn…

Trương Vô Kỵ nói:

– Chu bá bá, tiểu điệt không thể giấu nữa, người mà bá bá gọi là ân công, chính là thân phụ của tiểu điệt, còn Kim Mao Sư Vương là nghĩa phụ của tiểu điệt, làm sao tiểu điệt có thể nhầm lẫn?

Chu Trường Linh lắc đầu, gượng cười, tỏ vẻ không tin chút nào.

Trương Vô Kỵ nói:

– Nghĩa phụ của tiểu điệt hai mắt đã mù, còn người này hai mắt hoàn hảo, đó là sơ hở lớn nhất của hắn. Nghĩa phụ tiểu điệt bị hỏng mắt ở hải ngoại, việc ấy người ngoài không ai biết được. Tên này mạo nhận mà không hề biết việc nghĩa phụ tiểu điệt bị mù.

Chu Trường Linh mừng nói:

– Vô Kỵ đệ, quả thật cậu là con trai của ân công nhà ta ư? Vậy thì hay lắm, hay lắm!

Nói vậy song Chu Trường Linh vẫn chưa tin. Trương Vô Kỵ bèn đem nguyên do cậu đi tới vùng núi này ra sao kể lại vắn tắt. Diêu Thanh Tuyền đứng bên nghe, hỏi cặn kẽ tình hình trên núi Võ Đang, lại căn vặn việc vợ chồng Trương Thúy Sơn ngày trước tự vẫn thế nào, thấy Trương Vô Kỵ trả lời không sai mảy may thì bấy giờ mới tin.

Song Chu Trường Linh vẫn cứ cảm thấy khó nghĩ, nói:

– Giả dụ cậu này nói sai, chúng ta đắc tội với Tạ đại hiệp, vậy biết làm sao?

Diêu Thanh Tuyền liền rút chủy thủ, chỉ vào mắt bên phải gã đại hán, nói:

– Bằng hữu, Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn hai mắt đã mù rồi, nếu ngươi muốn bắt chước ông ta, thì hãy bắt chước cho đến nơi đến chốn. Hôm nay ta hủy cặp mắt của ngươi trước. Diêu mỗ bị ngươi lừa gạt, nếu không nhờ vị tiểu huynh đệ này nhận ra, có phải là Chu đại ca của ta mất mạng mà không hiểu đầu đuôi ra sao ư?

Nói đoạn đâm nhứ một cái, mũi dao chạm vào mí mắt, hỏi:

– Rốt cuộc ngươi là ai? Tại sao dám mạo xưng Kim Mao Sư Vương?

Gã đại hán tức giận nói:

– Nếu muốn thì cứ đâm chết ta đi. Khai Bi Thủ Hồ Báo là hạng người nào mà chịu để ngươi bức cung?

Chu Trường Linh kêu “a” một tiếng, nói:

– Khai Bi Thủ Hồ Báo! Hóa ra ngươi thuộc phái Không Động.

Hồ Báo lớn tiếng nói:

– Các môn phái trong thiên hạ đều biết Chu Trường Linh muốn báo thù cho Trương Thúy Sơn. Người đời có câu: “Ra tay trước thì mạnh, ra tay sau gặp họa” mà lại.

Diêu Thanh Tuyền quát:

– Tâm địa ngươi thật tàn ác!

Nói xong liền chuyển mũi dao xuống để đâm vào ngực tên kia. Chu Trường Linh giơ tay trái chộp lấy cổ tay Diêu Thanh Tuyền, nói:

– Khoan đã, nhị đệ, nếu y quả thật là Tạ đại hiệp, thì huynh đệ ta chết vạn lần cũng không chuộc lại được.

Diêu Thanh Tuyền nói:

– Trương huynh đệ đã nói quá rõ. Đại ca sao còn nghĩ ngợi gần xa, không quyết đoán được, chỉ e đại họa trước mắt khó bề tránh khỏi.

Chu Trường Linh lắc đầu, nói:

– Chúng ta thà chịu ngàn nhát dao, quyết không để tổn thương một sợi tóc của nghĩa huynh ân công. Trương Vô Kỵ nói:

– Chu bá bá, người này nhất quyết không phải là nghĩa phụ của tiểu điệt. Nghĩa phụ của tiểu điệt có ngoại hiệu Kim Mao Sư Vương vì có mái tóc vàng, còn người này tóc đen.

Chu Trường Linh trầm ngâm một hồi, gật đầu, cầm tay Trương Vô Kỵ, nói:

– Trương huynh đệ, cậu đi theo ta.

Hai người ra khỏi thạch thất, rồi ra khỏi thạch động, tới tận một mỏm đá cheo leo ở sườn núi phía sau, mới ngồi xuống. Chu Trường Linh nói:

– Tiểu huynh đệ, nếu người ấy không phải là Tạ đại hiệp, thì chúng ta đành phải giết hắn, song trước khi hạ sát, ta muốn trong lòng không còn chút hồ nghi nào cả, cậu nghĩ có phải không?

Trương Vô Kỵ nói:

– Bá bá sợ nhầm, kể cũng phải thôi; nhưng kẻ đó tuyệt nhiên không phải là nghĩa phụ của tiểu điệt, bá bá cứ an tâm.

Chu Trường Linh thở dài, nói:

– Hồi còn trẻ, ta từng sơ sảy nhiều lần. Hôm nay ta sở dĩ không trả đòn, đến nỗi thân bị trọng thương cũng là vì sợ mình lại bị lầm lẫn. Lầm lẫn rồi không thể chuộc lại, việc này vô cùng hệ trọng, ta dẫu chết cũng không sao, nhưng bất cứ giá nào cũng phải bảo hộ cậu và Tạ đại hiệp bình an. Ta muốn hỏi rõ chỗ ở của Tạ đại hiệp cho thật yên tâm, nhưng ta không tiện ngỏ lời.

Trương Vô Kỵ cảm động, nói:

– Chu bá bá, vì phụ thân và nghĩa phụ tiểu điệt mà bá bá thiêu hủy cả gia sản đáng giá trăm vạn, chính mình bị trọng thương, chẳng lẽ tiểu điệt còn chưa tin bá bá hay sao? Tình hình của nghĩa phụ tiểu điệt, dù bá bá không hỏi, tiểu điệt cũng sẽ kể cho bá bá biết.

Nói rồi cậu đem chuyện cha mẹ và Tạ Tốn vì sao trôi nổi đến tận Băng Hỏa đảo, ở đó mười năm, rồi ba người làm bè trở về Trung thổ thế nào, kể lại đầu đuôi. Quá nửa câu chuyện cậu biết là nghe kể lại từ cha mẹ, nhưng cậu nói lại vẫn rõ ràng đâu ra đấy.

Chu Trường Linh hỏi đi hỏi lại Trương Vô Kỵ ở Băng Hỏa đảo học võ ra sao, bằng cách nào đưa được Dương Bất Hối tới Tây Vực, ở thung lũng Tam Thánh gặp nạn thế nào, vặn vẹo đủ điều, nghe Trương Vô Kỵ trả lời đâu ra đấy, không có gì sơ hở, mới thực bụng tin, thở phào một cái, ngẩng mặt lên trời, nói:

– Ân công hỡi ân công, người ở trên trời linh thiêng, chứng giám lòng tôi: Chu Trường Linh nguyện đem hết tâm sức nuôi dưỡng Vô Kỵ huynh đệ trưởng thành. Có điều cường địch vây quanh, võ nghệ của tôi lại non kém, không biết có làm tròn trọng trách ấy hay không, kính mong ân công phù hộ độ trì.

Nói đoạn quỳ xuống, hướng lên trời khấu đầu. Trương Vô Kỵ vừa thương tâm, vừa cảm kích, cũng quỳ xuống.

Chu Trường Linh đứng lên, nói:

– Bây giờ trong lòng ta không còn chút nghi ngờ gì nữa. Ôi, Thiếu Lâm, Nga Mi, Côn Luân, Không Động, phái nào cũng người đông thế mạnh, võ công cao cường! Tiểu huynh đệ, thoạt đầu ta cũng quyết ý đem thí cái mạng già này, giết được cừu nhân đứa nào hay đứa ấy, để báo đáp đại ân của lệnh tôn. Nhưng từ nay việc nuôi dưỡng con côi là trọng, báo thù lui xuống hàng thứ hai. Hiềm nỗi trời đất bao la, biết đi đâu tránh nổi đại nạn bây giờ? Ngay một nơi xa xôi hẻo lánh thế này, chúng còn tìm ra được, làm gì còn nơi nào hoang vắng hơn kia chứ?

Chu Trường Linh ngừng giây lát, nói tiếp:

– Tạ đại hiệp một thân một mình ở Băng Hỏa đảo, mấy năm rồi chắc phải sống thê thảm lắm. Ôi, vị đại hiệp ấy nghĩa nặng tình thâm đối với ân công ân tẩu biết chừng nào, ước gì ta được gặp một lần, có chết cũng cam lòng.

Trương Vô Kỵ nghe Chu Trường Linh nói đến nỗi khổ sở cô đơn của nghĩa phụ ở Băng Hỏa đảo, như chợt nghĩ ra, liền nói:

– Chu bá bá, hay là chúng ta cùng đi Băng Hỏa đảo? Hồi tiểu điệt ở đó sung sướng biết bao nhiêu, từ ngày về Trung thổ chỉ toàn thấy cảnh đổ máu giết người, thật là đáng sợ.

Chu Trường Linh nói:

– Tiểu huynh đệ, cậu có thật muốn trở lại sống trên Băng Hỏa đảo hay không?

Trương Vô Kỵ phân vân chưa trả lời, nghĩ thầm bản thân mình còn sống chả được bao nhiêu, huống chi hải trình đi Băng Hỏa đảo quá gian nan, vị tất đến nơi, không nên làm cho cả gia đình Chu Trường Linh phiêu lưu mạo hiểm; biển cả vô tình, sơ sảy một chút là cả bọn sẽ vùi thây trong sóng to gió cả.

Chu Trường Linh nắm hai tay cậu, nhìn vào mặt, nói:

– Tiểu huynh đệ, cậu với ta không còn là người ngoài, có gì cứ nói thật cho nhau biết, cậu có muốn trở lại Băng Hỏa đảo hay không?

Giọng nói của ông ta hết sức chân thành. Trương Vô Kỵ lúc này trong lòng đã quá chán ghét lòng dạ hiểm ác của giới giang hồ, chỉ mong trước khi chết được gặp lại nghĩa phụ, nếu được chết trong vòng tay nghĩa phụ, cũng coi như mãn nguyện một đời. Nghe Chu Trường Linh hỏi thế, Vô Kỵ không muốn giấu tâm sự, nên thong thả gật đầu.

Chu Trường Linh không hỏi thêm, dắt tay Trương Vô Kỵ trở lại thạch thất, nói với Diêu Thanh Tuyền:

– Tên đó quả là gian tặc, không còn nghi ngờ gì nữa.

Diêu Thanh Tuyền gật đầu, tay cầm chủy thủ bước vào mật thất, chỉ nghe Khai Bi Thủ Hồ Báo rú lên một tiếng thảm thiết, chắc đã bị hạ sát. Diêu Thanh Tuyền từ trong mật thất bước ra, đóng cửa sắt lại, chỉ thấy trên con dao găm của y còn vết máu tươi, y tiện tay chùi luôn vào gót hài.

Chu Trường Linh nói:

– Tên tặc tử đó đến nằm phục ở đây, tung tích chúng ta xem ra bị lộ rồi, căn hầm này không thể ở thêm.

Nói xong đưa tất cả mọi người rời thạch động, đi hơn hai chục dặm, vượt hai ngọn núi, đến một sơn cốc, vào một nơi có bốn năm căn nhà nhỏ dưới bóng một cây đại thụ.

Bấy giờ trời mờ mờ sáng, sau khi mọi người vào nhà, Trương Vô Kỵ thấy trong nhà có nhiều loại nông cụ, như cày, bừa, liềm, cuốc, nồi niêu lương thực có đủ cả. Xem ra Chu Trường Linh đề phòng cường địch, xung quanh sơn trang đã bố trí nhiều nơi trú ẩn. Chu Trường Linh bị thương không dậy được, Chu phu nhân đem giày cỏ, áo vải thô, khăn vuông cho mọi người thay. Trong chốc lát, phu nhân tiểu thư của đại phú gia biến thành nông phụ thôn nữ, tuy giọng nói, cử chỉ không giống nhà nghèo, nhưng nếu không tới gần nhìn kỹ thì không phát giác được.

Ở nơi này được ít ngày, Chu Trường Linh nhờ có bài thuốc gia truyền trị thương của vùng Vân Nam, uống vào rất mau lành, địch nhân cũng chưa thấy tới.

Trương Vô Kỵ trong lúc nhàn rỗi, để ý quan sát, thấy Diêu Thanh Tuyền ngày nào cũng đi nghe ngóng tin tức, Chu phu nhân thì đôn đốc việc thu thập hành lý vào các bao, rõ ràng đang tính kế đi xa. Cậu biết Chu Trường Linh vì muốn báo ân tránh địch mà quyết ý đưa cả gia đình ra khơi tìm Băng Hỏa đảo nên trong lòng hết sức vui mừng.

*

*   *

Đêm nay Trương Vô Kỵ đang ngủ trên giường, nghĩ nếu trời còn cho mình sống để về tới Băng Hỏa đảo, suốt đời sẽ được sống chung với Cửu Chân tỷ tỷ đẹp như tiên, bất giác nóng tai đỏ mặt, trống ngực đập mạnh; lại nghĩ Chu bá bá, Diêu nhị thúc và nghĩa phụ sau khi gặp nhau, ba người kết bạn thân thiết, sống vô lo vô nghĩ trên đảo, ngày tháng tiêu dao tự đại, không sợ bọn Thát tử Mông Cổ tàn sát hà hiếp, cũng chẳng lo cường địch võ lâm đánh trước đâm sau, được sống như thế thì còn mong gì hơn. Cậu càng nghĩ càng vui, quên cả chất hàn độc trong cơ thể mình, quên rằng mình còn ở trên đời chả được bao lâu, thao thức đến nửa đêm vẫn chưa ngủ.

Giữa lúc sắp thiếp đi, bỗng có tiếng cửa kẹt nhẹ, một bóng người lẻn vào phòng. Trương Vô Kỵ hơi lạ, chợt ngửi thấy mùi hương thoang thoảng, chính là mùi phấn thơm Chu Cửu Chân thường dùng. Cậu đột nhiên đỏ mặt, thẹn không để đâu cho hết.

Chu Cửu Chân rón rén tới bên giường, thấp giọng gọi nhỏ:

– Vô Kỵ, cậu đã ngủ chưa?

Trương Vô Kỵ không dám trả lời, hai mắt nhắm nghiền, giả vờ ngủ say. Lát sau, bỗng cảm thấy mấy ngón tay mềm và ấm sờ vào mi mắt cậu.

Trương Vô Kỵ vừa sợ vừa mừng, vừa thẹn, chỉ mong nàng ta mau ra khỏi phòng. Cậu vô cùng kính trọng Chu Cửu Chân, những mong ngày ngày được nhìn thấy nàng ta vài lần cũng đủ thỏa lòng, chứ không có ý nghĩ gì khác, cũng chưa từng nghĩ sau này sẽ lấy nàng ta làm vợ. Bây giờ bỗng dưng đêm hôm khuya khoắt Chu Cửu Chân lẻn vào phòng mình, bảo làm sao cậu không bối rối? Cậu chợt nghĩ thầm: “Không lẽ Cửu Chân tỷ tỷ có việc cấp bách, đang đêm cũng phải tới nói cho mình hay?” Bỗng Vô Kỵ cảm thấy huyệt Đản Trung trên ngực mình tê đi, tiếp đó các huyệt Kiên Trinh, Thần Tàng, Khúc Trì, Hoàn Khiêu đều bị điểm.

Việc này hoàn toàn bất ngờ đối với Trương Vô Kỵ. Tại sao nửa đêm Chu Cửu Chân lại tới điểm huyệt cậu? Cậu nghĩ thầm: “Hay là Cửu Chân tỷ tỷ muốn thử xem trong lúc ngủ mình có đề phòng hay không? Sáng mai nàng sẽ tới giải huyệt và châm chọc mình một phen. Biết thế, lúc nàng lẻn vào phòng, mình nhỏm dậy dọa cho một trận, nàng sợ hết vía, sáng mai hết khoe khoang”.

Chỉ thấy Chu Cửu Chân nhè nhẹ mở cửa sổ, phi thân đi ra. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: “Mình phải mau giải huyệt, bám theo sau làm ma nhát nàng, hẳn là vui lắm”. Liền sử dụng phép giải huyệt Tạ Tốn đã dạy. Song công phu Nhất dương chỉ gia truyền của Chu Cửu Chân rất lợi hại, cậu tốn hơn nửa canh giờ mới giải hết các huyệt bị điểm. Đấy là do tài nghệ của Chu Cửu Chân chưa cao, lại không muốn để cậu biết nên dùng lực rất nhẹ, nếu không dẫu phép giải huyệt kỳ diệu đến mấy, chắc cũng bó tay. Khi cậu dậy được, hối hả mặc quần áo ngoài, nhảy ra cửa thì bốn bề im ắng, không thấy hình bóng Chu Cửu Chân đâu nữa.

Trương Vô Kỵ đứng trong bóng đêm, cảm thấy thất vọng, chợt nghĩ: “Cửu Chân tỷ tỷ sáng mai có chê ta vô dụng thì cứ để cho nàng cười, hà tất phải hơn thua với nàng? Bình thời ta vẫn muốn làm cho nàng vui lòng, cũng không dễ gì; đêm nay nếu ta đuổi kịp, không khéo nàng lại giận ta là đằng khác”. Nghĩ tới đây, cậu liền cảm thấy yên tâm. Dạo này đang là đầu xuân, trong sơn cốc hoa dại thơm ngát, cậu chưa ngủ được, bèn thả bộ dọc theo dòng suối nhỏ. Tuyết đóng trên triền núi mới tan, theo dòng chảy xuống, các cục băng nhỏ đụng vào nhau, nghe thành tiếng lanh canh.

Cậu đi một hồi, bỗng nghe từ cánh rừng bên trái vọng ra tiếng cười khúc khích trong trẻo, chính là giọng của Chu Cửu Chân. Trương Vô Kỵ hơi ngạc nhiên, nghĩ thầm: “Cửu Chân tỷ tỷ nhìn thấy mình rồi sao?” Bỗng nghe tiếng nàng nói nhỏ:

– Biểu ca, đừng nghịch ngợm nào, tưởng muội không dám đánh biểu ca đấy hả?

Tiếp đến mấy tiếng cười thích thú của nam giới, khỏi nói cũng biết là của Vệ Bích.

Trương Vô Kỵ sững sờ, cơ hồ muốn bật khóc, giấc mơ nửa đêm qua tan thành mây khói, lập tức vỡ lẽ: “Chu Cửu Chân điểm huyệt ta, đâu phải để đùa vui với ta? Nàng nửa đêm hò hẹn với biểu ca, sợ ta biết đó thôi”. Cậu cảm thấy tay tê đi, chân mềm nhũn, lại nghĩ thầm: “Ta chỉ là một đứa trẻ bơ vơ nghèo khổ, văn tài võ công, tướng mạo địa vị đều thua xa Vệ công tử. Chu Cửu Chân với Vệ công tử vốn còn tình thân biểu huynh biểu muội, thật là một đôi trai tài gái sắc, xứng đôi vừa lứa”.

Sau khi tự nhủ như thế, cậu thở dài nhè nhẹ, bỗng nghe tiếng chân người, ai đó từ phía sau đi tới. Chu Cửu Chân và Vệ Bích cùng nắm tay nhau sánh vai từ trong rừng bước ra. Trương Vô Kỵ không muốn chạm trán với họ, bèn nấp vào sau một thân cây lớn. Khi tiếng chân tới gần, đột nhiên Chu Cửu Chân gọi:

– Cha… cha…

Giọng nàng run run, dường như có vẻ sợ hãi, thì ra người đang tới chính là Chu Trường Linh.

Chu Trường Linh thấy con gái mình hẹn hò ban đêm với Vệ Bích, hình như giận lắm, hừ một tiếng, nói:

– Các ngươi ở ngoài này làm gì?

Chu Cửu Chân cố làm ra vẻ tự nhiên, cười đáp:

– Cha, biểu ca và con đã lâu không gặp nhau, hôm nay có dịp ghé đến, chúng con trò chuyện một lúc thôi mà.

Chu Trường Linh nói:

– Ngươi thật to gan, lỡ để cho Vô Kỵ hắn biết… Chu Cửu Chân ngắt lời cha:

– Con đã điểm nhẹ năm đại huyệt của hắn, lúc này chắc hắn đang ngủ say, để lát nữa con sẽ giải huyệt cho hắn, hắn chẳng thể biết được.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: “Chu bá bá cũng nhận biết ta thích Cửu Chân, vì cha ta có ơn cứu ông ấy nên ông ấy không muốn ta đau lòng thất vọng. Kỳ thực, ta tuy thích Cửu Chân, nhưng trong bụng chưa có ý gì. Chu bá bá đối với ta quả là chu đáo!” Lại nghe Chu Trường Linh nói:

– Dù sao cũng phải cẩn thận, tốn bao công sức sắp đặt, không được để hắn phát hiện chút sơ hở nào.

Chu Cửu Chân cười đáp:

– Con hiểu điều đó mà.

Vệ Bích nói:

– Cữu phụ, điệt nhi phải về thôi, có lẽ sư phụ đang chờ điệt nhi.

Chu Cửu Chân lưu luyến nói:

– Để muội tiễn biểu ca.

Chu Trường Linh nói:

– Được, ta cũng muốn đi bàn với sư phụ ngươi một lần nữa. Chuyến đi Băng Hỏa đảo lần này của tất cả chúng ta, mọi người phải lo liệu mọi việc thật chu đáo, không được sơ sảy chút gì.

Nói đoạn cả ba người cùng đi về phía tây.

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ, biết sư phụ của Vệ Bích là Võ Liệt, cha của Võ Thanh Anh, nghe khẩu khí của Chu Trường Linh, hình như hai cha con nhà họ Võ và Vệ Bích cũng cùng đi Băng Hỏa đảo, sao không thấy Chu Trường Linh nhắc đến? Việc này để càng nhiều người biết, càng khó giữ bí mật, càng nguy hiểm cho nghĩa phụ. Trương Vô Kỵ nghĩ một hồi, chợt nhớ lại câu nói của Chu Trường Linh “tốn bao công sức sắp đặt, không được để hắn phát hiện chút sơ hở nào”. Sơ hở… sơ hở… sơ hở cái gì?

Nhắc đến mấy chữ “hắn phát hiện chút sơ hở”, tự dưng mối nghi ngờ mơ hồ lâu nay trong đầu Vô Kỵ ngay lúc này liền hiển hiện trước mắt: trong bức tranh “Trương công Thúy Sơn ân đức đồ”, sao tướng mạo của người khác vẽ rất giống, riêng khuôn mặt chữ điền của phụ thân cậu lại vẽ thành mặt trái xoan? Mắt mũi của phụ thân quả có giống, hai cha con cậu giống nhau về mắt mũi thật, nhưng khuôn mặt của phụ thân hình chữ điền, khác hẳn khuôn mặt Trương Vô Kỵ hình trái xoan giống mẫu thân.

Cứ lời Chu Trường Linh, bức tranh ấy chính tay ông ta vẽ đã hơn mười năm, cứ coi như tài hội họa không giỏi, nhưng cũng không thể nào lại vẽ khuôn mặt đại ân nhân của mình khác hẳn đi như thế. Trương Thúy Sơn trên bức tranh chẳng khác nào Trương Vô Kỵ khi lớn. Ồ, còn điểm này nữa, cây thiết bút cha cậu sử dụng là loại bút thẳng đầu nhọn, giống như cây bút lông. Khi mới về tới đất liền, cha cậu có mua ở cửa hàng binh khí một cây phán quan bút, bảo là chiều dài và trọng lượng tuy tạm dùng được, nhưng cây bút lại có thêm một bàn tay bằng sắt, trông không vừa mắt. Mẹ cậu bảo sau khi có chỗ ở xong xuôi, sẽ thuê rèn một cây bút khác. Cây bút trong tranh cha cậu sử dụng là một cây phán quan bút tầm thường. Chu bá bá là một đại hành gia chuyên sử dụng phán quan bút, vẽ cái gì sai còn được, làm sao lại có thể vẽ sai cây bút mà cha cậu đã dùng?

Nghĩ đến chi tiết đó, Trương Vô Kỵ rất hoang mang, trong bụng dường như đã có lời giải đáp, có điều cái đáp án ấy thật đáng sợ, không dám nghĩ thêm nữa cho sáng tỏ hẳn, chỉ tự an ủi: “Dẫu gì mình cũng không nên nghĩ lung tung, Chu bá bá đãi mình như thế, sao mình lại nghi ngờ ông ta kia chứ? Thôi mình về nhà ngủ, kẻo họ biết mình đêm hôm khuya khoắt đi ra ngoài, họ lại lo lắng cho tính mạng của mình cũng nên”.

Nghĩ thế, đột nhiên cậu rùng mình lo sợ, đứng ngây ra một hồi, bất giác đi theo hướng ba người kia vừa đi, thấy trong rừng có ánh đèn le lói, hóa ra nơi đó có một căn nhà. Trương Vô Kỵ trống ngực đập thình thình, rón rén đi về phía ánh đèn. Đến phía sau căn nhà, cậu định thần, ghé nhìn qua khe cửa vào bên trong thì thấy cha con Chu Trường Linh và Vệ Bích ngồi đối diện với cửa sổ đang nói chuyện với ai đó. Có hai người ngồi quay lưng về phía Trương Vô Kỵ nên không nhìn thấy mặt, nhưng một cô gái trong đó chính là Võ Thanh Anh, còn người nam kia thân hình cao lớn đang lắng nghe Chu Trường Linh sắp đặt cách giả làm khách thương, đến vùng Sơn Đông để ra biển khơi, người ấy chỉ nghe và gật gù.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: “Mình thật là lo hão lo huyền. Vị kia chắc là Võ Liệt Võ trang chủ, Chu bá bá giao hảo với ông ta, rủ ông ta cùng đi Băng Hỏa đảo cũng là chuyện thường tình, mình hà tất phải lo lắng lạ lùng?”

Chỉ nghe Võ Thanh Anh nói:

– Cha, lỡ biển cả mênh mông, mình tìm không thấy hòn đảo nhỏ bé đó, quay trở về cũng không xong, vậy biết làm thế nào?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: “Vị này đúng là Võ trang chủ rồi”. Võ Liệt đáp:

– Nếu ngươi sợ thì đừng đi! Việc trong thiên hạ, nếu không trải qua gian nan khốn khổ, làm sao đến được bờ vinh quang?

Võ Thanh Anh có vẻ hờn dỗi:

– Con chỉ hỏi thế mà cha đã mắng con rồi!

Võ Liệt cười, nói:

– Việc này giống như gieo xúc xắc, nếu vận số may mắn, chúng ta tới được Băng Hỏa đảo, lão Tạ Tốn kia dù võ công cao cường đến mấy, nhưng trơ trọi một mình, huống hồ hai mắt lại mù, làm sao địch nổi chúng ta…

Trương Vô Kỵ nghe tới đây, một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng, bất giác toàn thân run rẩy, chỉ nghe Võ Liệt nói tiếp:

– … Thanh đao Đồ Long sẽ về tay chúng ta. Bấy giờ “hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng”. Ta và Chu bá bá của ngươi sẽ sánh vai trở thành võ lâm chí tôn. Còn nếu như người tính mà trời chẳng cho, tất cả chết trên biển cả, thì hừ, trên đời này ai mà chẳng chết?

Vệ Bích nói:

– Nghe bảo Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn võ công trác tuyệt, trên Vương Bàn sơn đảo chỉ hú một tiếng đã làm cho mấy chục hảo thủ giang hồ đều mất trí cả. Theo ý đệ tử, khi tới Băng Hỏa đảo rồi, chúng ta không nên công khai giao chiến với lão ta, mà hãy lén bỏ thuốc độc vào đồ ăn thức uống, đừng nói hai mắt đã mù, cho dù còn tỏ tường thì lão ta cũng chẳng thể ngờ đứa nghĩa tử yêu quý của lão ta lại dẫn người tới hại mình.

Chu Trường Linh gật đầu:

– Kế của Vệ Bích rất hay. Có điều hai họ Chu, Võ chúng ta các đời trước đều là hiệp sĩ danh môn chính phái, xưa nay không dùng thuốc độc bao giờ, ngay cả ám khí cũng không tẩm thuốc, thành thử ta không biết phải dùng loại nào để hạ độc lão ta…

Vệ Bích nói:

– Diêu nhị thúc nhiều lần đi Trung nguyên, chắc là biết, nhờ nhị thúc mua sẵn mang đi là được.

Võ Liệt quay sang vỗ vỗ vai Chu Cửu Chân, cười, nói:

– Cửu Chân…

Lúc này y quay sang, Trương Vô Kỵ nhìn thấy mặt, không khỏi cả kinh. Thì ra người này chính là kẻ đóng giả nghĩa phụ của cậu, Khai Bi Thủ Hồ Báo. Tất cả các trò đánh Chu Trường Linh trọng thương, hộc ra máu, sau đó bị Diêu Thanh Tuyền dùng dao đâm chết, tất cả đều là giả. Bây giờ Trương Vô Kỵ mới biết cả bọn kia muốn diễn vở kịch cho giống như thật, đánh một chưởng làm đá trên tường rơi lả tả, đấm một quyền vỡ nát mặt bàn, phải nhờ Võ Liệt ra tay. Chỉ nghe Võ Liệt nói với Chu Cửu Chân:

– Để tấn trò này kết thúc êm đẹp, Cửu Chân hãy giả bộ thân thiết với tên tiểu quỷ ấy, cho đến khi giết xong Tạ Tốn, tuyệt nhiên không được để lộ chút sơ hở nào hết.

Chu Cửu Chân nói:

– Cha, cha phải bằng lòng cho con một chuyện.

Chu Trường Linh hỏi:

– Chuyện gì?

Chu Cửu Chân đáp:

– Cha bảo con hầu hạ tên tiểu quỷ ấy, những ngày qua thật quá ư vất vả khổ sở. Từ giờ đến lúc tới Băng Hỏa đảo, giết được Tạ Tốn, còn một thời gian khá dài, không biết phải chịu bao nhiêu cay đắng nữa đây. Khi cha lấy được thanh đao Đồ Long, hãy cho con dùng đao chém cho nó một nhát chết tươi!

Trương Vô Kỵ nghe câu nói tàn ác ấy của Chu Cửu Chân thì mắt tối sầm lại, như muốn ngất đi, loáng thoáng nghe Chu Trường Linh đáp:

– Phen này chúng ta dùng xảo kế lừa gạt nó, dụ nó nói ra chỗ ở của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn, kể ra cũng có điều không phải. Thằng bé ấy cũng chẳng phải đứa xấu, sau khi giết Tạ Tốn, lấy được thanh đao Đồ Long rồi, chỉ cần chọc mù hai mắt nó, bỏ lại Băng Hỏa đảo là được.

Võ Liệt tán thưởng:

– Chu đại ca quả thật tâm địa nhân thiện, không để mất gia phong hiệp nghĩa.

Chu Trường Linh thở dài:

– Nước cờ này của huynh đệ ta quả thật vạn bất đắc dĩ. Võ nhị đệ, sau khi ra khơi, thuyền của đệ phải theo sau thuyền của huynh xa xa một chút, đi gần quá tên tiểu tử ấy sinh nghi, mà đi cách xa quá sợ mất liên lạc. Các tài công trên thuyền phải hết sức chú ý điều đó mới được.

Võ Liệt nói:

– Vâng, Chu đại ca tính toán mọi việc thật chu đáo.

Trương Vô Kỵ trong bụng rối như tơ vò, tự nhủ: “Mình không hề thổ lộ thân phận, làm sao bọn họ nhận biết được kia chứ? Ừ, hay là hôm mình ra sức chống trả Vệ Bích và hai nàng Chu, Võ vây đánh, mình đã sử dụng tâm pháp của võ công phái Võ Đang; Chu bá bá kiến văn rộng lớn nên đã nhận biết lai lịch của mình? Ông ta biết cha mẹ mình thà chết không tiết lộ nơi ở của Tạ Tốn, nếu dùng vũ lực, quyết không thể ép mình nói ra chân tướng; bởi thế đã làm giả bức tranh, thiêu đốt sơn trang, lại dùng khổ nhục kế khiến mình cảm động. Ông ta không cần hỏi mình câu nào, chính mình lại ngỏ lời cầu xin ông ta đưa đi Băng Hỏa đảo. Chu Trường Linh ơi Chu Trường Linh, gian kế của ngươi quả là nham hiểm hết chỗ nói!”

*

*   *

Lúc này Chu Trường Linh và Võ Liệt bàn sang cách thức chuẩn bị đi Sơn Đông để ra khơi. Trương Vô Kỵ không dám nghe thêm, bèn nín thở, rón rén từng bước, mỗi bước lại lắng nghe, thấy trong nhà không có động tĩnh gì, mới bước đi tiếp. Cậu biết Chu Trường Linh và Võ Liệt võ công cao siêu, chỉ cần cậu sơ sảy một chút, giẫm trúng một cành cây khô là lập tức bị họ phát giác ngay. Sau khi dò dẫm hơn ba chục bước, cách căn nhà hơn một chục trượng, cậu mới rảo bước.

Trương Vô Kỵ cắm đầu rảo bước, không cần chọn đường, cứ nhắm hướng rừng sâu trên dốc núi mà đi, càng đi càng lên cao, bước chân nhanh dần, cuối cùng phóng chạy như bay, hơn một canh giờ vẫn chưa dám dừng nghỉ. Trốn đi từ lúc nửa đêm, đến tờ mờ sáng thì thấy mình đang ở trong một cánh rừng trên đỉnh núi tuyết. Cậu ngoảnh lại xem Chu Trường Linh có đuổi theo hay không, vừa quay lại thì bất giác than thầm, vì mình để lại dấu chân dài dằng dặc trên mặt tuyết. Tây Vực trời lạnh giá, tuy đã sang xuân nhưng tuyết vẫn đọng trên đỉnh núi chưa tan. Cậu bỏ chạy thục mạng, ra sức đi lên đỉnh núi, nào ngờ để lộ hết đường đi nước bước của mình thế kia.

Lúc đó từ phía trước văng vẳng tiếng sói tru, nghe thật ghê rợn. Trương Vô Kỵ leo lên một mỏm đá nhìn xuống, thấy sườn núi đối diện có bảy tám con sói lớn màu xám đang ngẩng đầu hướng về phía cậu mà nhe răng múa vuốt, hiển nhiên muốn xông tới cắn xé, có điều giữa đôi bên là một vực sâu vạn trượng không nhìn thấy đáy, chúng chẳng thể vượt qua. Trương Vô Kỵ ngoảnh lại sau lưng, tim giật thót một cái: trên sườn núi có năm bóng đen đang thong thả di chuyển về phía cậu, chính là người của Chu, Võ hai nhà. Lúc này còn cách xa, tưởng đâu năm người kia đi chậm, kỳ thực họ đi nhanh như gió, xem chừng không đầy một canh giờ nữa là sẽ đuổi tới đây.

Trương Vô Kỵ cố trấn tĩnh, suy tính: “Ta thà để cho lũ sói đói xé xác ăn thịt, chứ không để mình rơi vào tay bọn kia cho chúng hành hạ”. Cậu nghĩ, mình một lòng si mê kính trọng Chu Cửu Chân, nào ngờ nàng thiếu nữ xinh đẹp như tiên mà tâm địa lại như rắn rết. Cậu vừa hổ thẹn, vừa đau lòng, vội chạy thẳng vào rừng sâu.

Trong rừng sâu cỏ mọc cao ngang lưng, tuy cũng có tuyết đóng, nhưng dấu chân không dễ thấy được. Cậu chạy một hồi, cả tâm trí lẫn thể xác cùng mệt mỏi, chất hàn độc trong người đột nhiên lại phát tác, hai chân mỏi nhừ không thể đi thêm nữa, cậu bèn chui vào một bụi cỏ dày, nhặt được một cục đá nhọn thủ sẵn trong tay, định bụng nếu mình bị bọn Chu Trường Linh kia tìm thấy thì sẽ lấy cục đá đập vào huyệt Thái Dương tự sát.

Trương Vô Kỵ nhớ lại mọi việc trong hơn hai tháng qua, từ ngày trú nhờ ở Chu gia trang, càng nghĩ càng chua chát: “Bọn người phái Không Động, phái Hoa Sơn, phái Côn Luân toàn lấy oán báo ân, ta cũng chẳng để bụng, riêng với Chu Cửu Chân ta thành tâm như thế, vậy mà… Ôi, mẫu thân ta lúc lâm chung đã dặn dò ta điều gì nhỉ? Sao ta lại quên biến lời dặn dò đó?”

Câu nói phút lâm chung của Ân Tố Tố lúc này vang lên rõ từng lời bên tai cậu: “Hài nhi, bao giờ lớn lên, phải đề phòng nữ nhân lừa dối con, nữ nhân càng đẹp càng giỏi lừa người”. Nước mắt rưng rưng, cảnh vật trước mặt cậu nhòe đi: “Mẫu thân ta lúc nói câu này, dao đã cắm sâu vào ngực. Mẫu thân cố nhịn đau dặn dò ta, thế mà ta lại không ghi khắc những lời huyết lệ ấy trong lòng. Giả dụ ta không biết cách tự giải huyệt, không hay biết mưu đồ khôn khéo của bọn Chu Trường Linh, hẳn là ta sẽ đưa chúng tới Băng Hỏa đảo, làm nguy hại cho tính mạng của nghĩa phụ”.

Lòng cậu đã quyết, đầu óc tỉnh táo, bây giờ đã nhận biết rõ ràng mưu đồ của cha con Chu Trường Linh: Khi Chu Trường Linh đoán biết cậu là con của Trương Thúy Sơn, hắn liền ra tay đánh chết bầy chó dữ, tát con gái, để Trương Vô Kỵ tin rằng ông ta là hiệp sĩ thị phi phân minh, nhân nghĩa hơn người. Còn việc hắn đốt cháy tòa sơn trang hoa lệ, tuy đáng tiếc thật, nhưng so với thanh bảo đao Đồ Long “võ lâm chí tôn” thì đâu có đáng gì. Kẻ hành sự mẫn tiệp quả đoán như ông ta thật là đáng sợ.

Trương Vô Kỵ lại nghĩ: “Hồi ta ở trên đảo, ngày ngày thấy nghĩa phụ ôm thanh đao Đồ Long thẫn thờ suy nghĩ, suốt mười năm trời vẫn không tìm ra bí mật của thanh đao. Nghĩa phụ tuy thông minh, song trực tính. Lão Chu Trường Linh này cơ trí hơn người, lắm mưu nhiều kế hơn hẳn nghĩa phụ ta, một khi hắn lấy được thanh đao, chắc hắn sẽ tìm ra…” Đang miên man suy nghĩ như thế, bỗng nghe tiếng chân, Chu Trường Linh và Võ Liệt đã tới gần.

Võ Liệt nói:

– Tên tiểu tử ấy chắc là ẩn náu trong cánh rừng này, nó không chạy xa hơn đâu…

Chu Trường Linh vội ngắt lời Võ Liệt:

– Ôi, chả biết Cửu Chân nói năng thất lễ thế nào, khiến Trương huynh đệ giận dỗi. Ta thật lo lắng, cậu ấy tuổi còn nhỏ, trên đỉnh núi đầy băng tuyết thế này, lỡ gặp chuyện gì, dù ta dù thịt nát xương tan cũng không chuộc được tội lỗi với Trương ân công.

Mấy câu nói giả dối, tự trách mình và ra vẻ lo lắng cho người khác, Trương Vô Kỵ nghe mà rùng mình, nghĩ thầm: “Lão ta vẫn còn nuôi ý đồ định dùng lời lẽ ngon ngọt lừa dối ta”.

Chỉ thấy Chu, Võ hai người cầm gậy, khua khua từng đám cỏ tìm kiếm; Trương Vô Kỵ cố nép người lại, không dám cử động, may mà cánh rừng này rất rộng, khó bề sục sạo hết mọi chỗ. Chẳng mấy chốc Vệ Bích và “Tuyết Lĩnh Song Chu” cũng đến. Năm người khua kiếm gạt cỏ cả nửa ngày vẫn không tìm ra, cả bọn đều mệt, ngồi nghỉ trên một tảng đá. Kỳ thực chỗ họ ngồi chỉ cách Trương Vô Kỵ chừng ba trượng, nhưng rừng rậm cỏ cao đã che lấp thân hình cậu.

Chu Trường Linh nghĩ ngợi một lát, rồi đột nhiên lớn tiếng quát:

– Cửu Chân, tại sao ngươi đắc tội với Vô Kỵ huynh đệ, để đến nỗi cậu ấy nửa đêm bỏ đi không nói một lời?

Chu Cửu Chân ngẩn người, Chu Trường Linh liền nháy mắt với con. Trương Vô Kỵ nằm phục trong bụi cỏ, song đã nhìn rõ cái nháy mắt đó.

Chu Cửu Chân hiểu ý, nói to:

– Con chỉ đùa cậu ấy một chút thôi! Điểm huyệt chơi, ai ngờ cậu ấy lại tưởng là thật.

Rồi nàng ta cất tiếng gọi to:

– Vô Kỵ đệ, Vô Kỵ đệ, hãy mau ra đây để tỷ tỷ chuộc lỗi nào!

Tiếng gọi to, nhưng nghe vẫn dịu dàng, ngọt ngào. Gọi một hồi không thấy động tĩnh gì, nàng ta đột nhiên khóc òa lên, nói:

– Cha, cha đừng đánh con, đừng đánh con, con đâu có cố ý đắc tội với Vô Kỵ đệ!

Chu Trường Linh giơ tay vỗ đồm độp vào đùi mình, còn mồm lớn tiếng quát mắng. Chu Cửu Chân không ngớt kêu khóc thảm thiết, tựa hồ bị cha đánh đau lắm không bằng. Võ Liệt, Võ Thanh Anh và Vệ Bích ba người đứng bên cạnh bưng miệng cười.

Trương Vô Kỵ nhìn cảnh cha con Chu Trường Linh đóng kịch, thản nhiên nghĩ thầm: “May mà ta nhìn rõ thần sắc của cha con họ, nếu không, chỉ cần nghe giọng rên la thảm thiết của nàng, hẳn ta đã mềm lòng chui ra rồi”.

Cha con Chu Trường Linh đoán chắc Trương Vô Kỵ chỉ nấp trong cánh rừng này, cha cứ mắng chửi, con cứ kêu khóc, giọng mỗi lúc một thống thiết thêm. Trương Vô Kỵ lấy hai tay bịt tai lại, nhưng thanh âm kia cứ từng đợt từng đợt lọt vào tai. Cậu hết chịu nổi, bực quá, liền bật dậy, nhảy ra, kêu lên:

– Các người đừng có giở trò quỷ, chẳng lừa nổi ta nữa đâu.

Bọn Chu Trường Linh năm người nhất tề reo hò:

– Đây rồi!

Trương Vô Kỵ gọi:

– Cửu Chân tỷ tỷ!

Rồi cắm đầu xuyên rừng mà chạy, Chu Trường Linh cùng Võ Liệt phi thân đuổi theo.

Trương Vô Kỵ đã quyết ý chết nên không do dự lao thẳng về phía vực sâu vạn trượng. Khinh công của Chu Trường Linh vượt xa Vô Kỵ nên, khi cậu tới bờ vực, thì ông ta đã đuổi kịp, giơ tay chộp lấy cậu.

Trương Vô Kỵ thấy lưng đau nhói, năm ngón tay phải của Chu Trường Linh đã nắm chặt sống lưng cậu, nhưng chân cậu đạp hẫng vào chỗ trống không, nửa thân hình lơ lửng trên vực sâu. Chân trái Vô Kỵ lại đạp tới, cả người nhào về phía trước.

Chu Trường Linh không ngờ Trương Vô Kỵ lại nhảy xuống vực tự tận, khiến cho ông ta cũng bị kéo theo, cả hai cùng rơi xuống. Với mấy chục năm tu luyện võ công, nếu ông ta lập tức buông tay, lộn ngược trở lên thì có thể bảo toàn tính mạng. Nhưng hắn biết rằng chỉ buông tay ra một cái, chắc chắn sẽ không còn cơ hội đoạt được thanh bảo đao Đồ Long “võ lâm chí tôn” nữa, bao nhiêu suy tính trù liệu khổ công trong hơn hai tháng qua sẽ chẳng khác gì tòa sơn trang hoa lệ đã hóa thành tro bụi.

Trong phút Chu Trường Linh do dự, Trương Vô Kỵ rơi xuống vực rất nhanh. Ông ta kêu lên:

– Nguy rồi!

Chu Trường Linh với tay trái lại phía sau, cho Võ Liệt vừa chạy tới nắm lấy, nhưng vẫn còn cách xa cả thước, còn tay phải túm lưng Trương Vô Kỵ thì không chịu buông ra.

Hai người từ trên vách núi rơi xuống vực sâu muôn trượng, nghe tiếng kêu la của Võ Liệt, Chu Cửu Chân từ trên vọng xuống, trong giây lát đã không còn nghe thấy gì nữa. Hai người rơi xuyên qua lớp sương mù lãng đãng trong khe núi, thẳng xuống đáy vực.

Chu Trường Linh một đời trải qua vô vàn sóng gió, lúc lâm nguy vẫn bình tĩnh, nghe tiếng gió ù ù bên tai, thân mình rơi thẳng xuống, mỗi lúc gặp cành cây mọc chìa ra từ vách đá, ông ta đều giơ tay chộp, mấy lần còn cách hàng thước, mãi sau mới chộp trúng một cành. Nhưng lực rơi của hai người quá nặng, cành cây chịu sao nổi, “rắc” một cái, một cành tùng to bằng bắp tay gãy rời. Nhưng nhờ thế mà đà rơi chậm lại, Chu Trường Linh có được chỗ mượn lực, hai chân giơ ra khoèo lại, dùng chiêu “Ô long giảo trụ” quặp chặt vào thân cây tùng, kéo Trương Vô Kỵ đặt trên cây, chỉ sợ cậu lại nhảy xuống vực, nên một tay ông ta vẫn giữ chặt không buông.

Trương Vô Kỵ thấy mình vẫn không thoát khỏi tay ông ta, thì hết sức thất vọng, hậm hực nói:

– Chu bá bá, dẫu có hành hạ tiểu điệt tới mức nào, cũng đừng hòng buộc tiểu điệt dẫn đi tìm nghĩa phụ!

Chu Trường Linh xoay người ngồi vững trên cây rồi mới ngẩng đầu lên, dĩ nhiên không thấy bọn Chu Cửu Chân, tiếng gọi cũng không nghe được nữa, tuy có tài cao gan lớn, nhưng việc thoát chết vừa rồi khi nghĩ lại cũng không khỏi rùng mình, vã mồ hôi lạnh. Ông ta định thần rồi, cười nói:

– Tiểu huynh đệ, cậu nói gì ta hoàn toàn không hiểu vậy? Cậu chớ nên nghĩ lung tung.

Trương Vô Kỵ nói:

– Mưu gian của bá bá, tiểu điệt biết tỏng rồi, chẳng còn dùng được đâu. Dù có ép tiểu điệt đi Băng Hỏa đảo, tiểu điệt cứ chỉ đường lung tung, tất cả bỏ xác trên biển, bá bá tưởng tiểu điệt không dám làm chăng?

Chu Trường Linh nghĩ lời đó là thực tình, lúc này cứ phải dịu ngọt với Trương Vô Kỵ, sau này sẽ để con gái mình đối phó với cậu, may ra có cách hay. Ông ta nhìn quanh, trèo lên trên kia thì không thể, bên dưới là vực sâu không đáy, mà có xuống tới đáy cũng không có đường ra, chỉ còn cách độc nhất là men theo vách núi xiên xiên mà từ từ bò ra ngoài. Ông ta bèn nói với Trương Vô Kỵ:

– Tiểu huynh đệ, cậu chớ nên nghi ngờ lung tung như thế. Nhất định ta sẽ không ép cậu dẫn đi tìm Tạ đại hiệp. Nếu dám sai lời, họ Chu ta sẽ bị hàng vạn mũi tên cắm vào thân, chết mất xác.

Chu Trường Linh thề độc như thế cũng là thật tình, vì nghĩ thầm một khi Trương Vô Kỵ đã thà chết, thì dù có ép cách nào cũng vô ích, chỉ còn cách dụ dỗ sao cho cậu tình nguyện mới xong.

Trương Vô Kỵ nghe ông ta thề độc, trong bụng cũng dịu đi. Chu Trường Linh nói:

– Hai người mình từ từ bò dần ra, cậu đừng có nhảy xuống, nghe chưa?

Trương Vô Kỵ nói:

– Nếu bá bá không cưỡng ép, tội gì tiểu điệt phải tự tận?

Chu Trường Linh gật đầu, lấy ra con dao găm, lột vỏ cây tết thành một sợi dây, hai đầu buộc vào lưng mình với Trương Vô Kỵ, rồi hai người men theo vách núi tuyết mà bò về phía có ánh nắng.

Vách núi vốn đã dốc, lại thêm băng tuyết đóng cứng nên rất trơn trượt. Trương Vô Kỵ hai lần tuột xuống đều nhờ Chu Trường Linh kéo lại mới không lăn xuống vực sâu. Song Trương Vô Kỵ trong bụng chẳng hề cảm kích, nghĩ thầm: “Chẳng qua lão ta nghĩ tới thanh đao Đồ Long, làm gì có thực tâm cứu ta?”

Hai người bò một hồi, đầu gối bị băng tuyết cào rách chảy cả máu, cuối cùng tới được chỗ không dốc lắm, hai người đứng lên được, chầm chậm từng bước một. Qua vách núi trông như bức bình phong ấy, Chu Trường Linh luôn miệng kêu khổ, không hiểu cao thấp thế nào.

Trước mắt là mây mù mênh mông, không thấy lối đi, hai người đang ở trên một bình đài rất cao, ba bề trống không. Bình đài này phải rộng đến hơn một chục trượng vuông, nhưng nhô ra giữa không trung, lên tiếp không được mà xuống cũng chẳng xong, thật đúng vào chỗ chết. Trên mặt bình đài chỉ toàn băng tuyết trắng xóa, không cây cỏ, cũng không dã thú.

Trương Vô Kỵ lại vui mừng, cười nói:

– Chu bá bá, bá bá ra sức mưu tính, rốt cuộc lại tới cái bình đài ở lưng chừng trời này, dù bây giờ lấy được thanh đao Đồ Long, phỏng có ích gì?

Chu Trường Linh quát:

– Đừng nói nhăng nói cuội!

Ông ta ngồi xếp bằng, ăn hai vốc tuyết, vận khí một hồi, nghĩ bụng: “Bây giờ tuy mệt, nhưng chưa kiệt sức. Nếu ở đây nhịn đói thêm một ngày, e rằng khó bề thoát ra”, liền đứng dậy, nói:

– Đường lên phía trước cụt rồi, chúng ta quay trở lại tìm lối khác.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tiểu điệt lại cảm thấy ở đây rất thích, quay lại làm gì chứ?

Chu Trường Linh tức giận nói:

– Ở đây đâu có cái gì ăn mà thích?

Trương Vô Kỵ cười, đáp:

– Không có thức ăn thông thường, mình tu tiên luyện đạo càng hay chứ sao.

Chu Trường Linh cả giận trong lòng, nhưng biết giờ mà cưỡng ép thì không chừng Vô Kỵ lại nhảy xuống vực, đành nói:

– Được, cậu cứ ngồi nghỉ một lát, để ta tìm lối ra, nếu thấy sẽ quay lại đón cậu. Đừng có ra sát mép đá, cẩn thận kẻo ngã xuống vực đó.

Trương Vô Kỵ nói:

– Việc sống chết mất còn của tiểu điệt, sao bá bá lo quá vậy? Lúc này mà bá bá còn mơ tưởng tiểu điệt đưa bá bá đi Băng Hỏa đảo ư, bá bá hãy quên chuyện đó đi thì hơn.

Chu Trường Linh không trả lời, theo đường cũ quay trở lại đến chỗ cây tùng, ông ta bò sang bên trái tìm đường, chỗ này vách núi cheo leo hung hiểm, nhưng vì không vướng Trương Vô Kỵ nên ông ta bò qua nhanh, lúc bò lúc đi, độ nửa canh giờ thì tới một mỏm đá nhô ra ngoài. Phía trước lại cụt đường, Chu Trường Linh thở dài, thừ người hồi lâu, mới buồn bã trở lại cái bình đài cũ.

Trương Vô Kỵ không cần hỏi, nhìn mặt ông ta là cũng biết không có lối ra, nghĩ thầm: “Ta trúng phải Huyền Minh thần chưởng, chất âm độc khó trừ, bấm đốt ngón tay xem ra thọ mệnh đã hết, chết ở chỗ nào cũng thế thôi. Còn ông ta tự dưng có phúc không hưởng, mơ tưởng làm bậc chí tôn trong võ lâm, để bị chết đói như ta giữa chốn băng tuyết này, thật đáng thương”.

Ban đầu cậu căm ghét Chu Trường Linh gian ngoa xảo quyệt, sau khi thoát hiểm khỏi rơi xuống vực, cậu còn châm chọc ông ta mấy câu; bây giờ thấy hết đường sống, Chu Trường Linh cúi đầu ủ rũ, thì cậu lại thương hại ông ta, bèn ôn tồn nói:

– Chu bá bá, bá bá nhiều tuổi rồi, vinh hoa phú quý đều đã hưởng, giờ có chết cũng đâu tiếc, bá bá chả nên quá khổ sở như thế.

Chu Trường Linh sở dĩ tới giờ còn nhẫn nhịn Trương Vô Kỵ, vì ông ta vẫn hi vọng cuối cùng sẽ làm cho cậu mềm lòng, dẫn ông ta đi Băng Hỏa đảo, lúc này thấy đã hết đường sống, bị lâm vào tuyệt cảnh thế này toàn là do tên tiểu tử kia mà ra, thử hỏi bảo ông ta làm sao nuốt cho xuôi nỗi oán giận này? Hai mắt ông ta như nảy lửa, hầm hầm nhìn Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ thấy vẻ mặt vốn dĩ ôn hòa phúc hậu của Chu Trường Linh phút chốc trở nên hung ác như dã thú, thì cả sợ kêu lên một tiếng, đứng bật dậy bỏ chạy. Chu Trường Linh quát:

– Ở đây còn đường cho mi chạy trốn sao?

Chu Trường Linh giơ tay chộp vào lưng Vô Kỵ, định hành hạ cậu một phen cho nếm đủ mùi khổ ải rồi mới chết.

Trương Vô Kỵ lao về đằng trước, thấy vách núi bên trái có chỗ tối đen, hình như là một cái hang, chẳng nghĩ ngợi gì hết liền chui luôn vào đó. Soạt một tiếng, ống quần cậu bị Chu Trường Linh xé rách, da đùi bị ngón tay ông ta cào xước. Trương Vô Kỵ lật đật vội chuồi vào hang, đột nhiên “bịch” một cái, trán va phải đá, mắt nổ đom đóm. Vô Kỵ biết rằng lúc này Chu Trường Linh đã trở mặt, bất cứ thủ đoạn tàn ác nào cũng có thể sử dụng, nên trong cơn hoảng hốt, cậu cứ liều mạng chui sâu vào trong, còn việc chui vào cái hang tối om om, cũng là hãm vào tuyệt địa, không sao thoát khỏi độc thủ của đối phương thì cậu chẳng kịp nghĩ đến. May sao cái hang này càng vào sâu càng hẹp, sau khi bò hơn chục trượng, chỉ mình cậu có thể vào lọt chứ Chu Trường Linh thì không.

Trương Vô Kỵ trườn thêm vài trượng, bỗng thấy phía trước có ánh sáng, trong lòng cả mừng, tay chân cùng xoải cho nhanh. Ở phía sau Chu Trường Linh vừa tức giận, vừa gấp gáp, nói:

– Ta không hại mi đâu, đừng bò đi nữa.

Trương Vô Kỵ mặc xác hắn.

Chu Trường Linh vận nội lực, giơ tay đánh mạnh vào vách đá, đá núi rắn lạ thường, chưởng đánh vào chỉ khiến lòng bàn tay đau nhói chứ vách đá chẳng hề hấn gì. Ông ta rút cây đoản đao, định xẻ rộng lối để bò, nhưng đào được vài nhát thì cây đoản đao bằng đồng xanh gãy đôi. Chu Trường Linh nổi cơn thịnh nộ, vận kình ra hai vai, trườn lên phía trước, thân hình quả nhiên tiến thêm được hơn một thước, nhưng không thể vào sâu chút nào nữa, đá cứng ép vào ngực và lưng khiến hắn rất khó thở.

Tức ngực khó thở, Chu Trường Linh đành trườn lùi, nào ngờ thân thể đã bị kẹt cứng trong khe đá, tiến lên chẳng được, mà lùi lại cũng không xong. Lúc này hồn xiêu phách lạc, Chu Trường Linh dùng hết sức bình sinh đẩy mạnh vai vào vách đá, thân hình mới lùi lại được hơn một thước, cảm thấy ngực đau nhức ghê gớm, hóa ra bị gãy một chiếc xương sườn.


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.

 Bình luận