Thiên long bát bộ

Hồi 43: Một Đời Mộng Bá Vương, Cũng Trở Về Cát Bụi

trước
tiếp

Bang chúng Cái Bang lúc vui vẻ theo Bang chủ đến chùa Thiếu Lâm thì hết sức khí thế, chỉ mong Bang chủ dựa vào võ công cao thâm khó lường để giành được ngôi võ lâm minh chủ, từ nay Cái Bang áp đảo được Thiếu Lâm mà làm lãnh tụ võ lâm Trung Nguyên. Ngờ đâu Trang Bang chủ lại bái Đinh Xuân Thu làm sư phụ, rồi bị Tiêu Phong đá gãy hai chân, nên khí thế mọi người đều xẹp xuống, trên mặt không còn chút hứng thú nào.

Ngô trưởng lão lớn tiếng nói: “Các vị huynh đệ! Chúng ta còn ở đây làm chi? Chẳng lẽ còn muốn xin ít tiền lẻ cơm nguội nữa chăng? Mau xuống núi đi thôi.” Bang chúng dạ ran, toan quay xuống núi.

Bỗng nhiên Bao Bất Đồng hô lớn: “Khoan đã, khoan đã! Bao mỗ còn có chuyện muốn nói với Cái Bang.” Trần trưởng lão đã cùng gã và Phong Ba Ác tỉ đấu ở Vô Tích, biết gã chẳng bao giờ nói được một câu tử tế. Lão dừng bước, lớn tiếng nói:” Họ Bao kia! Có lời thì nói ra, có rắm thì đừng phóng.” Bao Bất Đồng đưa tay bịt mũi la lên: “Thối quá! Thối quá! Trời ơi, tên ăn mày nào cũng thối! Trong Cái Bang nhà ngươi có một lão hóa tử thối tha tên là Dịch Đại Bưu phải không?”

Trần trưởng lão nghe gã gọi đến Dịch Đại Bưu liền để ý hỏi lại: “Có thì sao, mà không có thì sao?” Bao Bất Đồng đáp: “Ta nói là tên ăn mày nào cũng thối. Ngươi đã chõ miệng vào, tức là thừa nhận rồi phải không?” Trần trưởng lão nghĩ đến việc lớn trong bang, không thèm đấu khẩu tranh hơn thua với gã, liền hỏi: “Ta hỏi ngươi, Dịch Đại Bưu làm sao? Hắn là đệ tử bản bang được phái đi công chuyện bên Tây Hạ. Ngươi có tin tức gì về gã không?”  Bao Bất Đồng đáp: “Chính là ta đang định nói với ngươi về một chuyện lớn bên Tây Hạ, nhưng Dịch Đại Bưu thì đã xuống gặp Diêm Vương rồi.” Trần trưởng lão sửng sốt hỏi: “Có thật không? Bên Tây Hạ có việc gì trọng đại?” Bao Bất Đồng đáp: “Ngươi đã mắng ta hễ mở miệng là phóng rắm. Bây giờ ta không muốn phóng rắm nữa.”

Trần trưởng lão tức muốn dựng chòm râu bạc lên, nhưng lại nghĩ đến chuyện lớn là trọng, liền cười ha hả nói: “Lão phu đã đắc tội với các hạ, bây giờ xin lỗi vậy.” Bao Bất Đồng nói: “Xin lỗi thì không cần, chỉ cần từ đây ngươi phải ít nói đi mà phóng rắm ra nhiều hơn.” Trần trưởng lão ngạc nhiên tự hỏi: “Gã nói vậy là sao?”. Nhưng lão đang có việc phải cần gã nên không hỏi lại, chỉ mỉm cười mà không nói. Bao Bất Đồng lại nói: “Thối quá! Thối quá! Lão này nói không ra tiếng rồi.” Trần trưởng lão hỏi: “Nói không ra tiếng là sao?” Bao Bất Đồng nói: “Ngươi không mở miệng nói gì, hơi không ra đằng miệng thì dĩ nhiên phải ra đường khác.” Trần trưởng lão nghĩ bụng: “Thằng cha này thật là khó chịu, mình mới nói một câu vô lễ, mà gã xoay tới xoay lui tới ba bốn lần. Giả tỉ mình lại lên tiếng thì gã lại kiếm chỗ vặn vẹo, không chịu nói vào chuyện chính.” Lão bèn mỉm cười, không nói nửa lời.

Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét, sai bét! Ngươi lại muốn tranh hơi với ta, thật là thối tha!” Trần trưởng lão mỉm cười nói: “Tại hạ không mở miệng ra, sao lại bảo là tranh hơi với các hạ?” Bao Bất Đồng nói: “Ngươi chỉ phóng hơi thối ra mà không nói, thì dĩ nhiên không cần phải mở miệng.” Trần trưởng lão chau mày nói: “Thật là tức cười.”

Bao Bất Đồng thấy Trần trưởng lão nhân nhượng, mình đã nắm được thượng phong, liền nói: “Ngươi đã mở miệng nói, tức là không tranh hơi với ta nữa. Vậy ta nói cho ngươi biết. Nửa năm trước đây, ta theo Mộ Dung công tử, Đặng đại ca, Công Dã nhị ca… cả một đoàn người theo đường Cam Lương, thấy trong một khu rừng có một bọn ăn mày nằm chết dưới đất. Tên thì đầu lìa khỏi cổ, tên thì ruột đổ tứ tung, thật là vừa đáng thương vừa đáng sợ. Bọn này trên lưng có đeo túi vải, tên thì ba cái, tên thì bốn cái, tên thì năm cái, cũng có tên sáu cái.” Trần trưởng lão xen vào hỏi: “Không hiểu họ có phải là đệ tử của tệ bang không?” Bao Bất Đồng nói: “Lúc ta trông thấy thì mấy vị lão huynh này chết đã lâu, cũng chẳng biết đang ăn cháo lú hay đang lên Vọng Hương đài, không chừng lại đang bị thẩm vấn ở Thập Điện Diêm Vương. Họ đã không nói được, thì dĩ nhiên ta không thỉnh giáo được họ tôn tính đại danh là gì, quê quán ở đâu, thuộc về bang hội nào, vì sao lại chết. Nếu không thế thì họ biến thành quỷ sứ cũng còn mắng ta: Có lời thì nói ra, có rắm thì đừng phóng. Như thế thì ta bị mắng oan uổng hay sao?”

Trần trưởng lão nghe đến tin tức về nhiều huynh đệ trong bang chết thảm, đương nhiên rất quan tâm, không thể nín thinh mà cũng không thể buông lời chống đối, chỉ đáp: “Bao huynh nói đúng lắm!”

Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét, sai bét! Tính Bao mỗ rất ghét kẻ phụ họa, theo hùa, thế mà lão lại bảo “Bao huynh nói đúng lắm”, còn trong lòng lại thóa mạ ta là loài rùa đen, là quân chó đẻ. Cái kiểu nịnh trước mặt chửi sau lưng là hành vi bỉ ổi của bọn phái Tinh Tú. Nam tử hán đại trượng phu thì đúng là đúng, sai là sai, người ta có lập trường của người ta, mình có chủ trương của mình. Thương ai dám bảo là thương, ghét ai dám bảo là ghét. Tự đi tự đứng một mình, không cần kéo bè kéo lũ. Như thế mới là anh hùng hảo hán.”

Hắn giáo huấn cho Trần trưởng lão một tràng dài rồi mới nói tiếp: “Có một lão ăn mày bị trọng thương, lúc đó chưa kịp chết, nhưng mà cũng sắp chết. Hắn tự xưng là Dịch Đại Bưu, vừa ở Tây Hạ đem về một bảng văn của vua nước Tây Hạ, nói là có quan hệ trọng đại, đưa cho bọn ta để nhờ trao lại cho trưởng lão trong quí bang.” Tống trưởng lão nghĩ thầm: “Trần huynh đệ đã ăn nói lỗ mãng với gã, để ta đứng ra nói chuyện chắc hay hơn.” Lão bèn tiến ra xá một cái rồi nói: “Bao tiên sinh đã vì nghĩa mà đưa tin, tệ bang từ trên xuống dưới đều cảm kích đại đức.” Bao Bất Đồng nói: “Sai bét, sai bét! Nói quí bang từ trên xuống dưới đều cảm kích đại đức của ta là sai bét.” Tống trưởng lão ngẩn ra hỏi lại: “Sao Bao tiên sinh lại nói thế?” Bao Bất Đồng trỏ Du Thản Chi nói: “Bang chủ quí bang đây chẳng những không cảm kích ta mà còn tức giận ta đến cực điểm.” Tống, Trần hai vị trưởng lão đồng thanh hỏi: “Sao lại thế? Xin Bao tiên sinh chỉ giáo.”

Bao Bất Đồng đáp: “Dịch Đại Bưu lúc sắp chết có nói rằng bọn họ đều bị Trang Bang chủ của quí bang sai người sát hại. Chỉ vì họ không phục gã tiểu tử đó làm Bang chủ, nên bị gã sai người truy sát. Ôi thôi, thật là đáng tiếc, thật là đáng thương. Dịch Đại Bưu còn nhờ bọn ta báo tin cho Ngô trưởng lão, dặn lão cùng các vị trưởng lão khác nhất định phải đề phòng cẩn thận.”

Bao Bất Đồng vừa nói câu đó, quần cái đều chấn động. Ngô trưởng lão chạy tới trước mặt Du Thản Chi lớn tiếng quát hỏi: “Chuyện đó là đúng hay sai?”

Từ lúc Du Thản Chi bị Tiêu Phong đá gãy chân, gã ngồi yên dưới đất chẳng nói năng mà cũng không nhúc nhích, âm thầm vận nội lực cho đỡ đau, đột nhiên nghe Bao Bất Đồng kể ra chuyện bí mật ngày trước thì không khỏi hoảng hồn. Gã không biết trả lời Ngô trưởng lão thế nào cho phải, cứ ấp úng: “Là Toàn… Toàn Quan Thanh bảo ta ra lệnh, không… không liên quan đến ta.”

Tống trưởng lão không muốn phô chuyện xấu trong bang trước mặt mọi người, chỉ lườm Toàn Quan Thanh một cái, nghĩ thầm: “Chuyện trong bang, ta sẽ xử trí ngươi sau.” Rồi lão quay lại hỏi Bao Bất Đồng: “Tấm bản văn của Dịch Đại Bưu huynh đệ đưa cho tiên sinh, chắc là tiên sinh vẫn giữ bên mình?” Bao Bất Đồng quay lại đáp: “Ta không giữ!” Tống trưởng lão lập tức mặt biến sắc, nghĩ thầm: “Ngươi đã nói chuyện đến nửa ngày mà vẫn chưa chịu đưa bản văn cho ta, dám đem người khác ra tiêu khiển đỡ buồn ư?”. Bao Bất Đồng xá dài nói: “Non xanh trơ đó, nước biếc còn đây, chúng ta còn ngày tái hội.” Nói xong, gã quay người toan bỏ đi.

Ngô trưởng lão vội hỏi: “Sao các hạ không giao lại tấm bản văn của nước Tây Hạ?” Bao Bất Đồng đáp: “Thật là kỳ cục! Sao ngươi biết Dịch Đại Bưu giao bản văn vào tay Bao mỗ? Sao ngươi lại dùng hai chữ “giao lại”? Hôm ấy chính mắt ngươi có trông thấy chăng?”

Tống trưởng lão cố nén giận nói: “Rõ ràng Bao huynh vừa nói là Dịch Đại Bưu huynh đệ của tệ bang vừa cầm từ Tây Hạ về một tấm bản văn của vua nước Tây Hạ, nhờ Bao huynh giao cho trưởng lão bản bang. Ở đây có rất nhiều anh hùng hảo hán, ai cũng nghe thấy câu này. Sao đột nhiên Bao huynh lại đổi giọng?”

Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét, sai bét! Ta không nói như vậy.” Gã thấy Tống trưởng lão biến sắc mặt, lại tiếp: “Nghe nói các vị trưởng lão Cái Bang đều là hảo hán như gang như thép, thế mà trước mặt anh hùng thiên hạ lại đổi trắng thay đen, thị phi đảo lộn. Như vậy chẳng phải là đem danh tiếng anh hùng mà thả trôi theo dòng nước ư?”

Ba vị trưởng lão Tống, Trần, Ngô nhìn nhau, sắc mặt cực kỳ khó coi, không quyết định được nên tiếp tục nhẫn nại hay trở mặt động thủ. Trần trưởng lão nói: “Các hạ đã nói thế, bọn ta cũng không biết nói thế nào. Đúng hay sai thì phải có công luận.” Bao Bất Đồng nói: “Sai bét, sai bét! Ngươi bảo múa lưỡi nói nhăng cũng chỉ vô ích ư? Thế thì sao ngày trước Tô Tần chỉ múa lưỡi mà đeo tướng ấn sáu nước? Trương Nghi chỉ múa lưỡi mà giúp nhà Tần gồm thâu lục quốc?” Tống trưởng lão nghe Bao Bất Đồng đưa câu chuyện đi mỗi lúc một xa, đành nhăn nhó cười nói: “Giả tỉ Bao tiên sinh mà sinh vào thời Chiến Quốc thì còn vượt xa Tô Trương, đeo tướng ấn đến bảy nước, tám nước!”

Bao Bất Đồng nói: “Ngươi lại mỉa mai ta sinh chẳng gặp thời nên vận khí xui xẻo phải không? Được lắm! Từ đây mà họ Bao này có đau mình váng mẩy, lưng mỏi chân chồn, nhức đầu ngạt mũi, nhất định phải đi kiếm ngươi mà hỏi.”

Trần trưởng lão bực tức hỏi: “Bao huynh muốn thế nào, xin nói mau cho biết!” Bao Bất Đồng nói: “Hừ! Ngươi nóng tính quá. Trần trưởng lão! Trước kia ở thành Vô Tích, ngươi tỉ đấu cùng Phong tứ đệ, trong tay ngươi cầm một cái túi lớn, trong cái túi lớn có một con bò cạp to, con bò cạp này có kim độc, kim độc này đâm vào người thì sưng lên thành một cục, sưng lên thành một cục là đối phương phải toi mạng. Có đúng thế không?” Trần trưởng lão nghĩ thầm: “Chuyện này chỉ nói mấy chữ là xong, mà gã cũng cố lý la lý lố cho thành một tràng, dài.” Lão đáp gọn: “Đúng thế!”

Bao Bất Đồng nói: “Hay lắm! Bao mỗ muốn đánh cuộc với ngươi. Ngươi mà thắng cuộc thì Bao mỗ lập tức nói cho ngươi biết tin tức của lão già Dịch đưa từ Tây Hạ về. Còn nếu ngươi thua cuộc thì phải đưa cái túi có con bò cạp cho Bao mỗ, kèm theo cả thuốc giải. Ngươi có bằng lòng không?” Trần trưởng lão hỏi lại: “Bao huynh định đánh cuộc gì?” Bao Bất Đồng đáp: “Tống trưởng lão của quí bang đã vu cáo rằng Bao mỗ có nói là Dịch Đại Bưu đem bản văn của vua nước Tây Hạ giao cho Bao mỗ, rồi nhờ Bao mỗ giao lại cho trưởng lão quí bang. Nhưng Bao mỗ không nói vậy, thế thì chúng ta đánh cuộc về chuyện đó. Nếu Bao mỗ có nói vậy thì ngươi thắng cuộc, còn Bao mỗ không nói vậy thì ngươi thua cuộc.”

Trần trưởng lão đưa mắt nhìn hai vị Tống, Ngô. Cả hai đều gật gật đầu như muốn nói: “Ở đây có tới mấy ngàn người làm chứng, bất luận gã có giảo quyệt đến đâu cũng khó mà cãi chối. Cứ nhận đánh cuộc đi”. Trần trưởng lão liền đáp: “Được lắm! Lão phu đánh cuộc với Bao huynh. Nhưng không biết Bao huynh dùng cách gì để xác định ai thua ai thắng? Phải chăng chúng ta nên cử ra mấy vị đức cao vọng trọng, công chính nghiêm minh, để phân xử cho công bằng?”

Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét, sai bét! Ngươi muốn cử ra mấy vị đức cao vọng trọng để phân xử cho công bằng ư? Giả tỉ chúng ta cử ra đến tám vị hay mười vị, thì ở đây cũng còn lại hàng trăm hàng ngàn anh hùng hảo hán, chẳng lẽ họ đều không có đức cao vọng trọng hay sao? Mà nếu họ không có đức cao vọng trọng thì họ là bọn vô danh tiểu tốt hèn mạt hạ lưu hay sao? Vậy thì Cái Bang dám khinh mạn anh hùng hảo hán ở đây, thật là vô lễ.”

Trần trưởng lão nói: “Bao huynh lại nói giỡn rồi, tại hạ nhất định không dám có ý ấy. Vậy Bao huynh tinh sao cho phải?” Bao Bất Đồng nói: “Chuyện đó phải hay trái, cong hay thẳng thì chỉ nói một lời là xong, để ta chứng minh cho ngươi coi. Đưa đây!” Gã vừa nói vừa chìa tay ra. Trần trưởng lão hỏi: “Đưa cái gì?” Bao Bất Đồng đáp: “Cái bao, bò cạp, thuốc giải.” Trần trưởng lão cãi: “Bao huynh chưa chứng minh, sao lại đòi thắng cuộc?” Bao Bất Đồng nói: “Ta chỉ sợ ngươi thua cuộc rồi cãi xóa để quịt nợ.”

Trần trưởng lão cười ha hả nói: “Cái thứ độc vật nhỏ mọn đó chẳng có chi đáng kể. Bao huynh thích thì lão phu lập tức đưa tặng, cần gì phải nói chuyện thua hay thắng.” Lão bèn tháo chiếc bao vải trên vai xuống, lại móc trong bọc lấy một cái bình đưa cho Bao Bất Đồng.

Bao Bất Đồng không cần khách khí, đón ngay lấy rồi mở miệng bao ra xem. Gã thấy trong túi có bảy tám con bò cạp lớn màu sắc sặc sỡ, vội cột miệng bao lại, nhét bình thuốc giải vào trong bọc rồi nói: “Bây giờ Bao mỗ chứng minh cho ngươi xem là ngươi thua cuộc.” Gã vừa nói vừa tháo đai áo, nắm lấy một góc vạt áo mở phanh ra, kêu mọi người đến coi thì trong bọc chỉ có một ít bạc vụn và hỏa đao hỏa thạch, không còn vật gì khác. Tống, Trần, Ngô ba vị trưởng lão vẫn chưa hiểu ý gã ra sao, sắc mặt đầy vẻ nghi ngờ. Bao Bất Đồng nói: “Nhị ca lấy bản văn cho bọn họ coi.”

Công Dã Càn đang lo lắng về sự yên nguy của cha con Mộ Dung Phục, tuy trong lòng nóng nảy mà không có cách nào vượt qua La Hán đại trận của quần tăng chùa Thiếu Lâm, đành mỉm cười, lấy bản văn ra cầm trong tay. Quần hùng đều nhìn xem tấm bản văn, thì thấy nó là một tờ giấy vàng lớn có dấu son to tướng, viết đầy những chữ ngoằn ngoèo văn tự lạ, tuy chẳng biết đúng sai thế nào, nhưng tựa như không phải là đồ giả mạo.

Bao Bất Đồng nói: “Lúc nãy Bao mỗ đã nói là Dịch Đại Bưu của quí bang đem tấm bản văn giao cho bọn ta, nhờ giao lại cho trưởng lão quí bang, có đúng thế không?” Tống, Trần, Ngô ba trưởng lão đột nhiên thấy gã thừa nhận, liền cả mừng nói: “Đúng thế!” Bao Bất Đồng nói: “Thế mà Tống trưởng lão lại bịa đặt thành Dịch Đại Bưu giao tấm bản văn cho Bao mỗ, nhờ Bao mỗ giao lại cho trưởng lão quí bang, có đúng thế không?” Ba vị trưởng lão cùng nói: “Đúng thế! Có gì là sai đâu?”

Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét! Sai bét! Có nói đầu trâu giống đầu ngựa cũng chỉ sai đến thế. Sai một ly, đi một dặm. Bao mỗ nói là đưa bản văn cho bọn ta, mà Tống trưởng lão lại bảo là đưa bản văn cho ta. Bọn ta, là cả bọn Cô Tô Mộ Dung, gồm có Mộ Dung công tử, có Đặng đại ca, có Công Dã nhị ca, có Phong tứ đệ, có Bao Bất Đồng, lại có một vị cô nương là Vương Ngữ Yên. Còn ta, chỉ là gã Bao Bất Đồng một mình một bóng, một gã giang hồ mở miệng ra là sai bét, sai bét. Các vị anh hùng nghĩ mà xem, Vương cô nương nguyệt thẹn hoa nhường là một khuê nữ, mà bảo là tương đồng với Bao Bất Đồng Bao lão tam hay cãi chày cãi cối này thì có vô lý không?”

Tống, Trần, Ngô ngơ ngác nhìn nhau, không ngờ gã này chẻ một chữ làm tư, chỉ có “ta” hay “bọn ta” mà cho ra cả một bài đại luận.

Bao Bất Đồng lại nói: “Bản văn này là do Dịch Đại Bưu trao vào tay Công Dã nhị ca. Ta nói cho các ngươi biết chuyện này, là do Mộ Dung Phục công tử quyết định chủ ý. Bởi thế phải nói là “giao cho bọn ta” mới đúng, nếu nói là “giao cho ta” thì dĩ nhiên sai bét. Các ngươi phải hiểu rằng ta không biết chữ Tây Hạ thì giữ tấm bản văn đó làm gì, vứt đi lại càng nhẹ. Ở ngoài thành Vô Tích, ta thảm bại dưới tay quí bang mà không tìm đến báo thù đã là tốt, còn báo tin làm gì? Nhưng chuyện báo tin về bảng văn Tây Hạ lại là việc của cả bọn ta chứ không phải là việc của cá nhân Bao Bất Đồng. Gã nói xong, quay lại bảo Công Dã Càn: “Nhị ca! Bọn họ thua rồi cất bản văn đi thôi.”

Trần trưởng lão nghĩ bụng: “Thằng cha này nói lòng vòng, té ra chỉ vì chưa quên cái nhục thảm bại năm nào ở ngoại thành Vô Tích.” Lão bèn chắp tay nói: “Ngày đó Bao huynh tay không mà tỉ đấu với cây trượng nặng sáu mươi cân của Hề trưởng lão, vẫn chiếm được thượng phong. Rồi tệ bang thấy không địch nổi, phải lập Đả… Đả cái gì… trận mà vẫn không làm gì được Bao huynh, về sau Bang chủ tệ bang khi đó là Kiều Phong phải xuất toàn lực chiến đấu với Bao huynh hồi lâu mới miễn cưỡng thắng được nửa chiêu. Khi đó Bao huynh mới cất tiếng hát vang mà bỏ đi, bản lĩnh đã cao cường, phong độ lại ung dung. Tệ bang từ trên xuống dưới, mỗi khi nhắc lại chuyện này đều lấy làm thú vị, ai cũng bội phục Bao huynh vô cùng! Thế mà Bao huynh lại tự khiêm nói là thảm bại về tay tệ bang, nhất quyết là không phải. Hơn nữa Kiều Phong cùng tệ bang đã có xích mích, có thể nói y là kẻ thù chung của chúng ta.”

Lão không biết rằng Bao Bất Đồng nói đông nói tây, không phải vì cái nhục thua trận ở rừng Hạnh ngoài thành Vô Tích ngày nào, càng không phải vì mấy chữ “có lời thì nói ra, có rắm thì đừng phóng”. Bao Bất Đồng chỉ đợi câu cuối cùng của lão, bèn chớp cơ hội nói ngay: “Thế thì tuyệt diệu. Trưởng lão hãy thống lĩnh huynh đệ quí bang hợp sức cùng bọn tại hạ đi bắt kẻ thù chung là Kiều Phong. Khi đó tại hạ sẽ nghĩ tình bằng hữu mà hai tay dâng bản văn lên. Nếu trưởng lão không biết văn tự ngoằn ngoèo trong bản văn thì Công Dã nhị ca xin đem bản văn ra giải thích rõ ràng từ đầu đến cuối không sót một chữ. Trưởng lão nghĩ sao?”

Trần trưởng lão hết nhìn Tống trưởng lão lại nhìn Ngô trưởng lão, không biết quyết định thế nào. Bỗng có tiếng người nói: “Như thế là phải rồi, còn ngần ngại gì nữa?” Mọi người nhìn xem ai nói câu đó, thì ra chính là Thập phương tú tài Toàn Quan Thanh. Hắn lại nói tiếp: “Nước Liêu là đại thù của nhà Tống. Cha Kiều Phong là Tiêu Viễn Sơn lại chính miệng nói ra là đã ẩn núp ba mươi năm trời trong chùa Thiếu Lâm, xem hết võ kinh bí lục của phái này. Hôm nay nếu bọn ta không đồng tâm hiệp lực trừ khử hắn đi, nếu hắn yên lành trở về Liêu quốc, truyền thụ võ công Trung Nguyên cho bọn võ sĩ Khất Đan thì chẳng khác gì chắp thêm cánh cho hổ. Sau này chúng kéo đến tấn công Đại Tống thì bọn con cháu Viêm Hoàng chúng ta đều biến thành nô lệ vong quốc.”

Quần hùng nghe Toàn Quan Thanh nói đều thấy rất có lý, nhưng Huyền Từ viên tịch, Trang Tụ Hiền gãy chân, thành ra Thiếu Lâm cùng Cái Bang vốn là cột trụ võ lâm Trung Nguyên lại biến thành hai đàn rắn không đầu, không có người đứng ra chủ trương đại cuộc.

Toàn Quan Thanh lại nói: “Xin mời ba vị cao tăng hàng chữ Huyền của phái Thiếu Lâm và ba vị trưởng lão Tống, Trần, Ngô của Cái Bang hợp nhau để ban hiệu lệnh, thì hết thảy chúng ta đều phải vâng lời. Trước hết là giết cha con Tiêu Viễn Sơn, Tiêu Phong để trừ mối lo tâm phúc cho nhà Đại Tống, còn những việc khác sẽ bàn sau cũng không muộn.” Hắn thấy Du Thản Chi đã thân bại danh liệt, bản thân mình trong bang không còn chỗ dựa dẫm có thế lực nữa, mà việc giết Dịch Đại Bưu cũng đã bại lộ rồi, trong lòng hắn rất lo lắng, liền muốn bày ra chuyện khác để tạm thời thoát tội. Tuy hắn cũng là một trong bốn trưởng lão của Cái Bang, nhưng lúc này không dám tự liệt ngang hàng với ba vị Tống, Trần, Ngô nữa.

Quần hùng hoan hô rầm rộ: “Thế là phải lắm! Xin ba vị cao tăng cùng ba vị trưởng lão ra lệnh!”  “Việc này quan hệ đến an nguy của quốc gia, xin sáu vị tiền bối đừng từ chối!”  “Chúng tôi đồng lòng tuân lệnh, đi giết hai tên Liêu cẩu trước.” Hàng trăm hằng ngàn người cùng rút binh khí nghe xoang xoảng, lại có người định xông tới giết mười tám tên võ sĩ Khất Đan.

Dư bà bà la lên: “Các huynh đệ Khất Đan, hãy sang đây nói chuyện.”

Mười tám võ sĩ Khất Đan không biết mụ có dụng ý gì, cứ đứng cầm đao yên lặng thủ thế. Họ biết rằng số ít không địch nổi nhiều, nhưng cũng quyết một trận tử chiến. Dư bà bà lại la lên: “Tám bộ cung Linh Thứu chúng ta phải bảo vệ cho mười tám vị bằng hữu.” Quần nữ trong tám bộ liền chạy sang đứng phía trước mười tám võ sĩ Khất Đan, còn các Động chúa, Đảo chúa chia ra đứng hai bên. Bọn môn đồ phái Tinh Tú muốn lập công trước mặt chủ mới, cũng phất cờ reo hò, thanh thế rất là cương mãnh.

Dư bà bà khom lưng trước Hư Trúc nói: “Chủ nhân! Mười tám võ sĩ này là thuộc hạ của nghĩa huynh chủ nhân, nếu để họ bị người ta loạn đao giết chết trước mặt chủ nhân thì còn gì là oai phong của cung Linh Thứu nữa? Bọn thuộc hạ xin tạm thời bảo vệ cho họ, để chờ chủ nhân phát lạc.”

Hư Trúc vẫn đang đau xót vị song thân tuyệt mạng, không suy nghĩ được gì, chỉ gật gật đầu rồi nói: “Cung Linh Thứu chúng ta cùng phái Thiếu Lâm là bạn chứ không phải thù. Chúng ta nhất định không được đánh giết càn bậy, làm tổn thương hòa khí.”

Huyền Tịch thấy thanh thế cung Linh Thứu lớn quá, biết là gặp phải cường địch nguy hiểm. Lão nghe Hư Trúc nói vậy bèn lên tiếng: “Mười tám tên võ sĩ Khất Đan kia có giết hay không thì cũng chẳng quan hệ gì đến đại cục. Chúng ta hãy nể mặt Hư Trúc tiên sinh mà gác việc đó lại sau. Hư Trúc tiên sinh! Bây giờ chúng ta đi bắt giết Tiêu Phong, thì tiên sinh tương trợ bên nào?”

Hư Trúc ngần ngừ đáp: “Phái Thiếu Lâm là nơi vãn bối xuất thân, còn Tiêu Phong lại là nghĩa huynh. Một bên là ân sâu, một bên lại là nghĩa nặng, vãn bối… không thể giúp bên nào được. Bất quá… bất quá… Sư thúc tổ! Vãn bối cầu xin sư thúc tổ tha cho Tiêu đại ca! Vãn bối sẽ khuyên y không qua đánh Đại Tống là xong.”

Huyền Tịch nghĩ bụng: “Võ công mi cao cường thật là uổng, đã làm chủ nhân một phái mà còn nói chuyện như con nít.” Lão bèn nói: “Từ đây Hư Trúc tiên sinh đừng nói tới ba chữ sư thúc tổ nữa.” Hư Trúc nói: “Dạ dạ! Vãn bối quên mất.”

Huyền Tịch lại nói: “Cung Linh Thứu không giúp bên nào, thế thì phái Thiếu Lâm cùng quí cung vẫn là bằng hữu, không nên làm tổn thương hòa khí.” Rồi lão quay lại nói với ba vị trưởng lão Cái Bang: “Ba vị trưởng lão! Chúng ta hãy lên chùa xem động tĩnh ra sao trước đã.” Ba lão Tống, Trần, Ngô đồng thanh nói: “Phải lắm! Phải lắm! Các huynh đệ Cái Bang, chúng ta cùng lên chùa Thiếu Lâm!” Quần tăng chùa Thiếu Lâm đi trước dẫn đường, Cái Bang cùng quần hùng Trung Nguyên cùng reo hò xông lên núi.

Đặng Bách Xuyên cả mừng nói: “Tam đệ! Ngươi có công lớn, chỉ diễn thuyết một phen mà đã lôi kéo được khá nhiều tay đắc lực để viện trợ cho chúa công cùng công tử.” Bao Bất Đồng nói: “Sai bét, sai bét! Tiểu đệ nói chuyện lâu quá, không biết chúa công cùng công tử đã thắng bại thế nào, làm sao gọi là công lớn?”

Vương Ngữ Yên vội giục: “Đi mau lên! Đừng sai hét, sai bét nữa!” Nàng vừa nói vừa cất bước chạy theo quần hùng lên núi, bỗng thấy Đoàn Dự đi theo bên cạnh liền hỏi: “Đoàn công tử! Công tử lại đi giúp nghĩa huynh để đối phó với biểu ca ta chăng?” Giọng nàng nói đầy vẻ bất mãn. Vừa rồi Mộ Dung Phục vung kiếm tự tử là do y bại dưới tay Đoàn Dự cùng Tiêu Phong, nên y vừa thẹn vừa giận, không muốn sống nữa. Vương Ngữ Yên nhớ tới việc này, đâm ra tức giận Đoàn Dự.

Đoàn Dự ngẩn ra, dừng bước. Từ khi chàng gặp Vương Ngữ Yên đến nay, lúc nào cũng chiều ý nàng, lắm phen liều mạng để cứu nàng thoát hiểm, chưa bao giờ thấy nàng nhìn mình hằn học như lúc này. Chàng không biết tính sao, ruột rối như tơ vò, lát lâu mới ngập ngừng đáp: “Tại hạ… tại hạ không muốn đối phó với Mộ Dung công tử.” Nhưng khi chàng ngẩng đầu nhìn lên, chỉ thấy quần hùng đang tới tấp chạy qua mặt mình, còn Vương Ngữ Yên và bọn Đặng Bách Xuyên đã mất hút rồi, không thấy đâu nữa.

Chàng lại ngẩn ra, nghĩ bụng: “Vương cô nương đã đem lòng ngờ vực, thì mình còn lên chùa làm gì nữa?” Nhưng rồi chàng lại nghĩ: “Tiêu đại ca bị hàng trăm hàng ngàn người xông lên như ong vỡ tổ vây đánh, thật nguy hiểm vô cùng. Hư Trúc nhị ca đã nói rõ là không giúp bên nào, nếu mình cũng khoanh tay đứng nhìn thì còn chi là tình nghĩa kim lan? Dù Vương cô nương có oán trách ta thì cũng đành chịu thôi.” Thế là chàng bèn chạy theo quần hùng lên núi.

Lúc này Đoàn Chính Thuần thấy mục quang của Đoàn Diên Khánh đang lạnh lùng chiếu vào mình, lập tức nắm lấy chuôi kiếm, vận khí chuẩn bị chống trả. Quần hào Đại Lý cũng hết sức cảnh giới đề phòng, nên Đoàn Dự vội vàng bỏ đi mà cũng không ai chú ý.

***

Chỉ chốc lát Đoàn Dự đã lên đến cổng chùa Thiếu Lâm, rồi chạy thẳng vào sơn môn. Chu vi chùa Thiếu Lâm rất rộng, nhà trước viện sau có đến mấy nghìn gian. Quần tăng cùng quần hùng Trung Nguyên quát tháo om sòm, lùng sục khắp các tòa viện trong chùa để tìm cha con Tiêu Viễn Sơn cùng cha con Mộ Dung Bác. Nhiều người nhảy lên cả nóc nhà để quan sát bốn mặt, chỗ nào cũng nhốn nháo cả lên mà vẫn chưa tìm ra bọn họ ở chỗ nào. Tiếng mở đóng cửa phòng, tiếng chân chạy rầm rập xen lẫn tiếng người hỏi nhau ơi ới: “Họ ở đâu? Đã thấy chưa?” Chùa Thiếu Lâm vốn trang nghiêm cổ kính, lúc này giống như một cái chợ huyên náo om sòm.

Đoàn Dự cũng chạy loạn lên một lúc, rồi đột nhiên thấy hai tăng nhân người Hồ ở cửa bên bước ra. Chàng nghĩ: “Hai tên Phiên tăng này không phải là hòa thượng Thiếu Lâm, không hiểu chúng lén lút làm trò ma quỉ gì ở đây?” Chàng liền thi triển Lăng Ba Vi Bộ đi theo, tuyệt không phát ra tiếng động. Hai tên Hồ tăng chạy thẳng vào khu rừng cạnh chùa, theo một con đường nhỏ trong rừng đi thẳng về hướng tây bắc. Quanh qua quẹo lại mấy chỗ ngoằn ngoèo, đột nhiên trước mặt có ánh sáng lóa lên, và có tiếng nước suối chảy róc rách. Bên kia suối là một tòa lầu, treo biển đề ba chữ Tàng Kinh Các. Đoàn Dự lẩm bẩm: “Tàng Kinh Các chùa Thiếu Lâm nổi danh thiên hạ, té ra là chỗ này đây. Phải rồi! Tàng Kinh Các dựng trên bờ suối, xa những phòng ốc khác là để đề phòng hỏa hoạn có thể tiêu hủy những kinh điển quí giá vô kể.”

Hai tên Hồ tăng khom mình, lẻn đến Tàng Kinh Các, Đoàn Dự cũng lần theo. Bỗng có hai nhà sư đứng tuổi bước ra, đằng hắng rồi hỏi: “Hai vị đến đây làm chi?” Một tên Hồ tăng đáp: “Sư huynh của ta đã ngưỡng mộ Tàng Kinh Các của chùa Thiếu Lâm từ lâu, muốn đến tham quan.” Người nói câu đó chính là Ba La Tinh. Y cùng với sư huynh Triết La Tinh thấy trong chùa đang đại loạn, muốn thừa cơ cháy nhà mà hôi của, toan đến Tàng Kinh Các để ăn cắp bí kíp võ công.

Một nhà sư Thiếu Lâm nói: “Đại sư hãy dừng bước. Tàng Kinh Các là trọng địa của bản tự, người ngoài không được vào.” Lúc đó lại thêm bốn nhà sư nữa xách thiền trượng bước ra ngăn trước cửa. Triết La Tinh và Ba La Tinh đưa mắt nhìn nhau, biết âm mưu khó mà thành được, bèn rút lui.

Đoàn Dự cũng quay mình lại, toan đi tìm Tiêu Phong thì bỗng nghe trong các có thanh âm khàn khàn nói vọng ra: “Ngươi có thấy bọn họ đi về hướng nào không?” Đây chính là thanh âm của Huyền Tịch. Một giọng khác đáp: “Bọn đệ tử bốn người giữ ở đây, chỉ thấy một nhà sư áo xám chạy vào rồi bị lão điểm huyệt mê đi, lúc được sư bá cứu tỉnh lại thì không biết nhà sư áo xám đã đi đâu rồi.” Lại nghe một giọng khàn khàn nói: “Cửa sổ chỗ này bị phá, chắc họ ra phía sau núi.” Huyền Tịch nói: “Đúng thế!” Vị lão tăng kia lại hỏi: “Không hiểu bọn họ có ăn cắp kinh sách gì không?” Huyền Tịch đáp: “Hai người này ẩn cư trong bản tự đã mấy chục năm mà chúng ta từ trên xuống dưới đều không hay biết, thật là xấu hổ. Nếu bọn họ định lấy kinh sách thì đã lấy mấy chục năm nay rồi, hà tất phải đợi đến ngày nay.” Vị lão tăng kia nói: “Sư huynh nói đúng lắm.” Rồi hai nhà sư cùng thở dài buồn bã.

Đoàn Dự nghĩ rằng mấy vị này đang nói chuyện chùa Thiếu Lâm bị mất thể diện, mình chẳng nên nghe trộm làm gì. Thực ra, bọn Huyền Tịch nói rất khẽ, chỉ vì nội lực chàng thâm hậu nên mới nghe rõ. Đoàn Dự từ từ bước đi, nghĩ bụng: “Họ bảo Tiêu đại ca ra phía sau núi, vậy mình cũng nên ra đó.”

Phía sau núi Thiếu Thất, địa thế hiểm trở, rừng rậm âm u. Đoàn Dự đi được vài dặm, không còn nghe thấy tiếng huyên náo bên ngoài chùa nữa. Trong rừng cây, chim chóc gọi nhau tíu tít. Dù đang mùa nóng bức nhưng ánh dương quang không lọt vào được, nên trong khu rừng này vẫn tối tăm lạnh lẽo. Đoàn Dự thấy vậy nghĩ thầm: “Nếu cha con Tiêu đại ca đến đây rồi thoát thân thì rất dễ, quần hùng khó mà bủa vây được.” Chàng chợt nhớ tới Vương Ngữ Yên vừa oán giận thì lại nghĩ: “Nếu đại ca ta lỡ đánh chết Mộ Dung công tử rồi thì… thì biết làm thế nào?” Mồ hôi bất giác toát ra lạnh ngắt, chàng nghĩ: “Mộ Dung công tử mà mất mạng thì e rằng Vương cô nương đau khổ vô hạn, không chừng suốt đời vẻ mặt nàng cứ buồn rười rượi.”

Chàng bâng khuâng thả bước vào rừng, lúc thì nghĩ đến Mộ Dung Phục, lúc nghĩ đến Tiêu đại ca, rồi lại nghĩ đến phụ thân, mẫu thân và bá phụ. Cuối cùng người mà chàng nghĩ đến nhiều nhất vẫn là Vương Ngữ Yên, với thần sắc đầy vẻ oán trách hờn giận vừa rồi.

Không biết chàng đã nghĩ ngợi lung tung bao lâu, bỗng nghe bên trái có tiếng niệm Phật theo chiều gió đưa lại: “Phật tức thị tâm; Tâm tức thị Phật; Tâm minh mới thấy Phật, Thấy Phật mới minh tâm.” Thanh âm này vừa hiền hòa vừa hùng hậu, chàng chưa từng nghe thấy bao giờ. Đoàn Dự lẩm bẩm: “Té ra bên đó có người. Ta thử tới đó hỏi xem họ có thấy Tiêu đại ca cùng bọn người kia không.” Chàng hướng phía có thanh âm mà đi tới.

Chàng đi qua một khu rừng trúc thì thấy có không ít người đang tụ họp trên một khoảnh đất bằng, cỏ mọc xanh um. Một nhà sư mặc áo xám tựa lưng vào một phiến đá. Những tiếng niệm kinh vừa rồi là do miệng nhà sư này thốt ra. Trước mặt nhà sư có rất nhiều người đang quì, trong số đó có cha con Tiêu Viễn Sơn và Tiêu Phong, cha con Mộ Dung Bác và Mộ Dung Phục, hai vị Hồ tăng Triết La Tinh và Ba La Tinh, mấy vị cao tăng các chùa khách, và các vị hòa thượng hàng chữ Huyền chùa Thiếu Lâm. Những người này đều cúi đầu, chắp tay, lông mày rủ thấp yên lặng nghe nhà sư áo xám thuyết pháp. Cách đó chừng bốn năm trượng có một người đứng, chính là Cưu Ma Trí, quốc sư nước Thổ Phồn. Sắc mặt lão ra chiều nhạo báng, hiển nhiên trong lòng không phục nhà sư áo xám.

Đại Lý vốn là một Phật quốc, Đoàn Dự đã theo những vị cao tăng, nghiên cứu Phật pháp từ thuở nhỏ. Chàng am hiểu rất nhiều kinh điển, nhưng đó là Phật học tại nước Đại Lý chứ không phải là Thiền tông chùa Thiếu Lâm, hai nơi này có nhiều điểm không đồng nhất. Chàng nghe vị lão tăng đọc mấy câu kệ, tuy không sâu xa gì nhưng rất hợp lý, thì nghĩ thầm: “Theo y phục mà nhìn thì vị tăng này là một nhà sư Thiếu Lâm chức phận thấp kém, làm việc tạp dịch pha nước, quét chùa. Không hiểu sao những vị cao tăng chùa Thiếu Lâm cùng Tiêu đại ca và bao nhiêu người nữa đều quì mọp nghe thuyết pháp?”

Đoàn Dự muốn nhìn dung mạo vị lão tăng kia xem là nhân vật thế nào, nhưng muốn nhìn trước mặt lão thì phải ra phía sau bọn Tiêu Phong. Chàng sợ kinh động mọi người nên nhẹ nhàng đi vòng phía sau, lúc rón rén đến gần Cưu Ma Trí thì đột nhiên lão quay đầu lại nhìn chàng, miệng mỉm cười. Đoàn Dự cũng mỉm cười đáp lễ.

Ngay lúc ấy, Đoàn Dự chợt thấy một luồng kình phong mãnh liệt xô vào trước ngực, biết ngay là nguy, bèn la lên một tiếng: “Chao ôi!”, toan phóng Lục Mạch Thần Kiếm ra chống đỡ thì đã không kịp nữa. Chàng cảm thấy trước ngực đau nhói lên rồi mê man bất tỉnh, bèn tai còn văng vẳng có tiếng niệm kinh: “A di đà Phật! A di đà Phật!” Sau đó chàng không biết gì nữa.

***

Mộ Dung Bác đã bị Huyền Từ gọi ra chân tướng, lại tố cáo lão đã phao tin để gây nên cuộc thảm sát ngoài Nhạn Môn Quan. Lão biết rằng chẳng những cha con họ Tiêu phải hạ sát mình mới cam tâm, mà quần hào Trung Nguyên cũng chẳng chịu dung tha mình, liền phi thân chạy vào chùa Thiếu Lâm. Trong chùa Thiếu Lâm phòng viện rất nhiều, nhưng lão đã thuộc hết địa hình, hy vọng có thể trốn tránh được. Không ngờ cha con Tiêu Viễn Sơn hận y thấu xương, đuổi sát như bóng theo hình. Tiêu Viễn Sơn cũng trạc tuổi lão, công lực cũng tương đương, khó lòng đuổi kịp vì Mộ Dung Bác đã chạy trước một lát. Nhưng Tiêu Phong đang tuổi tráng niên, nội lực dồi dào, hết sức đuổi thật mau. Lúc Mộ Dung Bác chạy đến trước cửa chùa Thiếu Lâm, Tiêu Phong còn cách xa hơn mười trượng đã phóng chưởng ra, chưởng lực xô tới sau lưng hắn.

Mộ Dung Bác phải xoay chưởng đánh lại để chống đỡ. Toàn thân lão bị rung động, cánh tay ngâm ngẩm dau, không khỏi kinh hãi nghĩ thầm: “Thằng chó con Khất Đan này công lực ghê quá!” Lão bèn lạng người một cái, chuồn vào trong cổng.

Tiêu Phong đời nào để lão chạy thoát? Chàng nhảy xổ tới nơi thì Mộ Dung Bác đã chạy vào trong chùa rồi. Trong chùa Thiếu Lâm hành lang vòng vèo, phòng viện chi chít, chưởng lực của Tiêu Phong tuy mãnh liệt nhưng cũng không thể phóng tới lão được. Ba người một trước hai sau, chỉ trong khoảnh khắc đã chạy đến Tàng Kinh Các.

Mộ Dung Bác phá cửa sổ chui vào, đồng thời xoay tay điểm huyệt bốn nhà sư gác cửa cho mê đi. Lão quay lại, cười nhạt nói: “Tiêu Viễn Sơn! Cha con ngươi cùng xông vào, hay là hai lão già chúng ta lấy một chọi một liều mạng với nhau?” Tiêu Viễn Sơn không đáp, đứng chắn ngoài cửa Tàng Kinh Các, bảo Tiêu Phong: “Hài nhi! Ngươi chặn cửa sổ, đừng để hắn chạy thoát.” Tiêu Phong “Vâng” một tiếng, lạng mình đến bên cửa sổ, cử chưởng lên thủ thế. Cha con họ Tiêu hợp lực bao vây, xem chừng Mộ Dung Bác không còn đường thoát. Tiêu Viễn Sơn nói: “Ta với ngươi đã có mối thù chẳng đội trời chung, không giết ngươi thì không rửa được cừu hận. Đây không phải là cuộc tỉ võ để phân cao thấp, dĩ nhiên cha con ta sẽ hợp lực để hạ sát ngươi.”

Mộ Dung Bác cười ha hả, toan trả lời, bỗng nghe dưới thang lầu có tiếng bước chân, rồi một người đi lên, chính là Cưu Ma Trí. Cưu Ma Trí nhìn Mộ Dung Bác, chắp tay thi lễ nói: “Mộ Dung tiên sinh! Ngày trước, hai ta từ biệt nhau ở Thiên Trúc, về sau tiểu tăng nghe tin tiên sinh quy tiên lòng rất đau buồn. Té ra tiên sinh ẩn cư không xuất hiện để giải quyết việc riêng. Hôm nay lại được trùng phùng, tiểu tăng vui mừng khôn xiết.” Mộ Dung Bác chắp tay đáp lễ, cười nói: “Tại hạ vì quốc gia đại sự mà phải lánh mình trá tử, khiến đại sư tưởng nhớ, thật lấy làm hổ thẹn.” Cưu Ma Trí nói: “Không dám! Ngày trước tiểu tăng cùng tiên sinh gặp nhau ở Thiên Trúc đàm luận võ công mấy ngày, nhờ tiên sinh chỉ điểm cho bao nhiêu chỗ nghi ngờ, lại được tiên sinh tặng cho cuốn Thất Thập Nhị Tuyệt Kỹ Yếu Chỉ. Đại ân ấy tiểu tăng ghi mãi vào tâm khảm.”

Mộ Dung Bác cười đáp: “Cái việc nhỏ mọn đó, đại sư nhắc đến làm gì?” Rồi lão quay lại cha con họ Tiêu, nói: “Tiêu lão hiệp cùng Tiêu thiếu hiệp! Thần tăng Cưu Ma Trí đây là Đại Luân Minh Vương của nước Thổ Phồn, Phật pháp đã uyên thâm mà võ công cũng cao cường hơn tại hạ nhiều, có thể nói là thế gian hiếm có.”

Tiêu Viễn Sơn cùng Tiêu Phong đưa mắt nhìn nhau, bụng bảo dạ: “Lão Cưu Ma Trí này bản lĩnh ghê gớm, lại giao tình cùng Mộ Dung Bác sâu xa như vậy, chắc sẽ ra tay giúp lão. Cuộc chiến này thắng bại khó lòng biết trước được.”

Cưu Ma Trí lên tiếng: “Năm xưa tiểu tăng được nghe tiên sinh giảng giải rằng môn Lục Mạch Thần Kiếm của chùa Thiên Long nước Đại Lý là kiếm pháp đệ nhất trong thiên hạ, tiên sinh chỉ tiếc là chưa được thấy qua cho thỏa chí bình sinh. Tiểu tăng được tin tiên sinh quy tiên, liền đến chùa Thiên Long nước Đại Lý, định lấy Lục Mạch Thần Kiếm Phổ thiêu hóa trước mộ tiên sinh để đáp tình tri kỷ. Không ngờ, Khô Vinh lão tăng chùa Thiên Long giảo quyệt đa mưu, gặp lúc khẩn cấp, lão dùng nội lực tiêu hủy mất kiếm phổ. Tiểu tăng không hoàn thành được ý nguyện Quí Trát treo gươm trước mộ, thật xấu hổ vô cùng!”

Mộ Dung Bác nói: “Đại sư chí tình như thế, tại hạ rất cảm kích. Nhưng Lục Mạch Thần Kiếm hãy còn ở nhân gian, vừa rồi Đoàn công tử nước Đại Lý tỉ đấu cùng khuyển tử đã phóng kiếm khí tung hoành. Lục Mạch Thần Kiếm quả là kiếm pháp đệ nhất trong thiên hạ, danh bất hư truyền.”

Đột nhiên bóng người thấp thoáng, trong Tàng Kinh Các lại có thêm một người nữa, chính là Mộ Dung Phục. Gã chạy sau mấy bước, vào đến trong chùa thì đã mất hút cha con Tiêu Phong. Lúc này gã tìm đến Tàng Kinh Các, nghe thấy phụ thân đang đề cập đến chuyện Đoàn Dự dùng Lục Mạch Thần Kiếm đánh bại mình thì lấy làm nhục nhã vô cùng.

Mộ Dung Bác lại hỏi: “Cha con họ Tiêu muốn giết cho bằng được tại hạ ở đây mới cam lòng. Đại sư nghĩ sao?” Cưu Ma Trí đáp: “Đã là tri kỷ, có lẽ đâu tụ thủ bàng quan?”

Tiêu Phong thấy Mộ Dung Phục đã đến nơi, đối phương ba người mà mình chỉ có hai. Mộ Dung Phục tuy kém hơn một chút, nhưng cũng không thể coi thường được. Chàng lo rằng chẳng những cha con mình khó lòng giết được Mộ Dung Bác mà e phải bỏ mạng trong Tàng Kinh Các này cũng không chừng. Tuy nghĩ vậy, nhưng chàng vốn đầy lòng dũng cảm, tình cảnh càng khó khăn, thần oai lại càng lẫm liệt. Tiêu Phong lớn tiếng quát: “Hôm nay nếu không kẻ sống người chết quyết chẳng chịu thôi. Tiếp chiêu!” Dứt lời, Tiêu Phong vung chưởng nhằm đánh vào Mộ Dung Bác. Lão bèn vung tay lên ngưng tụ công lực để hóa giải. Bỗng nghe những tiếng rắc rắc, giá sách bên tay trái bị gãy, gỗ vụn văng ra tứ phía, kinh sách trên giá rớt xuống lả tả. Thì ra chưởng lực của Tiêu Phong hùng hậu vô cùng, Mộ Dung Bác không giải khai được hoàn toàn mà chỉ đẩy trệch đi, trúng vào giá sách.

Mộ Dung Bác tủm tỉm cười nói: “Nam Mộ Dung Bắc Kiều Phong, quả nhiên danh bất hư truyền. Tiêu huynh! Ta có lời muốn nói, Tiêu huynh có chịu nghe không?” Tiêu Viễn Sơn đáp: “Dù ngươi có hoa ngôn xảo ngữ đến đâu cũng đừng hòng ta bỏ qua mối thù giết vợ.” Mộ Dung Bác nói: “Ngươi muốn giết ta để báo thù, nhưng hôm nay e rằng ngươi không làm nổi. Bên ta ba người mà bên ngươi chỉ có hai, thử hỏi bên nào có ưu thế?” Tiêu Viễn Sơn nói: “Dĩ nhiên bên ngươi thắng thế. Nhưng bậc đại trượng phu lấy ít chọi nhiều, Tiêu mỗ phỏng có sợ gì?” Mộ Dụng Bác nói: “Cha con họ Tiêu anh hùng cái thế, bình sinh chẳng biết sợ ai. Nhưng dù không sợ, mà hôm nay muốn giết ta thì cũng khó lắm. Ta muốn cùng Tiêu huynh thương lượng. Tiêu huynh vẫn có thể báo thù cho thỏa nguyện, nhưng cha con Tiêu huynh phải ưng chịu một điều.” Tiêu Viễn Sơn và Tiêu Phong cùng tự hỏi: “Không hiểu lão tặc này có ngụy kế gì đây?”

Mộ Dung Bác lại tiếp: “Chỉ cần cha con Tiêu huynh ưng thuận điều này, rồi cứ đến giết tại hạ để báo thù. Tại hạ bó tay chịu chết, quyết không kháng cự. Cưu Ma huynh và Phục nhi không được ra tay cứu giúp.” Nghe lão nói vậy, cha con Tiêu Phong rất lấy làm kỳ, Cưu Ma Trí cùng Mộ Dung Phục cũng không khỏi kinh hãi, chẳng hiểu ra sao. Mộ Dung Phục la lên: “Gia gia! Họ ít mình nhiều…” Cưu Ma Trí cũng nói:”Sao Mộ Dung tiên sinh lại nói thế? Tiểu tăng còn một hơi thở, cũng quyết không để người khác đụng đến tiên sinh.” Mộ Dung Bác nói: ” Nghĩa khí của đại sư, tại hạ rất lấy làm cảm kích. Kết giao được một người bạn như thế thì chết cũng cam lòng. Tiêu huynh! Tại hạ muốn hỏi một câu. Năm trước tại hạ phao tin đồn, gây nên đại họa. Tiêu huynh có biết vì sao mà tại hạ làm cái việc thất đức đó chăng?”

Tiêu Viễn Sơn nộ khí bốc lên ngùn ngụt, trỏ tay vào mặt Mộ Dung Bác mắng: “Ngươi là kẻ hèn hạ tiểu nhân, làm điều càn rỡ, gieo tai rắc họa, ta còn hỏi đến dụng ý làm chi?” Dứt lời, lão tiến lên một bước phóng quyền đánh luôn.

Cưu Ma Trí lạng người tới, vung song chưởng lên ngăn cản. “Sầm” một tiếng lòng trời lở đất, quyền chưởng chạm nhau nảy lửa, kình lực làm rung động cả nóc nhà, cát bụi rớt xuống ầm ầm. Hai bên trao đổi chiêu này không phân cao thấp, cùng ngấm ngầm bội phục nhau.

Mộ Dung Bác nói: “Tiêu huynh khoan hãy giận, xin nghe tại hạ nói hết đã. Mộ Dung Bác này tuy bất lương, nhưng cũng có chút tiếng tăm trên chốn giang hồ, lại chưa được quen biết cùng Tiêu huynh thì dĩ nhiên là không thù oán. Tại hạ với Huyền Từ phương trượng chùa Thiếu Lâm lại là chỗ thâm giao. Thế mà tại hạ đã phí bao nhiêu tâm lực, gây ra xích mích giữa hai bên, để thanh danh mình tan nát. Dĩ nhiên bên trong phải có lý do trọng đại.”

Đôi mắt Tiêu Viễn Sơn như tóe lửa, quát hỏi: “Lý do gì trọng đại? Ngươi… ngươi nói đi!” Mộ Dung Bác nói: “Tiêu huynh! Tiêu huynh là người Khất Đan, Minh Vương Cưu Ma Trí là người nước Thổ Phồn. Bọn võ lâm Trung Nguyên đều coi các vị là phiên bang di địch, không phải là hàng thượng quốc. Lệnh lang vốn là Bang chủ Cái Bang, võ công cao tuyệt, hùng tài đại lược, lừng lẫy tiếng tăm, thật là một bậc anh hùng hào kiệt cổ kim hiếm có. Thế mà Cái Bang vừa biết lệnh lang là dòng dõi Khất Đan, liền trở mặt không cho làm Bang chủ nữa, lại còn muốn giết chết mới cam tâm. Tiêu huynh! Tiêu huynh thử nghĩ coi việc đó có hợp lý hay không?”

Tiêu Viễn Sơn nói: “Tống, Liêu đời đời thù oán, hai nước đã giao tranh hơn trăm năm nay. Ở chốn biên cương, người hai nước thấy nhau là giết, xưa nay vẫn thế. Bang chúng Cái Bang đã biết con ta là người nước Liêu, đời nào họ để kẻ thù làm thủ lĩnh? Đó là lẽ thường, chẳng có gì là hợp lý với không hợp lý.” Lão ngừng một lát, lại nói tiếp: “Bọn Huyền Từ, Uông Kiếm Thông đã giết thê tử cùng thuộc hạ của ta, đó là vô tình chứ không phải cố ý. Cho dù họ có cố ý thì cũng chỉ do mối tương tranh giữa hai nước Tống, Liêu, chẳng lấy chi làm lạ. Còn ngươi đã bày mưu kế thâm độc để hại người, nhất định không thể tha thứ được.”

Mộ Dung Bác nói: “Vậy theo ý Tiêu huynh, khi hai nước giao tranh thì chỉ cần thắng được là tốt, có thể bỏ qua nhân nghĩa đạo đức hay sao?” Tiêu Viễn Sơn đáp: “Binh bất yếm trá đã là qui luật, người đời sau nhắc đến lòng nhân của Tống Tương Công chỉ để chê cười. Ngươi hỏi những chuyện không liên can gì đến mình để làm chi?” Mộ Dung Bác mỉm cười, hỏi lại: “Tiêu huynh nghĩ Mộ Dung Bác này là người nước nào?”

Tiêu Viễn Sơn giật mình đáp: “Ngươi là họ Mộ Dung ở Cô Tô thì dĩ nhiên là người Hán thuộc Nam triều, không lẽ là người ngoại quốc nữa sao?” Lúc nãy Huyền Từ phương trượng nhờ có học vấn uyên thâm, lúc nghe Mộ Dung Bác can Mộ Dung Phục đừng tự tử, chỉ mấy câu đã hiểu ra thân thế cùng lai lịch của lão. Còn Tiêu Viễn Sơn là kẻ võ phu Khất Đan, không hiểu lịch sử mấy, dĩ nhiên không biết nội tình.

Mộ Dung Bác lắc đầu đáp: “Tiêu huynh nói thế là sai.” Rồi hắn quay lại nhìn Mộ Dung Phục nói: “Hài nhi! Chúng ta là người nước nào?” Mộ Dung Phục đáp: “Họ Mộ Dung vốn là người Tiên Ty. Trước kia nước Đại Yên chúng ta dựng nên cơ nghiệp ở miền Hà Sóc, nhưng về sau bị địch nhân nham hiểm tàn độc lấy mất giang sơn.” Mộ Dung Bác lại hỏi: “Hài nhi có biết tại sao ta đặt tên cho ngươi là Phục không?” Mộ Dung Phục đáp: ” Gia gia muốn hài nhi không được quên lời di huấn của tổ tiên, phải phục hưng nước Đại Yên, đoạt lại giang sơn.” Mộ Dung Bác nói: “Ngươi lấy ngọc tỉ truyền quốc của Đại Yên cho Tiêu tiên sinh coi.”

Mộ Dung Phục “Vâng” một tiếng, thò tay vào bọc lấy ra một cái ấn vuông bằng ngọc đen, khắc hình đầu báo rất linh động, rồi xoay ngửa lại để lộ hàng chữ bên dưới. Tiêu Viễn Sơn, Tiêu Phong, Cưu Ma Trí ba người đều tinh mắt phi thường, nhìn rõ ấn khắc sáu chữ “Đại Yên Hoàng Đế Chi Bảo”. Ngọc tỉ này điêu khắc rất tinh vi, góc trên bị sứt một chút, chắc là mấy trăm năm nay đã trải qua nhiều bước gian lao. Tuy không phân biệt được chân hay giả, nhưng nhất định đây là một cổ vật rất giá trị.

Mộ Dung Bác lại nói: “Ngươi lấy phả hệ của hoàng tộc Đại Yên ra cho Tiêu tiên sinh coi.” Mộ Dung Phục vâng lời, cất ngọc tỉ vào bọc rồi lấy ra một gói vải dầu. Trong gói này có một bức lụa vàng viết chữ đỏ bằng hai thứ văn tự, bên phải là thứ chữ ngoằn ngoèo không ai biết, chắc đó là văn tự Tiên Ty, còn bên trái là chữ Hán. Trên cùng là Thái Tổ Văn Minh đế húy Hoảng, rồi đến. “Liệt Tổ Cảnh Chiêu đế húy Tuấn”, “U đế húy Vi”, “Thế Tổ Thành Võ đế húy Thùy”, “Liệt Tôn Huệ Mẫu đế húy Bảo”, “Khai Phong Công húy Tường”, “Triệu Vương húy Lâu. Đoạn dưới viết: Trung Tôn Chiêu Võ húy Thịnh”. “Chiêu Văn đế húy Hy. Tên húy các vị hoàng đế đều viết thiếu nét cho khỏi phạm húy). Đến năm Thái Thượng thứ sáu về đời Mộ Dung Siêu, nhà Nam Yên mất nước. Các đời sau đều là thứ dân, không có ai làm đế vương công hầu nữa. Trải qua rất nhiều đời nhưng con cháu dòng họ Mộ Dung không được đông đúc. Lúc này Tiêu Viễn Sơn, Tiêu Phong, Cưu Ma Trí, ba người không để tâm xem kỹ nhưng cũng nhìn thấy dưới cùng phả hệ này là tên Mộ Dung Phục, phía trên Mộ Dung Phục là Mộ Dung Bác.

Cưu Ma Trí nói: “Té ra Mộ Dung tiên sinh là dòng dõi vương tôn của nước Đại Yên. Tại hạ thật là thất kính.”

Mộ Dung Bác thở dài nói: “Tại hạ chỉ là một tên dân vong quốc, còn giữ được cái đầu đã là may lắm rồi, chỉ vì có lời di huấn của liệt tổ, nên lúc nào cũng nghĩ đến công cuộc phục quốc. Mộ Dung Bác này bất tài, bôn tẩu giang hồ đã nửa đời người mà chẳng làm nên công cán gì. Họ Mộ Dung tại hạ thuộc dòng Tiên Ty, mưu đồ phục quốc thì Tiêu huynh thấy có nên chăng?”

Tiêu Viễn Sơn đáp: “Được làm vua thua làm giặc. Quần hùng đuổi hươu ở Trung Nguyên, chẳng có gì là nên với không nên.” Mộ Dung Bác nói: “Đúng thế! Suy nghĩ của Tiêu huynh rất hợp với tại hạ. Họ Mộ Dung muốn phục hưng nước Đại Yên, hễ gặp cơ hội là phải nắm ngay. Nhưng hiện nay, họ Mộ Dung ít người cô thế, phục hưng đất nước đâu phải chuyện dễ dàng? Tại hạ nghĩ rằng chỉ khi thiên hạ đại loạn, khắp chốn can qua, thì mình mới có cơ hội để hành động.”

Tiêu Viễn Sơn trầm giọng hỏi: “Thì ra ngươi phao tin thất thiệt để gây xích mích Tống, Liêu, là mong nổ ra đại chiến phải không?” Mộ Dung Bác đáp: “Chính thế. Nếu Tống, Liêu xảy cuộc chiến tranh thì Đại Yên mới thừa cơ đứng dậy được. Ngày trước, nhà Đông Tấn có loạn Bát Vương, họ Tư Mã tàn sát lẫn nhau, rợ Ngũ Hồ mới có thể chiếm lấy Trung Nguyên. Tình thế ngày nay cũng tương tự như vậy.” Cưu Ma Trí gật đầu nói: “Đúng lắm! Giả tỉ Tống triều ngoài có ngoại xâm, trong sinh nội biến, thì chẳng những Mộ Dung tiên sinh có hy vọng phục quốc mà nước Thổ Phồn của tại hạ cũng được chia sẻ chén canh.”

Tiêu Viễn Sơn hắng giọng, liếc mắt nhìn hai người. Mộ Dung Bác nói: “Lệnh lang ở nước Liêu làm đến Nam Viện Đại Vương, nắm giữ binh quyền trấn thủ Nam Kinh. Giả tỉ lệnh lang xua quân Nam tiến, lấy hết đất đai phía bắc Hoàng Hà, lập nên công nghiệp muôn đời, thì tiến ra có thể tự lập làm vua, lui về cũng được phú quí, có thể gom hết hào kiệt Trung Nguyên mà giết đi, dễ dàng như giẫm lên đàn kiến. Ngày trước lệnh lang bị Cái Bang xử bạc, có nên nhân dịp này mà trả oán không?”

Tiêu Viễn Sơn nói: “Ngươi muốn con ta ra sức, chỉ để ngươi đục nước béo cò mà thỏa mãn dã tâm khôi phục nước Yên phải không?”

Mộ Dung Bác nói: “Đúng thế! Nếu họ Mộ Dung dựng cờ khởi nghĩa ở Sơn Đông, được Đại Liêu hưởng ứng, đồng thời mấy nước Thổ Phồn, Đại Lý, Tây Hạ cũng tiến quân thì năm nước chúng ta chia xẻ giang sơn Đại Tống không phải là chuyện khó. Nước Yên của tại hạ không dám động chạm đến một tấc đất phần của Đại Liêu, nếu phục hưng thành tựu thì chỉ lấy đất Nam triều. Vụ này rất có lợi cho Đại Liêu, sao Tiêu huynh lại không đồng ý?” Lão nói đến đây, đột nhiên xoay tay một cái, trong tay đã nắm lưỡi trủy thủ sáng loáng. Lão vung tay lên đâm lưỡi trủy thủ vào cái ghế bên cạnh, dõng dạc nói: “Nếu Tiêu huynh nhận lời đề nghị này, thì có thể lập tức đâm chết tại hạ để báo thù cho phu nhân. Tại hạ quyết không kháng cự.” “Roạc” một tiếng, lão xé toạc vạt áo để hở ngực ra.

Chuyện này hoàn toàn ngoài dự liệu của cha con Tiêu Viễn Sơn, cả hai đều không ngờ đối phương đang có ưu thế mà lại bó tay chịu chết, nhất thời không biết làm sao cho phải.

Cưu Ma Trí nói: “Mộ Dung tiên sinh! Người ta thường nói, không ai học được chữ ngờ. Đối với chuyện quân quốc đại sự thì mưu cơ giả trá lại càng hết sửc bình thường. Giả tỉ Mộ Dung tiên sinh cam tâm chịu chết, nhưng sau đó cha con họ Tiêu phụ lời ước hẹn, thì cái chết của tiên sinh chẳng… chẳng phải uổng phí ư?”

Mộ Dung Bác đáp: “Tiêu lão hiệp đã ẩn cư mấy chục năm nay, ít khi xuất hiện ở nhân gian. Còn Tiêu đại hiệp nổi tiếng anh hùng, thiên hạ đều biết lời nói của ý nặng bằng chín đỉnh. Y chỉ vì một thiếu nữ không quen không biết, mạo hiểm đơn thương độc mã xông vào Tụ Hiền Trang để xin chữa bệnh cho người, sao lại có thể giết lão phu rồi nuốt lời được? Lão phu suy tính đã lâu, đây chính là cơ hội ngàn năm khó gặp. Ta đã già rồi, đem cái mạng héo hắt như đèn sắp hết dầu này mà đổi lấy cơ đồ vạn thế, cuộc trao đổi này sao lại không làm?” Mặt lão hiện nét cười, chăm chú nhìn Tiêu Viễn Sơn, rõ rằng chỉ mong đối phương mau mau hạ thủ.

Tiêu Viễn Sơn nói: “Hài nhi! Dường như lão này không nói dối. Ngươi nghĩ sao?” Tiêu Phong đáp: “Không được!” Đột nhiên chàng phóng chưởng đập cái ghế gỗ đánh chát một tiếng, cái ghế gãy làm mấy mảnh, lưỡi trủy thủ xuyên qua ván lầu rớt xuống tầng dưới Tàng Kinh Các. Tiêu Phong nghiêm giọng nói: “Mối đại thù giết mẹ đâu có thể đem ra mua bán? Báo được thì báo, không báo được thì cha con ta chịu chết nơi đây. Những chuyện tham lam hèn hạ, cha con họ Tiêu ta đâu có thể làm được?”

Mộ Dung Bác ngửa mặt lên trời cả cười rồi lớn tiếng nói: “Ta thường nghe nói Tiêu Phong đại hiệp là anh hùng quán thế, kiến thức phi thường, đến hôm nay mới thấy y là kẻ không hiểu đại nghĩa, chỉ sính cường theo cái dũng của kẻ thất phu. Ha ha! Thật là tức cười!”

Tiêu Phong biết lão nói khích, lạnh lùng đáp: “Tiêu mỗ là anh hùng hào kiệt cũng được, là phàm phu tục tử cũng được, nhưng không chịu để kẻ khác lợi dụng mình làm theo mưu kế của họ.”

Mộ Dung Bác nói: “Ăn lộc của vua phải biết trung với vua. Đại hiệp vì mối tư thù mà không hết lòng tận trung báo quốc, há chẳng bất nghĩa với Đại Liêu?” Tiêu Phong tiến lên một bước, hiên ngang nói: “Ngươi đã thấy thảm trạng ngoài biên cương, hai nước Tống, Liêu thù hận giết nhau chưa? Ngươi đã thấy cảnh nhân dân hai nước chia lìa vợ con, nhà tan người chết chưa? Hai nước Tống, Liêu đã bãi việc binh đao mấy chục năm trời, nếu lại xảy ra đại chiến, thiết kỵ Khất Đan vào xâm lấn Nam triều thì sẽ có bao nhiêu người Tống phải phơi thây, bao nhiêu người Liêu phải uổng mạng?”

Chàng nói tới đây, chợt nghĩ tới tình trạng ở ngoài Nhạn Môn Quan ngày nọ, quân Tống đi “thu hoạch” cực kỳ tàn khốc, càng cất cao giọng nói tiếp: “Trên thế gian này có ai đánh nhau mà nắm chắc phần thắng không? Đại Tống binh nhiều lương đủ, chỉ cần mấy viên đại tướng hết lòng chống cự thì Đại Liêu và Thổ Phồn có hợp lực chiến đấu may ra nếu thắng được cũng phải máu chảy thành sông, thây chất thành núi, để cho họ Mộ Dung nhà ngươi thừa cơ phục hưng Yên quốc. Việc kiến công lập nghiệp cần nhất là phải giữ đất yên dân, ngươi có biết không?”

Đột nhiên ngoài cửa sổ có thanh âm khàn khàn già nua cất lên: “Thiện tai, thiện tai! Tiêu cư sĩ nổi từ tâm, thương xót lê dân thiên hạ, đúng là lòng dạ Bồ Tát.”

Năm người đều giật mình kinh hãi, vì họ đều là cao thủ tuyệt đỉnh mà chẳng ai biết có người đứng ngoài cửa sổ, mà lại dường như đứng nghe chuyện đã lâu. Mộ Dung Phục quát hỏi: “Ai đó?”, rồi không đợi đối phương trả lời, y phóng chưởng đánh sầm một tiếng. Hai cánh cửa sổ bật tung, bay ra rớt xuống.

Chỉ thấy trên hành lang ngoài cửa sổ có một vị tăng nhân gầy khô như hạc, mình mặc áo xám, tay cầm chổi đang khom lưng quét tước. Nhà sư này tuổi đã cao, mấy sợi râu thưa thớt chùng xuống trước ngực đều đã bạc hết. Cử động của lão tăng rất chậm chạp, không có khí lực gì, tựa như người không biết võ công. Mộ Dung Phục lại hỏi: “Ngươi lén lút ở đây đã bao lâu rồi?” Lão tăng từ từ ngẩng đầu lên, hỏi lại: “Thí chủ hỏi lão lén lút ở… ở đây đã bao lâu ư?” Cả năm người chăm chú nhìn lão thì thấy đôi mắt đã mờ đục không chút thần quang, nhưng giọng nói thì đúng là thanh âm vừa khen ngợi Tiêu Phong.

Mộ Dung Phục nói: “Đúng thế! Ta hỏi ngươi lén lút ở đây đã bao lâu?” Lão tăng đưa bàn tay ra tính toán hồi lâu rồi lắc đầu, vẻ mặt ra chiều ảm đạm nói: “Lão không nhớ rõ, chẳng hiểu là bốn mươi hai hay bốn mươi ba năm rồi. Lão chỉ nhớ, đêm đầu tiên Tiêu lão cư sĩ đến xem kinh thì ta đã ở đây mười mấy năm. Về sau Mộ Dung lão cư sĩ lại đến, rồi cách đây mấy năm, vị phiên tăng Thiên Trúc là Ba La Tinh cũng đến lấy trộm kinh. Hỡi ôi! Người này chưa đi người kia lại đến, kinh sách trong này đảo lộn cả lên. Chẳng biết họ xem để làm gì.”

Tiêu Viễn Sơn cả kinh nghĩ thầm: “Mình vào chùa Thiếu Lâm để lén lút nghiên cứu võ công, tăng lữ trong chùa chẳng một ai hay, sao nhà sư này lại biết rõ? Chắc là vừa rồi lão nghe câu chuyện ngoài kia, nên mở miệng nói bừa.” Tiêu Viễn Sơn liền hỏi: “Thế sao từ trước đến nay ta không gặp ngươi?” Lão tăng đáp: “Cư sĩ để hết tâm thần vào việc nghiên cứu võ học phái Thiếu Lâm, nên không để ý đến lão. Lão còn nhớ đêm đầu cư sĩ vào gác đã xem cuốn Vô Tướng Kiếp Chỉ Phổ. Hỡi ôi! Bắt đầu từ đêm ấy, cư sĩ đã đi vào ma đạo, thật là đáng tiếc!”

Tiêu Viễn Sơn lại càng kinh hãi hơn, vì đêm đầu lão lén vào Tàng Kinh Các đúng là đã xem cuốn Vô Tướng Kiếp Chỉ Phổ, biết rằng đó là một trong bảy mươi hai tuyệt kỹ của phái Thiếu Lâm. Khi ấy lão mừng rỡ vô cùng, cứ tưởng không ai hay biết, chẳng lẽ lão tăng này đã đứng bên nhìn rõ hay sao? Tiêu Viễn Sơn ngẩn người ra, không biết nói sao.

Lão tăng lại nói: “Lần thứ hai, cư sĩ lấy cuốn Bát Nhã Chưởng Pháp ra coi. Khi đó lão chỉ biết thở dài, hiểu rằng cư sĩ đã mê muội rồi. Lão bèn đem bộ Pháp Hoa Kinh gồm bốn mươi hai chương đặt vào chỗ mà cư sĩ vẫn lấy sách, chỉ mong cư sĩ nghiên cứu mà tỉnh ngộ. Chẳng ngờ cư sĩ chỉ ham muốn võ công, còn chính tông Phật pháp lại chẳng thèm sờ đến. Cư sĩ bỏ hai cuốn kinh sang một bên, tìm được pho Phục Ma Trượng Pháp thì mừng cuống quít lấy đi. Hỡi ôi! Đã chìm vào bể khổ, biết ngày nào mới quay đầu lại?”

Tiêu Viễn Sơn nghe vị lão tăng thuật lại những hành vi lén lút của mình ba mươi năm trước trong Tàng Kinh Các chẳng sai chút nào, thì từ ngạc nhiên chuyển sang hoảng sợ, rồi đi tới chỗ khiếp đảm. Sau lưng lão toát mồ hôi lạnh ngắt, trái tim cơ hồ ngừng đập.

Lão tăng từ từ quay đầu lại nhìn Mộ Dung Bác. Mộ Dung Bác thấy mục quang nhà sư lờ đờ tựa như không nhìn rõ gì, thế mà trong lòng ẩn tàng bí mật, việc gì cũng nhìn rõ hết. Mộ Dung Bác không khỏi sợ nổi da gà, trong lòng thấp thỏm không yên. Bỗng nghe lão tăng thở dài rồi nói: “Mộ Dung cư sĩ vốn thuộc dòng họ Tiên Ty, nhưng ở đất Giang Nam đã mấy đời. Lúc đầu lão tưởng cư sĩ đã hấp thụ được văn hóa Nam triều, ngờ đâu cư sĩ lại lẻn vào Tàng Kinh Các, đem những lý thuyết về Thiền Tông cùng ngữ lục truyền đời của các vị cao tăng mà coi như đồ bỏ, tìm được cuốn Niêm Hoa Chỉ Pháp mà tưởng chừng như vồ được đồ chi bảo. Hai vị cư sĩ đều là cao nhân đương thời mà cũng có hành động ngu muội bỏ vật quí lấy vật hèn. Hỡi ôi! Hành động ấy làm hại người khác mà lại chẳng ích gì cho mình.”

Mộ Dung Bác lại một phen kinh hãi. Hôm đầu tiên lão vào Tàng Kinh Các quả nhiên đã lục lấy bộ Niêm Hoa Chỉ Công. Lúc ấy lão đã quan sát kỹ càng bốn mặt, cả trong lẫn ngoài không thấy bóng người, thế mà nhà sư già này nói như chính mắt mình trông thấy.

Bỗng nghe lão tăng nói tiếp: “Mộ Dung cư sĩ so với Tiêu cư sĩ thì lòng tham lại có phần hơn. Tiêu cư sĩ chỉ chuyên nghiên cứu cách khắc chế võ công của phái Thiếu Lâm, còn Mộ Dung cư sĩ thì lại chép cả bảy mươi hai tuyệt kỹ của bản tự đem đi, sau ba năm mới trở lại Tàng Kinh Các. Chắc ba năm ấy cư sĩ đã tận tâm kiệt lực nghiên cứu cho hiểu hết bảy mươi hai tuyệt kỹ, để truyền thụ cho lệnh lang.”

Lão tăng nói tới đây thì quay sang nhìn Mộ Dung Phục, nhưng vừa nhìn một cái đã lắc đầu. Lão ngó qua Cưu Ma Trí, gật đầu nói: “Phải rồi! Lệnh lang còn nhỏ tuổi chưa đủ công lực, không thể nghiên cứu được bảy mươi hai tuyệt kỹ phái Thiếu Lâm. Té ra cư sĩ đem truyền cho vị cao tăng nước Thổ Phồn là Đại Luân Minh Vương. Minh Vương đã mắc sai lầm, mà lại là sai lầm rất lớn, thứ tự đảo điên, đại nạn tới trong sớm tối.”

Cưu Ma Trí chưa vào Tàng Kinh Các bao giờ, cũng chẳng kinh sợ gì nhà sư già. Hắn hững hờ hỏi: “Cái gì mà thứ tự đảo điên? Cái gì mà đại nạn tới trong sớm tối? Đại sư nói chuyện tựa như thầy bói đoán mò.” Lão tăng nói: “Không phải đoán mò đâu. Xin Minh Vương trả lại pho Dịch Cân Kinh cho bản tự.” Bấy giờ Cưu Ma Trí mới kinh hãi tự hỏi: “Sao lão này lại biết mình đoạt được Dịch Cân Kinh trong tay gã đầu sắt? Lão muốn đòi lại ư? Đâu có dễ dàng thế được?” Hắn liền cãi chối: “Pho Dịch Cân Kinh nào? Đại sư nói gì, tại hạ khó mà hiểu được.”

Lão tăng nói: “Võ công bản phái là do Đạt Ma tổ sư truyền lại. Đệ tử nhà Phật học võ, mục đích là thân thể cường kiện, bảo vệ Phật pháp, hàng phục ma quỷ. Bất luận là tu tập môn võ công nào, trong lòng đều phải có ý niệm từ bi nhân hậu. Nếu không lấy Phật học làm căn bản thì lúc luyện võ nhất định tự hại đến mình. Công phu luyện được càng thâm hậu thì thân thể bị tổn thương càng trầm trọng. Nếu chỉ luyện về quyền cước, hoặc đao kiếm ám khí, những môn ngoại công thì chẳng nói làm chi, vì nó hại rất ít, thân thể cường tráng là chống lại được ngay…”

Lão tăng chưa dứt lời, bỗng nghe dưới chân lầu có tiếng người huyên náo, tiếp theo là tiếng chân bước nhẹ nhàng lên thang, thoáng qua đã thấy bảy tám nhà sư tung mình lên gác. Đi đầu là mấy vị cao tăng hàng chữ Huyền trong phái Thiếu Lâm như Huyền Sinh, Huyền Diệt, kế đến bọn Thần Sơn Thượng Nhân, Đạo Thanh đại sư là mấy vị cao tăng từ ngoài đến, sau nữa là Triết La Tinh, Ba La Tinh nước Thiên Trúc, cuối cùng lại là mấy nhà sư hàng chữ Huyền như Huyền Chân, Huyền Tịch. Quần tăng thấy cha con Tiêu Viễn Sơn, cha con Mộ Dung Bác và Cưu Ma Trí cả bọn năm người đang ở trong gác, lặng yên nghe một vị lão tăng lạ mặt hạ thuyết tự, đều lấy làm kỳ dị. Những tăng nhân này đều là kẻ sĩ cao minh, dày công tu dưỡng. Họ không tiến vào quấy nhiễu, chỉ đứng một bên nghe xem lão tăng nói gì.

Lão tăng này thấy quần tăng lên tới mà chẳng hỏi han gì, cứ tiếp tục nói: “Nếu luyện những môn võ công thượng thặng của bản phái như Niêm Hoa Chỉ, Đa La Diệp Chỉ, Bát Nhã Chưởng mà hàng ngày không lấy Phật pháp từ bi để điều hòa, hóa giải, thì chướng khí thấm vào tạng phủ ngày càng nặng, so với bất cứ loại ngoại độc nào cũng tệ hại hơn nhiều. Đại Luân Minh Vương nguyên là đệ tử nhà Phật, tinh thông Phật pháp, về ký ức hay về minh kiến cũng vào hạng thế gian hiếm có, nhưng nếu không chịu giác ngộ, không đem lòng từ bi hỉ xả phổ độ chúng sinh, thì dù tinh thông kinh điển đến đâu cũng vô ích. Minh Vương không thể tiêu trừ được chướng khí do tu tập võ công thượng thặng mà mỗi ngày một chồng chất mãi lên.”

Quần tăng mới nghe mấy câu, đã biết vị lão tăng này là bậc minh kiến, trình bày rõ ràng những điều mà tiền nhân chưa từng nói đến, bất giác đều sinh lòng kính cẩn. Có mấy vị chắp tay niệm: “A di đà Phật! Thiện tai, thiện tai!”

Lão tăng lại nói tiếp: “Chùa Thiếu Lâm dựng nên đã hàng ngàn năm, xưa nay chỉ có một mình Đạt Ma tổ sư là kiêm thông hết được bảy mươi hai môn tuyệt kỹ. Còn về sau thì chưa có một vị cao tăng nào tinh thông hết được, mặc dù kinh điển bảy mươi hai tuyệt kỹ vẫn để trong gác này, không bao giờ ngăn cấm đệ tử lấy xem. Đó là vì lẽ gì, Minh Vương có hiểu không?” Cưu Ma Trí đáp: “Đó là việc riêng của quí tự, người ngoài hiểu thế nào được?”

Huyền Sinh, Huyền Diệt, Huyền Chân, Huyền Tịch đều tự hỏi: “Nhìn sắc phục thì vị lão tăng này chỉ vào hàng tạp dịch, mà sao lại có đạo hạnh cao siêu đến thế?” Những tăng nhân chuyên việc phục dịch cũng là tăng lữ chùa Thiếu Lâm, nhưng không được bái sư để truyền thụ võ công, không được liệt vào hàng các chữ Huyền, Tuệ, Hư, Không. Họ chẳng khác gì những kẻ làm thuê: nấu ăn, xới đất, quét tước hay làm những việc thổ mộc. Bọn Huyền Sinh đều là cao tăng bậc nhất nên không biết tướng mạo nhà sư này chẳng có chi là lạ, nhưng họ nghe lão nghị luận cao nhã, kiến thức siêu việt thì không khỏi lấy làm kinh ngạc.

Lão tăng lại nói tiếp: “Bản tự có bảy mươi hai tuyệt kỹ, mỗi tuyệt kỹ đều nhằm vào chỗ yếu hại, cướp lấy sinh mạng của người, thật là độc ác, phạm đến lòng trời. Vì thế mỗi tuyệt kỹ đều phải tương xứng với Phật pháp từ bi để hóa giải. Mọi tăng lữ trong bản tự đều hiểu đạo lý này, nên mỗi người sau khi luyện bốn năm tuyệt kỹ đều lĩnh hội được thêm về Thiền học, nếu không ắt đã bị cản trở. Trong phái Thiếu Lâm ta, cái đó gọi là “Võ học chướng”, cũng tương tự như “Tri kiến chướng” của các môn phái khác. Nên biết rằng, Phật học là để cứu thế, mà võ công lại để sát sinh. Hai thứ đó trái ngược nhau, phải tương khắc để kiềm chế nhau. Phật pháp cao siêu thì ý niệm từ bi mới hưng thịnh, võ công tuyệt nghệ mới có thể luyện được nhiều. Nhưng các vị cao tăng đã tu dường đến mức độ đó, thì thông thường lại không muốn học thêm những phép giết người lợi hại nữa.

Đạo Thanh đại sư gật đầu nói: “Được nghe sư phụ giảng giải một lần mà tiểu tăng cởi mở được bao chỗ bế tắc ngu muội.” Lão tăng chắp tay đáp: “Không dám! Lão nói có chỗ nào sai thì mong được các vị chỉ giáo cho!” Quần tăng đều chắp tay nói: “Xin sư phụ giảng thêm về Phật pháp!”

Cưu Ma Trí đứng tựa vào giá sách, nghĩ thầm: “Bảy mươi hai tuyệt kỹ phái Thiếu Lâm đã bị Mộ Dung tiên sinh lấy cắp làm tiết lộ ra ngoài. Lão sư già này giả thần giả quỷ là có ý hăm dọa cho người ngoài không dám luyện võ công của họ. Hà hà! Cưu Ma Trí ta đâu có thể mắc bẫy dễ dàng như thế?”

Lão tăng lại nói: “Trong bản tự dĩ nhiên cũng có người không đủ về Phật học mà miễn cưỡng luyện võ công thượng thặng, nhưng nếu họ không bị tẩu hỏa nhập ma thì cũng nội thương khó lòng chữa khỏi. Trước đây, Huyền Trừng đại sư đã có một tấm thân siêu phàm tuyệt tục, được các vị tiền bối đánh giá là người có võ công cao nhất bản tự trong vòng hai trăm năm nay. Thế mà chỉ trong một đêm, đột nhiên kinh mạch đứt hết, Huyền Trừng đại sư biến thành phế nhân, cũng chỉ vì lý do đó.”

Huyền Sinh, Huyền Diệt đột nhiên quỳ xuống nói: “Đại sư! Đại sư có cách gì cứu được Huyền Trừng sư đệ chăng?” Lão tăng lắc đầu đáp: “Chậm quá rồi, không thể cứu được nữa. Năm ấy Huyền Trừng đại sư vào Tàng Kinh Các để tìm sách luyện võ, lão tăng đã ba bốn lần nhắc nhở mà người trước sau vẫn chấp mê không tỉnh. Kinh mạch đã đứt hết thì còn nối lại thế nào được?”

Bỗng nghe ba tiếng veo véo khẽ vang lên, bọn Huyền Sinh đều biết đó là công phu Vô Tướng Kiếp Chỉ của bản môn. Mọi người đều quay lại nhìn Cưu Ma Trí thì thấy hắn biến sắc, song vẫn gượng mỉm cười.

Thì ra Cưu Ma Trí càng nghe càng không phục, nghĩ thầm: “Ngươi bảo bảy mươi hai tuyệt kỹ phái Thiếu Lâm không ai học được cả. Thế mà ta học được hết thì sao? Ta chẳng thấy kinh mạch bị đứt, trở thành phế nhân gì gì hết.” Hắn bèn giấu hai tay vào trong áo rồi ngấm ngầm phóng ra Vô Tướng Kiếp Chỉ thần không hay, quỷ không biết, nhắm vào lão tăng. Ngờ đâu, chỉ lực còn cách người lão tăng ba thước đã gặp phải một bức màn vô hình, tuy mềm nhũn mà rất dai ngăn trở. “Véo” một tiếng, chỉ lực tiêu tan mất tích, không hề quật ngược trở lại như gặp vật cản. Cưu Ma Trí kinh hãi nghĩ thầm: “Nhà sư già này tựa như có phép thần thông, không phải nói khoác dọa người.”

Lão tăng thản nhiên như không có gì, nhìn hai nhà sư Thiếu Lâm nói: “Xin hai vị đứng lên. Lão ở chùa Thiếu Lâm để các vị đại sư sai khiến, mà hai vị thi hành đại lễ thì nhất định lão không dám nhận.” Huyền Sinh, Huyền Diệt cảm thấy một luồng lực đạo nhu hòa đẩy nhẹ vào cánh tay, người không tự chủ được phải đứng lên. Không ai nhìn thấy lão tăng giơ tay hay phất áo gì cả, đều lấy làm kinh dị tự hỏi: “Dường như vị lão tăng này ngấm ngầm vận thần công, nghĩ tới đâu là cường lực tự nhiên tới đó. Giả tỉ người không phải là Bồ Tát hóa thân, thì cũng là bậc thần thông quảng đại, Phật pháp vô biên.”

Lão tăng lại nói: “Bảy mươi hai tuyệt kỹ của bản tự đều có hai phần Thể và Dụng. Thể tức là nội lực trong người, Dụng là vận dụng côn kiếm quyền cước ra bên ngoài. Hai vị lão cư sĩ cùng Đại Luân Minh Vương và Ba La Tinh sư huynh bên Thiên Trúc đã có nội lực vào hàng thượng thặng, mà đến bản tự cũng chỉ nghiên cứu tuyệt kỹ về phần Dụng, tuy có tổn hại nhưng trong thời gian ngắn chưa cảm thấy gì. Phải chăng Minh Vương đã luyện Tiểu Vô Tướng Công của phái Tiêu Dao?”.

Cưu Ma Trí càng kinh hãi thêm. Hắn đã học lỏm môn Tiểu Vô Tướng Công của phái Tiêu Dao, không một ai hay mà sao nhà sư này lại biết? Nhưng hắn lại nghĩ rằng: “Vừa rồi tên tiểu hòa thượng Hư Trúc đấu với mình đã sử dụng Tiểu Vô Tướng Công. Vậy chắc Hư Trúc đã bảo cho lão này biết, cái đó chẳng có chi là lạ.” Hắn liền nói: “Tiểu Vô Tướng Công tuy nguồn gốc ở Đạo gia, nhưng gần đây đệ tử nhà Phật rất nhiều người đã kiêm luyện được sở trường của Đạo gia và Phật gia. Ngay trong quí tự cũng chẳng thiếu gì cao thủ về môn này.”

Lão tăng hơi ngạc nhiên, hỏi lại: “Trong chùa Thiếu Lâm cũng có người biết Tiểu Vô Tướng Công ư? Hôm nay lão mới được nghe lần đầu.” Cưu Ma Trí nghĩ thầm: “Lão này thật khéo giả vờ!”, bèn tủm tỉm cười rồi không nói nữa. Nhà sư già lại nói: “Tiểu Vô Tướng Công vừa rộng lớn vừa tinh vi, ai đã có căn cơ về môn này đều có thể vận dụng được bảy mươi hai môn tuyệt kỹ của bản tự. Nhưng ở những chỗ khúc chiết, tế nhị không khỏi có trở ngại, nhiều môn nhìn bề ngoài thì rất đúng, mà thật ra không phải.”

Huyền Sinh quay lại bảo Cưu Ma Trí: “Minh Vương tự xưng là thông suốt hết bảy mươi hai môn tuyệt kỹ của bản phái, té ra chỉ kiêm thông bằng cách đó.” Huyền Sinh nói câu này có ý để châm chọc Cưu Ma Trí.

Lão tăng lại nói: “Nếu Minh Vương chỉ học phép vận dụng bảy mươi hai tuyệt kỹ thì chỉ bị nội thương nhẹ, tuy có hại về sau nhưng không đến nỗi mất mạng ngay. Thế mà hiện giờ huyệt Thừa Khấp của Minh Vương đã ửng đỏ mà trên huyệt Nghênh Hương đã ẩn hiện màu tím, huyệt Mi Xung cũng bị chấn động, chứng tỏ Minh Vương không những luyện bảy mươi hai môn tuyệt kỹ phái Thiếu Lâm, mà còn gắng gượng luyện bí lục Dịch Cân Kinh của bản tự…”. Lão tăng nói tới đây thì đột nhiên dừng lại, đôi mắt lộ ra vẻ thương tiếc.

Mấy tháng trước đây, Cưu Ma Trí đã lấy được pho Dịch Cân Kinh của gã đầu sắt. Hắn biết đó là một pho võ học chi bảo nên tìm nơi tĩnh mịch khổ luyện, nhưng lụyện đi luyện lại mà thủy chung vẫn không tiến bộ chút nào. Hắn cho rằng đã là võ công thượng thừa thì không thể luyện trong một sớm một chiều mà thành công được, nên vẫn kiên trì luyện tập, không hề trễ nải. Hắn nhớ lại Mộ Dung Bác đã từng khen Dịch Cân Kinh của phái Thiếu Lâm và Lục Mạch Thần Kiếm của Thiên Long Tự ngang hàng với nhau, là hai pho bí lục quí báu nhất trần gian thì dĩ nhiên không thể nào luyện tập trong một thời gian ngắn mà thành công, phải luyện đến tám năm hay mười năm mới có thể lãnh hội được những chỗ ảo diệu cao thâm. Nhưng Cưu Ma Trí càng luyện, càng cảm thấy trong lòng phiền muộn và tính tình nóng nảy, thật là một mớ chỉ rối bòng bong, chẳng biết đầu mối đâu mà gỡ. Hắn tự hỏi: “Chẳng lẽ nhà sư này nói thứ tự đảo điên, đại nạn tới trong sớm tối, là đúng sự thực hay sao?” Nhưng rồi hắn lại nghĩ: “Luyện võ không thành, bị tẩu hỏa nhập ma trở thành phế nhân cũng là chuyện thường. Nhưng Cưu Ma Trí này đã nghiên cứu võ học đến chỗ uyên thâm, đâu có phải như người tầm thường? Lão này chỉ đem lời hù dọa, nếu mình trúng kế lão thì tiếng tăm lừng lẫy một đời phải trôi theo dòng nước.”

Lão tăng chăm chú nhìn Cưu Ma Trí, thấy hắn tuy lộ vẻ lo nghĩ, nhưng thái độ vẫn tự phụ, tựa như không thèm tin lời mình nói. Lão tăng bất giác thở dài, hỏi Tiêu Viễn Sơn: “Tiêu cư sĩ! Gần đây cư sĩ có thấy hai huyệt Lương Môn và Thái Ất ngấm ngầm đau đớn không?” Tiêu Viễn Sơn giật mình đáp: “Thần tăng sáng suốt, thật không sai chút nào.” Nhà sư già lại hỏi: “Huyệt Quan Nguyên của cư sĩ vốn đã tê dại, hiện nay thế nào?” Tiêu viễn Sơn lại càng kinh hãi đáp:”Mười năm trước đây, huyệt đó đã chai lại bằng đầu ngón tay, bây giờ đã… đã lớn bàng tách trà.” Lão nói tới đây, thanh âm run lên.

Tiêu Phong nghe vậy, hiểu rằng phụ thân có ba chỗ yếu huyệt phát sinh quái trạng, chỉ vì miễn cưỡng luyện tập những tuyệt kỹ Thiếu Lâm mà ra. Phụ thân đau đớn đã lâu mà thủy chung không có cách nào trừ được, thật là một mối lo tâm phúc. Chàng lo lắng, tiến ra hai bước quỳ xuống sụp lạy lão tăng, nói: “Thần tăng đã biết bệnh trạng của gia phụ, xin mở lòng từ bi mà giải cứu!”

Lão tăng chắp tay thi lễ nói: “Cư sĩ hãy đứng lên. Cư sĩ có lòng nhân đạo, thương xót lê dân trong thiên hạ, không chịu vì thù riêng mà đẩy quân dân Tống, Liêu vào chỗ lầm than. Cư sĩ đại nhân đại nghĩa như vậy, thì bất luận có sai bảo điều gì, lão tăng cũng nhất nhất tuân theo, hà tất phải đa lễ?” Tiêu Phong cả mừng, dập đầu hai cái nữa rồi mới đứng lên. Lão tăng lại nói: “Tiêu lão cư sĩ trước kia đã sát sinh rất nhiều, hại cả đến người vô tội, Phu phụ Kiều Tam Hòe, Huyền Khổ đại sư, thật là những người không nên hạ sát.”

Tiêu Viễn Sơn là một anh hùng Khất Đan, tuy đã già mà tính khí hãy còn nóng nảy. Lão vừa nghe lão tăng khiển trách mình liền dõng dạc nói: “Lão phu tự biết mình bị nội thương trầm trọng, nhưng tuổi đã quá lục tuần, con đã thành nhân, dù có chết ngay cũng không tiếc gì nữa. Thần tăng muốn lão phu nhận tội mà hối cải thì không được đâu.”

Lão tăng lắc đầu đáp: “Lão nạp không dám xin lão cư sĩ nhận tội hối cải. Nhưng nội thương của lão cư sĩ là do luyện võ công Thiếu Lâm mà ra, nếu muốn hóa giải thì phải theo Phật pháp mà tìm đường lối.”

Lão quay lại bảo Mộ Dung Bác: “Mộ Dung lão cư sĩ đã coi chết như về, dĩ nhiên lão nạp chẳng dám nhiều lời. Nhưng nếu ta chỉ cách để lão cư sĩ giải trừ nội thương ba chỗ yếu huyệt Dương Bạch, Liêm Tuyền, Phong Phủ, đã làm cho mỗi ngày lão cư sĩ phải ba lần đau đớn, thì lão cư sĩ nghĩ sao?”

Mộ Dung Bác sắc mặt biến đổi, toàn thân run bần bật. Ba chỗ huyệt đạo nói trên của lão quả nhiên mỗi ngày ba lần sáng sớm, giữa trưa và giữa đêm bị đau như muôn ngàn mũi kim đâm vào, không sao chịu nổi. Gần đây những cơn đau lại càng tệ hại hơn. Lão đã uống không biết bao thứ linh đơn diệu dược mà không thấy một chút hiệu nghiệm, mỗi lần vận công là đau dữ dội tựa hồ dao đâm vào xương tủy. Con người đã mỗi ngày ba lần đau đến chết người thì còn gì là sinh thú nữa? Vì thế mà lão chịu chết để đổi lấy lời hứa Tiêu Phong hưng binh phạt Tống. Tuy mục đích vẫn là phục hưng Yên quốc, nhưng một phần là lão chán sống vì cái bệnh thảm khốc kia, không muốn chịu đựng thêm nữa.

Mộ Dung Bác đột nhiên nghe vị lão tăng kể ra bệnh trạng của mình thì chẳng khác gì thấy sét nổ giữa trời quang, kinh hãi vô cùng! Thực ra võ công đã cao cường, thì bên tai có nghe sét nổ luôn mười tiếng, lão cũng chẳng giật mình, chỉ cho là trời hắt hơi, chẳng cần để ý. Thế mà mấy câu nhỏ nhẹ của lão tăng đã khiến lão phải kinh hồn bở vía. Mộ Dung Bác run rẩy hai cái, đột nhiên lại thấy ba huyệt đạo Dương Bạch, Liêm Tuyền và Phong Phủ như bị kim châm, những cơn đau đớn kịch liệt bắt đầu phát tác. Giờ này không phải là giờ lên cơn thường lệ như mọi khi, nhưng vì tinh thần lão chấn động nên cơn đau lại nổi lên, những khớp xương trong người kêu răng rắc tựa như đang bị người ta đánh đập. Mộ Dung Bác nghiến răng chịu đau, nhưng hàm trên hàm dưới vẫn va vào nhau, khua lên lách cách.

Mộ Dung Phục biết tính khí phụ thân vốn cương cường, giết lão thì dễ, chứ bắt lão khuất phục trước mặt mọi người thì không thể được. Hắn suy nghĩ một lúc, rồi chắp tay nói với cha con Tiêu Phong: “Non xanh trơ đó, nước biếc còn đây, sau này còn ngày tái ngộ. Hai vị muốn tìm cha con tại hạ để báo thù thì xin mời đến Tham Hợp Trang, trong Yến Tử Ổ ở Cô Tô. Cha con tại hạ xin sẵn sàng nghênh tiếp đại giá.” Rồi hắn nắm tay Mộ Dung Bác kéo đi, nói: “Gia gia! Chúng ta đi thôi!”

Vị lão tăng hỏi: “Sao thí chủ lại nhẫn tâm như vậy? Thí chủ để lệnh tôn phải chịu cái đau đớn như bị đẽo xương cắt gân ư?” Mộ Dung Phục sắc mặt nhợt nhạt, dắt tay Mộ Dung Bác rảo bước đi ra.

Tiêu Phong quát lên: “Ngươi muốn đi ư? Trong thiên hạ sao lại có việc dễ dàng thế được? Phụ thân ngươi đang lên cơn bệnh, chúng ta đã là đại trượng phu thì không nhân lúc người ta gặp nguy nan mà hạ thủ đâu!” Mộ Dung Phục khí tức bốc lên, quát trả: “Ta lại muốn tiếp mấy cao chiêu của Tiêu huynh.” Tiêu Phong không nói gì nữa, xuất chiêu Kiến Long Tại Điền trong Hàng Long Thập Bát Chưởng đánh tới Mộ Dung Phục. Tiêu Phong thấy Tàng Kinh Các địa thế chật hẹp, lại đông cao thủ không tiện đánh nhau, nên vận đến mười thành công lực, muốn chỉ vài chưởng là hạ sát địch thủ. Mộ Dung Phục thấy chưởng lực đối phương cực kỳ hung mãnh liền vận hết sức bình sinh, dùng kỹ thuật Đẩu Chuyển Tinh Di để hóa giải.

Lão tăng chắp tay trước ngực, cất tiếng: “A di dà Phật! Nơi Phật môn thiện địa, hai vị cư sĩ không nên vọng động.”

Lão chỉ chắp hai bàn tay mà phát ra một luồng kình lực, tựa như bức tường vô hình để ngăn giữa đôi bên. Chưởng lực nghiêng non dốc biển của hai bên vừa chạm phải bức tường vô hình ấy lập tức mất tích, chẳng thấy tăm hơi gì nữa.

Tiêu Phong kinh ngạc vô cùng. Bình sinh chàng chưa gặp địch thủ, lại thấy vị lão tăng này công lực cao gấp mấy mình. Lão đã ra tay ngăn trở thì hôm nay nhất định không thể trả thù được. Tiêu Phong lại nghĩ đến nội thương của phụ thân, liền khom lưng nói: “Tại hạ là kẻ thất phu hoang dã, không biết lễ nghi, đã mạo phạm đến thần tăng, xin thứ tội cho.”

Lão tăng mỉm cười đáp: “Thí chủ dạy quá lời. Lão nạp đối với Tiêu thí chủ vẫn một lòng kính cẩn. Tiêu thí chủ mang bản sắc đại anh hùng, thật không hổ thẹn.”

Tiêu Phong nói: “Gia phụ phạm tội, giết người đều chỉ vì tại hạ. Tại hạ khẩn cầu thần tăng trị nội thương cho gia phụ. Bao nhiêu tội nghiệt, tại hạ cam tâm nhận hết, dù muôn thác cũng không từ chối.”

Lão tăng lại mỉm cười đáp: “Lão nạp đã nói rồi, muốn hóa giải nội thương cho Tiêu lão cư sĩ thì phải tìm đường trong Phật pháp. Phật vốn tại tâm, Phật là giác ngộ, người ngoài chỉ có thể chỉ điểm chứ không thể làm thay được. Lão tăng hỏi Tiêu cư sĩ một câu: Nếu cư sĩ biết phương pháp trị thương thì có chịu chữa cho Mộ Dung lão cư sĩ không?”

Tiêu Viễn Sơn ngẩn người ra, hỏi lại: “Ta… ta trị thương cho Mộ Dung lão thất phu ư?” Mộ Dung Phục quát lên: “Ngươi ăn nói cẩn thận!” Tiêu Viễn Sơn nghiến răng nói: “Mộ Dung lão thất phu giết ái thê của ta, làm tan nát đời ta. Ta chỉ hận mình chưa băm vằm hắn ra được.” Lão tăng hỏi: “Tiêu lão cư sĩ chưa nhìn thấy Mộ Dung lão cư sĩ chết bất đắc kỳ tử thì chưa tiêu được mối hận trong lòng ư?” Tiêu Viễn Sơn đáp: “Chính thế! Lão phu ẩn trong chùa Thiếu Lâm ba mươi năm chính là để báo mối đại thù này.” Vị lão tăng gật đầu nói: “Chuyện đó cũng dễ thôi.” Đoạn lão đứng dậy, từ từ bước tới, vung chưởng ra đánh vào đỉnh đầu Mộ Dung Bác.

Lúc đầu, Mộ Dung Bác thấy nhà sư đứng lên, lão không để ý. Đến khi lão thấy nhà sư vung chưởng đánh mình, vội vàng vung tay trái lên chống đỡ, lại sợ võ công đối phương quá lợi hại, nên vọt người nhảy lùi ra sau. Mộ Dung Bác là dòng Mộ Dung ở Cô Tô, bản lĩnh đã không phải tầm thường, sau khi luyện những tuyệt kỹ Thiếu Lâm khác nào như hổ thêm cánh. Lão vung tay lên và nhảy lùi lại, tuy trông có vẻ bình thường chẳng có gì kỳ lạ, nhưng thủ thế cực kỳ nghiêm mật, dường như bất luận ai trên thế gian cũng không làm gì được. Mọi người trong Tàng Kinh Các đều là cao thủ về võ học, thấy Mộ Dung Bác ra hai chiêu này đều ngấm ngầm thán phục. Cả cha con Tiêu Viễn Sơn cũng không khỏi trầm trồ khen ngợi.

Không ngờ Mộ Dung Bác vừa chống đỡ, vừa thối lui vẫn chẳng ăn thua gì. Phát chưởng nhẹ nhàng của vị lão tăng vẫn đập “chát” một tiếng, trúng vào huyệt Bách Hội trên đỉnh đầu Mộ Dung Bác. Huyệt Bách Hội là một đại huyệt khẩn yếu, dù bị kẻ không hiểu võ công đập trúng cũng có thể mất mạng hay trọng thương. Phát chưởng của lão tăng lại mang nội lực, Mộ Dung Bác chỉ run lên một cái rồi tắt thở ngay, thân hình ngã ngửa ra sau.

Mộ Dung Phục cả kinh, vội nâng lão lên, gọi rối rít: “Gia gia! Gia gia!” Nhưng phụ thân hắn miệng đã cắn chặt, mắt nhắm lại, mũi không còn hơi thở nữa. Hắn vội đưa tay lên sờ ngực thì trái tim cũng ngừng đập rồi. Mộ Dung Phục vừa đau thương vừa phẫn nộ, không ngờ nhà sư già này miệng nói toàn Phật pháp từ bi mà đột nhiên hạ độc thủ giết người. Hắn la lên: “Thằng trọc này!… Ngươi…”. Y để thi thể phụ thân dựa vào cột nhà rồi tung mình nhảy lại, vung song chưởng ra đánh lão tăng.

Vị lão tăng lờ đi như không thấy gì, nhưng song chưởng của Mộ Dung Phục còn cách lão hai thước thì đột nhiên vấp phải một bức tường vô hình mềm nhũn, tựa như một tấm lưới. Chưởng lực tuy mãnh liệt nhung không phát huy được, hắn lại bị đẩy ngược lại hơn trượng, va vào giá sách. Kỳ lạ ở chỗ, chưởng lực của hắn bị bức tường vô hình kia hóa giải một cách êm dịu, rồi hắn bị đẩy ra hết sức nhẹ nhàng, tuy đập lưng vào giá sách mà giá sách vẫn không đổ. Cả những kinh sách trên giá cũng không rơi xuống một quyển nào.

Mộ Dung Phục thông minh cơ biến, tuy xót thương phụ thân thảm tử, nhưng hắn biết võ công lão tăng cao gấp trăm mình, dù có tức điên lên mà liều mạng cũng chẳng làm gì được đối phương. Nghĩ vậy, hắn bèn đứng dựa vào giá sách, giả vờ ho rũ rượi, nhưng suy nghĩ rất nhiều, muốn chờ cơ hội đối phương không kịp đề phòng sẽ tập kích đột ngột.

Lão tăng quay lại nhìn Tiêu Viễn Sơn, thản nhiên hỏi: “Tiêu lão cư sĩ muốn chính mắt trông thấy Mộ Dung lão cư sĩ chết, để hả mối thù chứa chất trong lòng bấy lâu nay. Bây giờ Mộ Dung lão cư sĩ chết rồi, Tiêu lão cư sĩ đã nguôi giận chưa?”

Tiêu Viễn Sơn thấy lão tăng phóng chưởng đánh chết Mộ Dung Bác đã kinh ngạc vô cùng, bây giờ nghe hỏi vậy thì trong lòng không khỏi bâng khuâng, há miệng cứng lưỡi không biết nói sao.

Suốt ba mươi năm trời, Tiêu Viễn Sơn tìm trăm phương nghìn kế để báo mối thù giết vợ cướp con. Sau khi điều tra được vụ thảm án ngoài Nhạn Môn Quan, lão đã tìm bọn hào kiệt Trung Nguyên có dính líu đến, đánh chết từng người một. Ngoài ra Huyền Khổ đại sư cùng vợ chồng Kiều Tam Hòe cũng chết về tay lão. Lão biết Thủ Lĩnh Đại Ca chính là Huyền Từ phương trượng chùa Thiếu Lâm, bèn tố cáo bí mật về cuộc tư thông giữa Huyền Từ và Diệp Nhị Nương trước quần hùng thiên hạ, khiến cho Huyền Từ thân danh tan nát rồi phải tự sát. Nhưng cái chết của Huyền Từ thật sự quang minh lỗi lạc, không mất phong độ anh hùng, nên Tiêu Viễn Sơn trong thâm tâm cũng hối hận là mình đã quá tàn nhẫn. Cái chết của Diệp Nhị Nương cũng làm cho lão áy náy trong lòng.

Sau đó Tiêu Viễn Sơn lại biết Mộ Dung Bác là người phao tin thất thiệt để gây nên vụ thảm sát ngoài Nhạn Môn Quan, cũng chính là nhà sư áo xám cùng ẩn núp trong chùa Thiếu Lâm, đã cùng lão giao thủ ba phen mà không phân thắng bại. Tiêu Viễn Sơn căm hận Mộ Dung Bác đến cực điểm, chỉ muốn đem ra xé thịt lột da, rút từng lóng xương. Ngờ đâu lão tăng vô danh đã phóng chưởng đánh chết kẻ thù của mình một cách quá dễ dàng. Diễn biến đột ngột này khiến cho lão rất đỗi bâng khuâng, tâm thần bàng hoàng, tưởng chừng như ở thế gian không còn việc gì để mình làm nữa.

Thuở nhỏ Tiêu Viễn Sơn hào khí ngất trời, luyện thành bản lĩnh xuất thần nhập hóa. Lão chỉ mong đem tài sức mình để lập công danh, được nêu tên trong sử sách. Lão cùng ái thê vừa yêu thương vừa kính trọng nhau, lại sinh hạ một cậu quí tử. Đời lão đang sung sướng, tràn trề hy vọng thì bỗng nhiên xảy ra thảm kịch chết vợ, mất con ngoài Nhạn Môn Quan, thật là thê thảm. Lão nhảy xuống vực thẳm mà không chết, rồi từ đó đã hoàn toàn biến thành con người khác, xem công danh sự nghiệp cùng danh vọng tiền tài như đất bùn. Ngày đêm lão chỉ nghĩ đến việc tìm cách cầm gươm đâm suốt ngực cừu nhân cho hả giận. Tiêu Viễn Sơn vốn là người hào sảng chất phác, nóng nảy chứ không sâu hiểm, nhưng cừu hận đã làm cho lão thay đổi tính tình, ngày càng tàn nhẫn. Lão lén lút trong chùa Thiếu Lâm mấy chục năm trời, ban ngày ẩn nấp trong chỗ kín, ban đêm mới chui ra để nghiên cứu võ công. Mấy chục năm lão chẳng nói với ai nửa lời, tính tình lại càng đại biến.

Đột nhiên Tiêu Viễn Sơn thấy kẻ đại thù mấy chục năm chết trước mắt mình, lẽ ra thì phải sung sướng lắm. Thế mà trong lòng lão lại cảm thấy tịch mịch thê lương khôn tả, tựa như trên đời chẳng còn việc gì để làm. Lão thấy vẻ mặt cừu nhân vẫn thanh thản, trên môi đọng một nụ cười, tưởng chừng như chết đi lại vui thú hơn lúc còn sống. Tiêu Viễn Sơn thấy thế, lại ngấm ngầm mừng cho cừu nhân tốt phúc.

Người đã chết rồi thì bao nhiêu nợ nần, thù oán đều phủi sạch. Chỉ trong khoảnh khắc, Tiêu Viễn Sơn tính lại thì kẻ thù đều chết hết, đại thù đã trả sạch. Lão thầm nghĩ: “Bây giờ ta biết đi đâu? về Đại Liêu hay ra ngoài Nhạn Môn Quan ẩn cư? Hay dắt Phong nhi tìm nơi góc bể chân trời, tứ hải phiêu lưu?” Nhưng lão thấy cách nào cũng hoàn toàn vô vị.

Bỗng vị lão tăng lên tiếng: “Tiêu lão cư sĩ! Bây giờ lão cư sĩ muốn đi đâu, xin cứ việc tùy tiện.” Tiêu Viễn Sơn lắc đầu đáp: “Lão phu… Lão phu biết đi đâu bầy giờ? Lão phu chẳng còn có chỗ nào để đi nữa!” Lão tăng lại hỏi: “Bây giờ Mộ Dung lão cư sĩ đã bị ta đánh chết rồi, phải chăng trong lòng Tiêu lão cư sĩ còn tiếc là không được tự tay hạ sát kẻ thù?” Tiêu Viễn Sơn đáp: “Không phải thế. Dù thần tăng chẳng đánh chết y, thì lão phu cũng chẳng muốn đánh chết y làm chi nữa.” Lão tăng gật đầu nói: “Đúng thế! Nhưng Mộ Dung thiếu hiệp vì đau xót phụ thân thảm tử, lại muốn báo thù ta và Tiêu lão cư sĩ thì biết làm thế nào?” Tiêu Viễn Sơn trong lòng chán nản đáp: “Thần tăng đã vì lão phu mà ra tay. Nếu Mộ Dung thiếu hiệp muốn báo thù cho phụ thân, thì cứ lại đây mà giết lão phu đi là xong.” Đột nhiên lão thở dài rồi nói tiếp: “Mộ Dung thiếu hiệp có giết ta cũng là phải. Phong nhi! Ngươi trở về Đại Liêu đi! Mọi việc của ta đều xong hết, hành trình của ta đến đây là tới đích rồi.” Tiêu Phong la lên: “Gia gia…”

Vị lão tăng lại lên tiếng: “Nếu Mộ Dung thiếu hiệp hạ sát Tiêu lão cư sĩ, thì Tiêu thí chủ lại giết Mộ Dung thiếu hiệp để báo thù cho phụ thân. Như vậy oán thù lẩn quẩn mãi, biết bao giờ kết thúc? Chi bằng để ta nhận hết tội nghiệt trong thiên hạ là xong.” Lão tăng nói xong, tiến lên một bước, đánh vào đầu Tiêu Viễn Sơn. Tiêu Phong giật mình kinh hãi, nhà sư già này chỉ phóng một chưởng là đánh chết được Mộ Dung Bác, thì dĩ nhiên cũng một chưởng hạ sát phụ thân mình một cách dễ dàng. Chàng hốt hoảng la lên: “Dừng tay!”, đồng thời phóng cả song chưởng đánh mạnh vào trước ngực nhà sư già. Tiêu Phong đối với vị thần tăng này vẫn mười phần kính ngưỡng, nhưng lúc này nóng nảy cứu viện phụ thân, phải dùng toàn lực xuất chiêu. Lão tăng đưa tả chưởng ra để gạt song chưởng của Tiêu Phong, hữu chưởng tiếp tục vỗ xuống đỉnh đầu Tiêu Viễn Sơn.

Tiêu Viễn Sơn hoàn toàn không kháng cự, thấy hữu chưởng lão tăng đã sắp đến đỉnh đầu mình. Đột nhiên lão tăng lại quát lên một tiếng rồi xoay tay một cái, hữu chưởng rút về tập kích Tiêu Phong.

Song chưởng của Tiêu Phong đang chống đỡ tả chưởng của lão tăng, thì đột nhiên hữu chưởng của nhà sư lại đánh tới nơi. Chàng liền rụt tay trái về để chống đỡ, đồng thời la lên:”Gia gia! Chạy mau!” Không ngờ, hữu chưởng của nhà sư chỉ giả vờ biến chiêu để Tiêu Phong phải rút một tay về tự vệ. Tiêu Phong vừa rụt tay trái về thì tay phải nhà sư lại chuyển hướng, vỗ vào đỉnh đầu Tiêu Viễn Sơn đánh “bốp” một tiếng.

Giữa lúc ấy hữu chưởng của Tiêu Phong đã đánh tới, nghe “binh” một tiếng, đập trúng trước ngực nhà sư. Tiếp theo là những tiếng kêu “lắc rắc” tưởng như xương cốt lão tăng bị gãy nát hết. Lão chỉ mỉm cười nói: “Hảo công phu! Hàng Long Thập Bát chưởng quả nhiên là thiên hạ đệ nhất.” Chữ “nhất” chưa nói xong, máu tươi trong miệng đã phun ra.

Tiêu Phong ngẩn ra một chút, lại nâng phụ thân dậy thì thấy trái tim lão đã ngừng đập, tắt hơi mất mạng. Nhất thời chàng không biết phải làm gì.

Vị lão tăng bỗng nói: “Đã đến lúc rồi! Ta phải đi gấp.” Lão đưa cả hai tay ra, tay phải nắm cổ áo Tiêu Viễn Sơn, tay trái nắm cổ áo Mộ Dung Bác, rồi vọt đi rất nhanh, tựa hồ chân không chấm đất, nháy mắt đã ra khỏi Tàng Kinh Các.

Tiêu Phong và Mộ Dung Phục cùng la lên:”Đại sư… đại sư làm gì thế?” Đồng thời phóng chưởng lực ra đánh vào sau lưng lão. Vừa rồi hai người này là kẻ thù không đội trời chung, nhưng bây giờ phụ thân đều bị hại, nên hai người lại hợp lực đuổi theo lão tăng kia. Chưởng lực của hai người hợp lại mãnh liệt vô cùng, kình lực làm rung chuyển cả Tàng Kinh Các. Thân thể lão tăng tựa như chiếc diều giấy, bị chưởng phong đẩy bay đi mấy trượng. Lão vẫn nắm hai xác chết, cả ba người lơ lửng chân không chấm đất bay vọt đi, tưởng chừng không phải là tấm thân bằng máu thịt nữa.

Tiêu Phong vọt qua cửa sổ rượt theo, thấy lão hai tay xách hai xác chết chạy thẳng lên núi, bèn gia tăng cước bộ, cứ tưởng mình chỉ chạy thêm vài bước nữa là đuổi kịp. Không ngờ khinh công của lão rất kỳ dị, tựa như người có tà thuật. Tiêu Phong ra sức chạy cực nhanh, gió vù vù đau cả tai, mà thủy chung vẫn còn cách lão đến hai ba trượng. Chàng phóng chưởng ra liên tiếp, nhưng đều đánh vào khoảng không.

Lão tăng mỗi lúc một vượt xa, chạy quanh qua quẹo lại trong khu rừng. Đến một khoảng đất bằng phẳng rộng rãi, đột nhiên lão đặt hai xác chết xuống ngồi xếp bằng dưới gốc cây, rồi ngồi phía sau, đưa hai bàn tay ra đỡ lưng hai xác chết. Lão vừa ngồi yên thì Tiêu Phong đuổi đến nơi.

Tiêu Phong thấy lão tăng có hành động kỳ lạ, liền không động thủ nữa. Bỗng nghe lão lên tiếng nói: “Lão nạp cắp hai vị chạy một lúc để mạch máu lại lưu thông.” Tiêu Phong không tin ở tai mình nữa. Người đã chết mà mạch máu còn lưu thông được ư? Chàng chẳng hiểu gì, buột miệng hỏi lại: “Mạch máu lưu thông trở lại ư?” Nhà sư già đáp: “Hai vị bị nội thương quá nặng, phải chết đi một lúc mới giải cứu được.” Tiêu Phong cả kinh tự hỏi: “Chẳng lẽ gia gia chưa chết ư? Lão… lão đang trị thương cho gia gia ư? Trong thiên hạ sao lại có kẻ đánh chết người trước rồi mới chữa thương?”

Lúc này Mộ Dung Phục, Cưu Ma Trí, Huyền Sinh, Huyền Độ cùng Thần Sơn Thượng Nhân cũng lục tục đuổi đến nơi.

Mọi người nhìn thấy trên đầu hai tử thi vọt ra một tia bạch khí, lão tăng lại xoay hai xác chết cho quay mặt vào nhau, rồi đặt bốn bàn tay xác chết nắm lấy nhau. Mộ Dung Phục lớn tiếng hỏi: “Lão… lão đang làm gì thế?” Nhà sư già không trả lời, chầm chậm bước vòng quanh hai xác chết, vung tay ra không ngớt, lúc đè vào huyệt Đại Truy của Tiêu Viễn Sơn, lúc lại nắm vào huyệt Ngọc Chẩm của Mộ Dung Bác. Luồng bạch khí trên đầu hai tử thi mỗi lúc một dày đặc hơn.

Thời gian chừng uống cạn tuần trà, người của Tiêu Viễn Sơn và Mộ Dung Bác đồng thời nhúc nhích. Tiêu Phong và Mộ Dung Phục vừa sợ vừa mừng, đồng thanh cất tiếng gọi: “Gia gia!”. Tiêu Viễn Sơn cùng Mộ Dung Bác từ từ mở mắt ra nhìn, rồi nhắm mắt lại. Nhưng sắc mặt Tiêu Viễn Sơn đã ửng hồng, còn mặt Mộ Dung Bác có ẩn hiện màu xanh.

Bây giờ mọi người mới hiểu hai người kia chưa chết, chỉ là qui tức mà ngừng thở. Phép qui tức thì những bậc kỳ sĩ nội công cao thâm đều có luyện qua, nhưng chỉ có thể tự đình chỉ hô hấp. Đằng này lão tăng phóng chưởng đánh người ta ngừng thở mà không chết, thì không ai tưởng tượng nổi. Nhưng lão dụng tâm lương thiện mà sao lại không nói trước, khiến Tiêu Phong cùng Mộ Dung Phục vừa kinh hãi vừa căm giận, để chính mình bị Tiêu Phong đánh một chưởng đến thổ huyết? Mọi người tuy trong lòng nghi hoặc, nhưng thấy nhà sư đang bận rộn chữa thương nên không dám hỏi.

Hơi thở của Tiêu Viễn Sơn cùng Mộ Dung Bác dần dần mạnh lên. Sắc mặt Tiêu Viễn Sơn càng lúc càng đỏ như sắp ứa máu ra, còn sắc mặt Mộ Dung Bác thì mỗi lúc một xanh như sắp chết cóng, thân thể cả hai cùng run lên bần bật. Mọi người đứng nhìn đều biết rằng một lão thì dương khí quá vượng nên hư hỏa xông lên, còn một người thì âm khí quá thịnh nên phong hàn bế tắc bên trong. Bọn Huyền Sinh, Huyền Diệt, Thần Sơn, Đạo Thanh đều có mang theo linh dược, nhưng không hiểu thứ nào phù hợp với chứng này.

Bỗng nghe lão tăng quát lên: “Nào! Bốn tay nắm chặt, nội tức hòa hợp, khí âm khí dương, tiêu diệt lẫn nhau. Nào! Mưu đồ quyền vị, thù hận thâm sâu, mau mau tan biến, vào cõi hư không.”

Bốn bàn tay đã nắm vào nhau khi hai người còn là xác chết, nghe tiếng quát của lão tăng càng nắm chặt thêm, nội tức của hai người đều truyền sang đối phương để dung hợp khai thông cho nhau. Sắc mặt hai người dần dần nhạt đi, sau một lúc mở mắt nhìn nhau mà cười, tựa hồ không còn gì oán hận nhau nữa.

Tiêu Phong cùng Mộ Dung Phục thấy phụ thân lại mở mắt mỉm cười thì nỗi mừng biết lấy chi cân? Bỗng Tiêu Viễn Sơn cùng Mộ Dung Bác khoác tay nhau, đến quỳ trước mặt lão tăng. Vị lão tăng hỏi: “Hai vị sống rồi lại chết, chết rồi lại sống, chuyển quanh một vòng. Trong lòng hai vị có điều gì ân hận nữa không? Hai vị còn nghĩ đến chuyện phục hưng Đại Yên hay báo phục thê cừu nữa không?”

Tiêu Viễn Sơn đáp: “Đệ tử giả làm hòa thượng, đã ở chùa Thiếu Lâm trong ba mươi năm, nhưng trong tâm chưa có chút nào giác ngộ đáng gọi là đệ tử nhà Phật. Hôm nay đệ tử khẩn cầu sư phụ thu nạp cho.” Lão tăng hỏi: “Thế còn mối thù giết vợ, lão cư sĩ không muốn báo phục nữa ư?” Tiêu Viễn Sơn đáp: “Đệ tử bình sinh đã giết hàng trăm người. Giả tỉ thân nhân họ cũng đến đòi mạng thì dù đệ tử có chết đến trăm lần cũng chưa đủ trả nợ.”

Lão tăng lại quay sang hỏi Mộ Dung Bác: “Còn Mộ Dung lão cư sĩ nghĩ sao?” Mộ Dung Bác đáp: “Thứ dân là cát bụi, đế vương cũng là cát bụi. Đại Yên khôi phục cũng là không, mà chẳng khôi phục cũng là không.” Lão tăng cười rạng rỡ, nói: “Thế là lão cư sĩ giác ngộ rồi. Thiện tai! Thiện tai!” Mộ Dung Bác nói: “Đệ tử cũng thỉnh cầu sư phụ thu làm đệ tử, khai thông những điểm ngu muội.” Lão tăng đáp: “Hai vị thí chủ đã muốn xuất gia làm sư, thì hãy yêu cầu một vị đại sư trong chùa Thiếu Lâm xuống tóc cho. Ta có mấy câu kệ muốn đọc cho các vị nghe, tưởng cũng chẳng hại gì.” Đoạn lão ngồi xuống, xếp bằng thuyết pháp.

Tiêu Phong cùng Mộ Dung Phục cũng quỳ xuống. Tiếp theo là Huyền Sinh, Huyền Diệt, Thần Sơn, Đạo Thanh, Ba La Tinh khi nghe thuyết pháp đến chỗ tinh diệu thì đều hoan hỉ, sinh lòng ngưỡng mộ rồi hết thảy đều quỳ xuống.

Khi Đoàn Dự tới nơi thì mọi người đang nghe lão tăng giảng giải Phật nghĩa. Chàng định đi vòng ra trước mặt vị lão tăng này để xem tướng mạo. Ngờ đâu Cưu Ma Trí thốt nhiên hạ độc thủ, trước ngực chàng trúng một chiêu Hỏa Diệm Đao, ngã lăn ra bất tỉnh.


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.

 Bình luận