Thiên long bát bộ

Hồi 11: Hai Cô Mỹ Nữ, Một Chiếc Thuyền Con

trước
tiếp

Đoàn Dự bị Cưu Ma Trí điểm huyệt không cử động gì được nữa. Mấy gã tùy tòng gác chàng ngang lưng ngựa, mặt cúi sấp xuống, chỉ nhìn thấy mặt đất chạy lùi về phía sau. Vó ngựa tung bay khiến cho mũi miệng chàng đầy cát bụi, tai nghe bọn chúng nói líu lo toàn tiếng Phiên không hiểu gì cả. Chàng đếm chân ngựa tổng cộng có đến mười con.

Chạy được hơn chục dặm đến một ngã ba, Cưu Ma Trí nói líu lo mấy câu rồi năm con ngựa đi về bên trái, còn hắn và tên áp giải chàng cùng ba người nữa đi rẽ về bên phải. Đi thêm mấy dặm nữa lại gặp một ngã ba khác, trong năm người lại có hai người chạy theo ngả kia. Đoàn Dự biết rằng Cưu Ma Trí muốn cho truy binh bối rối không biết đâu mà đuổi. Lại chạy thêm một quãng nữa, Cưu Ma Trí xuống ngựa, lấy một đoạn dây da buộc ngang lưng Đoàn Dự, tay trái lão xách ngang người chàng đi về phía rặng núi, hai gã còn lại giục ngựa chạy về hướng tây. Đoàn Dự trong bụng kêu khổ, nghĩ thầm: “Bá phụ có sai thiết giáp kỵ binh đuổi không ngừng bước, giỏi lắm cũng chỉ bắt hết được chín tên tùy tùng, không thể nào cứu được mình về.”

Cưu Ma Trí tay xách thêm một người nhưng chân vẫn nhẹ như không. Y càng lúc càng lên cao, suốt ba giờ liền toàn chạy xuyên qua rừng qua núi. Mặt trời đã ngả về phía tây, ánh nắng rọi từ bên trái tới, Đoàn Dự biết là Cưu Ma Trí đem mình về hướng bắc.

Đến lúc gần tối, Cưu Ma Trí gác Đoàn Dự lên một cành cây rồi lấy dây da trói vào, mắt cũng không thèm nhìn đến, xoay lưng lại lấy ra mấy miếng bánh khô đưa cho chàng, chỉ giải huyệt một cánh tay trái để chàng cầm được bánh mà ăn. Đoàn Dự duỗi tay trái ra, định vận khí dùng Thiếu Trạch Kiếm đả thương y, ngờ đâu các yếu huyệt trên người bị điểm, chân khí toàn thân bị phong tỏa, ngón tay điểm ra chẳng có chút nội kình nào.

Cứ như thế mấy ngày liền, Cưu Ma Trí xách chàng tiếp tục chạy về hướng bắc. Mấy lần chàng gợi chuyện, hỏi y tại sao lại bắt mình, đưa mình về phương bắc để làm gì, Cưu Ma Trí vẫn làm thinh không trả lời. Đoàn Dự trong lòng phẫn uất, nghĩ đến hôm trước bị cô em Mộc Uyển Thanh bắt giữ, tuy bị hành hạ khổ sở hơn nhiều nhưng không đến nỗi chán ngấy như thế này. Thà bị một cô gái xinh đẹp bắt giữ, hương thơm thoang thoảng, dù lâu lâu bị tát tai còn hơn ở trong tay một gã phiên tăng giả câm giả điếc, sướng khổ gì cũng phải nín chịu không nói cho ai hay được.

Đi hơn mười ngày, áng chừng đã ra khỏi biên giới Đại Lý, Đoàn Dự thấy y chuyển hướng quay qua phía đông, nhưng vẫn tránh đường lớn, vẫn chỉ đi ngoằn ngoèo trong núi non hoang dã. Hồi lâu thấy mặt đất càng lúc càng bằng phẳng, núi đồi càng lúc càng ít dần mà sông nước càng nhiều hơn, trong một ngày phải qua đò đến mấy bận. Sau cùng Cưu Ma Trí mua hai con ngựa, mỗi người cưỡi một con nhưng y vẫn không giải những huyệt đạo trên người chàng.

Có lần Đoàn Dự đi đại tiện đã tính: “Nếu như ta sử dụng Lăng Ba Vi Bộ, gã Phiên tăng này chưa chắc gì đã đuổi kịp.” Thế nhưng chàng chỉ đi được hai bước, chân khí bị chặn lại ở những huyệt bị điểm, lập tức ngã lăn ra. Chàng thở dài một tiếng, lồm cồm ngồi đậy, biết rằng cách này không thể làm được.

Tối hôm đó hai người nghỉ lại một khách điếm nhỏ trong thị trấn. Cưu Ma Trí bảo người hầu phòng mang nghiên bút giấy mực để lên trên bàn, khêu to ngọn đèn, đợi tên đó ra khỏi mới nói: “Đoàn công tử, tiểu tăng mời đại gia lên miền bắc, quả thực đắc tội, trong lòng thật áy náy không yên.” Đoàn Dự đáp: “Không dám, đại sứ quá lời.” Cưu Ma Trí nói tiếp: “Công tử có biết tiểu tăng làm thế này là có ý gì không?”

Đoàn Dự dọc đường chỉ nghĩ đến việc này, thấy trên bàn để bút nghiên giấy mực, mười phần cũng đoán được tám chín bèn nói: “Không được đâu.” Cựu Ma Trí hỏi lại: “Cái gì mà không được?” Đoàn Dự đáp: “Ngươi ái mộ kiếm pháp Lục Mạch Thần Kiếm của họ Đoàn ta, định ép ta viết ra cho ngươi chứ gì? Cái đó không thể được.” Cưu Ma Trí lắc đầu: “Đoàn Công tử hiểu lầm rồi. Năm xưa tiểu tăng có ước hẹn với Mộ Dung tiên sinh, định mượn Lục Mạch Thần Kiếm Kinh của quí môn cho ông ta xem một lần. Lời hẹn đó chưa hoàn thành, trong lòng lúc nào cũng canh cánh lo âu. Cũng may Đoàn công tử thuộc lòng đồ hình, tiểu tăng không biết cách nào hơn đành phải đem công tử đến trước mộ ông ta thiêu sống, cho khỏi thất tín với người xưa. Thế nhưng công tử là rồng phượng trong loài người, giữa chúng ta không có oán thù gì nhau, lẽ nào tiểu tăng lại làm hại công tử? Thành ra có một kế vẹn toàn cho cả đôi bên, công tử chỉ cần đem kinh văn đồ phổ chép lại, đừng giấu giếm chút nào, tiểu tăng nhất quyết không ghé mắt qua, lập tức gói chặt đem tới trước mồ Mộ Dung tiên sinh hỏa hóa để hoàn thành tâm nguyện, sau đó sẽ cung kính tiễn công tử trở về Đại Lý.”

Ý này khi Cưu Ma Trí vừa mới bước chân vào chùa Thiên Long đã nói, lúc đó bọn Bản Nhân cũng đã toan bằng lòng, cả Đoàn Dự cũng thấy xuôi tai. Thế nhưng về sau Cưu Ma Trí đánh lén Bảo Định Đế, rồi lại bắt giữ mình, ra tay chẳng có gì quang minh chính đại, khi trốn tránh truy binh thì đủ các ngụy kế, đối với sự sinh tử an nguy của chín tên bộ thuộc hoàn toàn không coi vào đâu, bao nhiêu tàn ác gian trá đã lộ cả ra rồi, Đoàn Dự làm sao mà tin nổi? Chàng trong bụng đã nghĩ bọn Nam Hải Ngạc Thần kia xưng là Tứ Đại Ác Nhân mà xem ra phẩm cách còn hơn xa gã hòa thượng Thổ Phồn đội lốt “thánh tăng” này. Chàng tuy chưa từng trải việc đời nhưng hơn hai chục ngày qua đã suy nghĩ việc này tới nơi tới chốn, bèn đáp: “Cưu Ma Trí đại sư, lời nói của ông không đánh lừa được ta đâu”

Cưu Ma Trí chắp tay nói: “A Di Đà Phật, việc này là do tiểu tăng muốn thử tín một lời năm xưa đã hứa với Mộ Dung tiên sinh, không lẽ giữ lời hứa này lại bỏ lời hứa kia hay sao?” Đoàn Dự lắc đầu nói: “Ông bảo năm xưa hứa với Mộ Dung tiên sinh, thật hay giả nào ai biết được? Ông được đồ phổ Lục Mạch Thần Kiếm rồi thể nào chả đọc kỹ một lần, có thật đem đốt trước mồ Mộ Dung tiên sinh không ai mà biết? Dẫu có phần hóa thật chăng nữa, người thông minh tài trí như thánh tăng, đọc đi đọc lại vài lần không lẽ không nhớ được hay sao? Có khi còn sợ nhớ sai, đem sao lại một bản rồi mới đốt không chừng.”

Cưu Ma Trí hai mắt lóe lên, hầm hầm nhìn Đoàn Dự; nhưng chỉ trong giây lát, sắc mặt trở lại từ hòa, chậm rãi nói: “Công tử với tiểu tăng đều là đệ tử Phật môn, lẽ nào lại dối trá như thế, tội nghiệt, tội nghiệt! Bất đắc dĩ mà tiểu tăng đành phải ép buộc, âu cũng chỉ vì muốn cứu mạng công tử, xin đừng trách.” Nói xong lão đưa tay trái ra, nhẹ nhàng để lên ngực Đoàn Dự nói: “Khi nào công tử không còn chịu nổi, bằng lòng chép lại kinh này, chỉ cần gật đầu một cái tiểu tăng sẽ buông tay ngay.”

Đoàn Dự gượng cười đáp: “Ta không chép kinh, ngươi sẽ không giết ta. Còn như nếu ta chép kinh cho ngươi, lúc đó đời nào người để cho ta sống nữa? Ta chép kinh có khác gì tự sát? Cưu Ma Trí đại sư, cái chỗ đó mười ba ngày trước ta đã nghĩ đến rồi.”

Cưu Ma Trí thở dài một tiếng, niệm: “Ngã Phật từ bi!” Y nhả kình lực nơi bàn tay, nghĩ thầm luồng lực đạo này truyền vào huyệt Đản Trung thì toàn thân Đoàn Dự như có kiến cắn, khổ sở khổ mà chịu nổi. Gã là công tử quen được nuông chiều, miệng thì nói cứng nhưng nếu bị hành hạ chết đi sống lại tất phải chịu thua. Ngờ đâu kình lực vừa nhả ra, lập tức biến đi đâu mất không thấy tăm hơi. Y kinh hãi lập tức thúc đẩy mạnh thêm, lần này nội lực mất mát còn nhanh hơn, tiếp theo chân khí trong người cuồn cuộn đổ ra. Cưu Ma Trí hết hồn, tay phải đẩy mạnh lên vai Đoàn Dự. Chàng “A” lên một tiếng, ngã lăn ra giường, đầu đụng mạnh vào tường.

Cưu Ma Trí vốn đã nghi Đoàn Dự học Hóa Công Đại Pháp của Tinh Tú lão quái, nhưng dù chính lão quái nếu đã bị phong tỏa yếu huyệt cũng không thể thi triển võ công được. Đằng này y vừa phát kình thì nội lực của mình liền tuôn vào huyệt Đản Trung của đối phương. Hiện tượng này chẳng khác nào hôm trước toàn thân Đoàn Dự không cử động gì được, há hốc mồm để cho con Mãng Cổ Chu Cáp chui tọt vào trong bụng, huyệt đạo trên thân thể bị đóng và Bắc Minh thần công không liên can gì đến nhau.

Đoàn Dự rên rỉ ngồi dậy hậm hực nói: “Uống cho ngươi tự xưng mình là cao tăng, cao tăng gì mà vừa ra tay đã đánh người?” Cưu Ma Trí gằn giọng: “Môn Hóa Công Đại Pháp của người do ai truyền thụ?” Đoàn Dự lắc đầu: “Hóa Công Đại Pháp tàn bạo đối với cả trời lẫn vật, khác nào đem nghìn vàng vứt dưới đất, coi vật quí giá không ra gì, chẳng nực cười ru? Ha ha?”. Mấy câu này là chàng dẫn trong quyển trục lấy được trong thạch động.

Cưu Ma Trí không hiểu ý tứ ra sao nhưng không dám đụng tới người chàng nữa. Trước đây y điểm các huyệt Thần Phong, Đại Chùy, Huyền Khu, Kinh Môn của chàng nào có thấy gì đâu, mà đây điểm huyệt Đản Trung lại phát sinh quái sự. Thằng lỏi này võ công thật là quái dị, không thể nào hiểu nổi, chắc môn công phu này từ Nhất Dương Chỉ và Lục Mạch Thần Kiếm biến hóa ra, có điều chỉ mới học được chút vỏ ngoài nên không biết sử dụng. Nếu thực như thế thì võ học họ Đoàn Đại Lý càng đáng thèm thuồng hơn. Y đột nhiên giơ chưởng lên, sử một chiêu Hỏa Diệm Đao cách không, chém đứt một mảnh chiếc khăn thư sinh trên đầu Đoàn Dự, quát lớn: “Ngươi không viết thật chăng? Ngọn đao này ta chỉ cần chém thấp xuống nửa thước thì đầu ngươi có còn không?”

Đoàn Dự sợ lắm, nghĩ bụng nếu như y nổi trận lôi đình thật, lại móc một con mắt hay chặt một cánh tay mình thì biết làm sao đây? Trên đường đi chàng đã suy tính rất nhiều nên mấy câu nghĩ sẵn lập tức bật ra: “Nếu như ta bị bức bách quá đỗi thì sẽ viết bậy viết bạ, không đúng hẳn. Nếu như người làm hại đến thân thể ta, ta sẽ hận ngươi thấu xương, khi viết kiếm phổ sẽ thêm thắt đủ thứ. Nếu kiếm phổ ta chép mà ngươi niêm phong ngay không nhìn đến, đem đến trước mồ Mộ Dung tiên sinh phần hóa, dù đúng dù sai cũng không liên quan gì đến ngươi. Ta có viết lăng nhăng thì cũng là đánh lừa vong hồn Mộ Dung tiên sinh thôi, y ở cõi âm rủi như luyện trật chắc cũng không đến nỗi tẩu hỏa nhập ma, đâu có trách nhà ngươi được.” Nói xong chàng làm bộ đi đến trước bàn, lấy giấy bút ra định viết.

Cưu Ma Trí giận lắm, mấy câu của Đoàn Dự vạch hết ý đồ đánh lừa để lấy kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm của y, đồng thời cũng nói rõ ràng nếu y bức bách quá, kiếm phổ viết ra sẽ thiếu đầu thiếu đuôi, lại nhiều đoạn láo lếu thì phỏng có ích gì, đọc vào chỉ thêm có hại. Y ở chùa Thiên Long đấu kiếm hai lần, chiêu thức Lục Mạch Thần Kiếm giả thật thế nào y nhìn là biết ngay. Thế nhưng yếu chỉ của lộ kiếm pháp đó là ở nội lực, khó mà phân biệt được. Y thẹn quá hóa giận, nổi điên chém ra một đòn Hỏa Diệm Đao, nghe loẹt một tiếng nhỏ, cây bút Đoàn Dự cầm trong tay bị chặt đứt đôi.

Đoàn Dự còn đang cười sằng sặc, Cưu Ma Trí bèn quát lớn: “Tặc tiểu tử, Phật gia có lòng tốt định tha mạng cho ngươi, ngươi vẫn chấp mê không tỉnh ngộ. Để ta xách ngươi tới trước mồ Mộ Dung tiên sinh thiêu sống, kiếm phổ ngươi nhớ trong bụng có giả được hay chăng?” Đoàn Dự cười đáp: “Tới khi sắp chết ta sẽ cố ý nhớ sai mấy chiêu kiếm pháp. Đúng, ta cứ thế mà làm, từ giờ trở đi ta quyết nhớ sai, càng nhớ càng sai, đến khi nào chính ta cũng chẳng còn biết mình là ai.”

Cưu Ma Trí hầm hầm trừng mắt nhìn chàng, ánh mắt tóe lửa, hận không thể dùng môn Hỏa Diệm vô hình đao chém đứt cổ tên tiểu tử này cho xong. Từ đó hai người chỉ đi về hướng đông, đến hơn hai chục ngày, Đoàn Dự nghe thấy tiếng người nói trên đường đi bắt đầu thánh thót dịu dàng, gia vị trong các món ăn cũng ít cay hơn.

Hôm đó đến ngoài thành Tô Châu, Đoàn Dự nghĩ thầm: “Có lẽ sắp đến nơi an nghỉ của Mộ Dung Bác rồi. Phiên tăng không ép ta chép kiếm phổ được, chắc thế nào cũng giết mình. Nhưng biết đâu trước mồ của Mộ Dung Bác, trước khi giết ta y lại chẳng hành hạ một chập khiến cho ta sống dở chết dở, y làm gì mà chẳng được”. Chàng thấy chạnh lòng không dám nghĩ thêm, ngẩng đầu lên ngắm phong cảnh. Tiết trời đang độ tháng ba, ngõ hạnh đầy hoa, ven hồ liễu rủ, gió xuân phơi phới thổi nhẹ bên mình khiến cho người chàng như say sưa ngây ngất, Đoàn Dự bất giác trong lòng sảng khoái, cất tiếng ngâm: “Sóng gợn gợn, Liễu lơ thơ, Hương cỏ xa đưa lại, Chiều xuống hoa bay mờ.” (Ba diểu diểu, Liễu y y, Cô thôn phương thảo viễn, Tủ nhật hạnh hoa phi.)

Cưu Ma Trí cười lạt nói: “Chết đến gáy mà mi vẫn còn ngâm thơ vịnh phú nhàn nhã thế ư?” Đoàn Dự cười đáp: “Sắc thân vốn là vô thường, đã còn là vô thường tức là còn khổ. Thiên hạ có ai mà không chết. Mi sống thêm mấy năm nữa có hơn ta được cái gì không?”

Cưu Ma Trí không thèm nói nữa, quay ra hỏi thăm những người qua đường Tham Hợp trang ở đâu. Thế nhưng y hỏi liên tiếp bảy tám người chẳng một ai biết cả. Hai bên ngôn ngữ bất đồng nên lại càng thêm rắc rối. Mãi sau mới có một ông già bảo: “Trong ngoài thành Tô Châu, chẳng có trang viện nào tên là Tham Hợp Trang cả. Có lẽ hòa thượng nghe lầm chăng?”

Cưu Ma Trí nói: “Lão trượng có biết Mộ Dung đại trang chúa ở đâu không?” Ông già đáp: “Trong thành Tô Châu này chỉ có họ Cố, họ Lục, họ Thẩm, họ Trương, họ Chu, họ Văn… làm gì có đại trang chúa họ Mộ Dung? Tôi chưa nghe thấy bao giờ.”

Cưu Ma Trí chưa biết tính sao, bỗng nghe từ một con đường nhỏ phía tây có người nói: “Nghe nói họ Mộ Dung ngụ ở ngoài thành, đi về phía tây chừng 30 dặm, chỗ đó gọi là Yến Tử Ổ. Chúng ta tới đó xem sao.” Lại nghe một người khác nói: “Này, sắp đến nơi rồi. Ta phải cẩn thận mới được.”, giọng nói vùng trung châu Hà Nam. Hai người đó nói rất khẽ nhưng Cưu Ma Trí nội công rất cao nên nghe rõ mồn một, trong bụng tính thầm: “Phải chăng hai người này chủ tâm nói cho ta nghe? Nếu không thì sao lại trùng hợp đến thế?”. Y liếc mắt ngó qua, thấy một người khí vũ hiên ngang, vận đồ tang phục, còn một người vừa thấp lủn thủn vừa gầy đét chẳng khác gì bị ho lao.

Cưu Ma Trí vừa liếc qua biết ngay hai người này có võ công, chưa biết có nên bắt chuyện không. Bỗng Đoàn Dự lên tiếng gọi to: “Hoắc tiên sinh, Hoắc tiên sinh, ông cũng ở đây à?” Thì ra người thấp lủn thủn đó chính là Kim toán bàn Thôi Bách Tuyền, còn người kia là sư điệt ông Truy hồn thủ Quá Ngạn Chi.

Hai người đó từ Đại Lý ra đi, quyết tâm báo thù cho Kha Bách Tuế. Mặc dù họ biết rõ khó có thể địch lại nhà Mộ Dung, mối thù không đội trời chung vị tất đã trả được, nhưng cũng nhất quyết tìm đến Tô Châu. Họ dò hỏi biết được họ Mộ Dung ở tại Yến Tử Ổ nhưng Mộ Dung Bác tạ thế đã lâu, làm sao có thể sát hại Kha Bách Tuế được, hẳn là một người nào khác trong nhà Mộ Dung. Hai người thấy việc báo cừu xem ra sáng sủa hơn, đi đến bờ hồ lại gặp Cưu Ma Trí và Đoàn Dự.

Thôi Bách Tuyền chợt nghe tiếng Đoàn Dự gọi rất đỗi ngạc nhiên, vội vàng đi tới, thấy một nhà sư ngồi trên lưng ngựa, tay trái nắm dây cương con ngựa Đoàn Dự đang cưỡi, còn Đoàn Dự thì hai tay thẳng đơ xuôi theo bên mình, hiển nhiên đã bị điểm huyệt, lạ lùng hỏi: “Tiểu vương gia đấy ư? Này, đại hòa thượng, sao ông lại làm khó vị công tử này? Ông có biết đây là ai không?”

Thực ra Cưu Ma Trí chẳng coi hai người vào đâu nhưng lão đã biết khó lòng tìm ra chỗ ở của Mộ Dung tiên sinh từ lúc chưa đến Trung Nguyên. Nay có bọn này dẫn lối cho kể cũng là may, bèn nói: “Ta cũng đến chỗ Mộ Dung tiên sinh đây. Phiền hai vị dẫn đường cho!”

Thôi Bách Tuyền hỏi: “Xin hỏi pháp danh của đại hòa thượng là gì? Sao lại làm khó dễ Đoàn tiểu vương gia? Đến phủ Mộ Dung có việc gì?” Cưu Ma Trí đáp: “Tới đó tự khắc sẽ biết.” Thôi Bách Tuyền lại hỏi: “Phải chăng đại sư là chỗ bạn thân với nhà Mộ Dung?”

Cưu Ma Trí đáp: “Đúng thế, Mộ Dung tiên sinh ở Tham Hợp trang, không biết đi về ngả nào? Hoắc tiên sinh có biết thì chỉ giùm cho!” Cưu Ma Trí thấy Đoàn Dự gọi y là “Hoắc tiên sinh” cũng tưởng y họ Hoắc thật. Thôi Bách Tuyền gãi đầu, quay sang Đoàn Dự hỏi: “Tiểu vương gia, để tôi giải khai huyệt đạo trên tay tiểu vương gia rồi tính sau.” Y tiến lên mấy bước, đưa tay định giải huyệt cho Đoàn Dự.

Đoàn Dự nghĩ thầm “Cưu Ma Trí võ công ghê gớm, trên đời này sợ là không ai địch nổi. Bọn Thôi, Quá tất nhiên so với lão không thấm vào đâu. Nếu hai người này lại lớ ngớ đến cứu mình thì chẳng những không ăn thua gì mà chết uống thêm hai mạng”. Chàng muốn họ biết đường chạy trốn bèn nói: “Khoan đã, vị đại sư đây một thân một mình đánh bại bá phụ ta và năm tay cao thủ nước Đại Lý, bắt ta đem tới đây. Đại sư là bạn cố tri với Mộ Dung tiên sinh, nay đưa ta đến hỏa thiêu trước mồ Mộ Dung tiên sinh để tế vong hồn người quá cố. Hai vị không liên quan gì đến Mộ Dung Cô Tô, mau mau tránh ra nơi khác.”

Thôi Bách Tuyền và Quá Ngạn Chi nghe lão đại sư này đánh bại Bảo Định Đế cùng mấy cao thủ nước Đại Lý quả nhiên chột dạ, khi nghe lão là bạn với nhà Mộ Dung thì lại càng khiếp sợ. Nhưng Thôi Bách Tuyền nghĩ mình ẩn náu trong phủ Trấn Nam Vương hơn một chục năm, hôm nay tiểu vương gia bị nạn lẽ nào làm lơ không ngó ngàng đến? Vả lại đã đến Cô Tô rồi, cái mạng mình coi như đã xong, dẫu chết dưới những quân bàn toán cho đúng kiểu Mộ Dung, hay chết trong tay người khác thì có khác gì nhau. Nghĩ vậy Thôi liền thò tay vào bọc lấy ra một cái bàn tính đúc bằng hoàng kim sáng rực, giơ cao lên, lắc kêu loảng xoảng rồi bảo Cưu Ma Trí: “Đại hòa thượng, nếu Mộ Dung tiên sinh là bạn của ông thì tiểu vương gia đây cũng là bạn của ta, ta khuyên ông nên thả y ra đi.” Quá Ngạn Chi cũng lấy nhuyễn tiên quấn ở quanh bụng ra cầm trên tay, hai người cùng xông vào đầu ngựa của Cưu Ma Trí.

Đoàn Dự kêu lên: “Hai vị chạy mau lên, đánh không lại y đâu.”

Cưu Ma Trí cười nhạt nói: “Muốn động thủ thực chăng?” Thôi Bách Tuyền đáp: “Đánh thế này ta biết là vuốt râu hùm, đánh không lại thực nhưng cũng thử một phen, sinh tử… ối ối….”

Chẳng biết y định nói “sinh tử” cái gì, Cưu Ma Trí đã vươn tay giật được nhuyễn tiên của Quá Ngạn Chi, kế đó nghe vù một tiếng, hất ngược nhuyễn tiên lại cuốn lấy chiếc bàn toàn trong tay Thôi Bách Tuyền, vung tay một cái. Hai món binh khí cùng bay tung ra mặt hồ, tưởng đâu sẽ chìm xuống đáy nước. Không ngờ Cưu Ma Trí sử kình xảo diệu, cán của nhuyễn tiên vòng một vòng, quấn luôn vào một cành liễu rủ trên mặt nước, cả cành cây lẫn nhuyễn tiên run rẩy không ngừng. Chiếc bàn toán nhấp nhô chạm lên mặt nước thành những vòng tròn lan mỗi lúc một rộng.

Cưu Ma Trí chắp tay nói: “Phiền đại giá hai vị dẫn đường cho!” Thôi, Quá hai người ngơ ngác nhìn nhau, không biết làm thế nào. Cưu Ma Trí lại nói tiếp: “Nếu hai vị không dẫn đường thì xin chỉ cho biết Yến Tử Ổ, Tham Hợp Trang đi về ngả nào, đường lối ra sao, để tiểu tăng tự mình tìm tới cũng được.” Thôi Quá thấy võ công y vô cùng lợi hại mà vẻ mặt lại hết sức khiêm hòa, quả thực có muốn nổi giận cũng không xong mà không nổi giận thì lại càng không được.

Giữa lúc ấy bỗng nghe có tiếng rạt rào, trên mặt hồ nước biếc một con thuyền nhỏ đang rẽ nước lướt tới. Trên thuyền một thiếu nữ áo xanh cầm đôi mái chèo khuấy nước, miệng hát véo von bài hát hái sen, tiếng hát thánh thót dịu dàng khiến người nghe phải vui lây.

Đoàn Dự khi ở Đại Lý từng đọc văn chương thơ phú của cổ nhân tán tụng phong cảnh nhân vật Giang Nam. Nay chàng được nghe khúc hát này tâm hồn bất giác lâng lâng như lạc vào cõi mộng. Chỉ thấy cô gái kia hai cánh tay nhỏ nhắn trắng muốt như ngọc, phản chiếu xuống hồ nước xanh biếc tưởng chừng như sáng lóe lên. Thôi Bách Tuyền và Quá Ngạn Chi tuy đại địch trước mặt mà cũng không khỏi đưa mắt nhìn cô gái mấy lần.

Chỉ có Cưu Ma Trí nhìn mà như không vào mắt, nghe mà như không lọt tai, hỏi tiếp: “Nếu hai vị không chịu chỉ Tham Hợp trang cho thì tiểu tăng đành phải cáo từ.”

Lúc đó thiếu nữ đã chèo thuyền đến gần bờ. Nàng nghe Cưu Ma Trí nói vậy liền cất tiếng: “Chẳng hay đại sư phụ muốn đến Tham Hợp trang có việc gì?” Giọng nàng cực kỳ thanh tao êm ái khiến ai nghe cũng thấy lọt tai. Cô gái đó tuổi chừng mười sáu mười bảy, nét mặt ôn nhu, thân hình thanh tú.

Đoàn Dự nghĩ thầm: “Không ngờ con gái Giang Nam lại xinh đẹp văn nhã đến thế”. Thực ra cô gái này không đẹp lắm, so với Mộc Uyển Thanh còn kém một chút, thế nhưng mặt mũi được tám phần còn vẻ ôn nhu đến mười hai phần bù lại, nên so với những mỹ nhân mười phần xinh đẹp cũng không thua kém chút nào.

Cưu Ma Trí hỏi: “Tiểu tăng muốn đến Tham Hợp Trang, liệu tiểu nương tử có thể chỉ đường cho được chăng?” Thiếu nữ mỉm cười hỏi lại: “Cái tên Tham Hợp trang người ngoài không ai biết đến. Đại sư nghe đâu mà biết?” Cưu Ma Trí đáp: “Tiểu tăng là bạn phương xa với Mộ Dung tiên sinh. Hôm nay đến tế mộ tiên sinh cho vẹn lời ước năm xưa, lại cũng mong được chiêm ngưỡng Mộ Dung công tử một lần.” Cô gái ngẫm nghĩ rồi đáp: “Thế thì quả là không may. Hôm kia Mộ Dung công tử mới ra đi. Giả tỷ đại sư đến đây trước ba hôm thì gặp được.” Cưu Ma Trí nói: “Tiểu tăng vô duyên cùng công tử, nghĩ cũng đáng buồn. Song tiểu tăng từ Thổ Phồn đường xa muôn dặm lặn lội về đến Trung Nguyên, chỉ mong được tới trước mồ Mộ Dung tiên sinh lạy một lạy hoàn thành tâm nguyện năm xưa.” Thiếu nữ đáp: “Nếu đại sư là bạn của Mộ Dung tiên sinh thì xin mời vào dùng trà, tiểu nữ sẽ vào báo tin, có nên chăng? Cưu Ma Trí đáp: “Tiểu nương tử là người thế nào trong phủ công tử? Xưng hô sao cho phải phép?”.

Cô gái cười khúc khích nói: “Ôi chao! Tiểu nữ chỉ là người gảy đàn thổi sáo hầu hạ công tử, tên gọi A Bích. Xin đại sư đừng khách sáo kêu bằng đại nương tử tiểu nương tử chi hết, cứ gọi thẳng tên A Bích là được rồi.” Nàng nói giọng Tô Châu vốn dĩ khó nghe, thế nhưng là thị tì trong một đại thế gia chắc bình thời nghe tiếng quan thoại cũng nhiều, nên có xen nhiều tiếng phổ thông. Cưu Ma Trí và Đoàn Dự cố gắng cũng hiểu được. Cưu Ma Trí cung kính đáp: “Không dám.”

A Bích nói: “Từ đây vào Cầm Vận Tiểu Trúc trong Yến Tử Ổ toàn là đường thủy. Quý vị muốn vào thì xuống thuyền để tiểu nữ chở đi, có nên chăng?” Mỗi câu nói cô gái lại thêm vào “có nên chăng?”, vừa có vẻ ân cần hỏi han, lại như bàn thảo khiến cho người nghe khó mà từ chối.

Cưu Ma Trí đáp: “Thế thì xin phiền cô nương.” Y nắm tay Đoàn Dự nhẹ nhàng nhảy xuống, chiếc thuyền nhỏ chỉ đằm xuống một chút chứ không tròng trành chút nào. A Bích nhìn Cưu Ma Trí và Đoàn Dự mỉm cười tựa hồ thán phục võ công của hai người.

Quá Ngạn Chi khẽ hỏi Thôi Bách Tuyền: “Sư thúc, mình tính sao đây?” Hai người cốt tìm đến nhà Mộ Dung để báo thù nhưng chưa tới nơi đã xảy ra mấy vụ khó xử, vẫn còn nơm nớp.

A Bích tươi cười nói: “Hai vị đại gia đã đến Tô Châu, nếu không có việc gì gấp xin mời vào tệ xá uống chén trà nhạt, ăn chút điểm tâm. Chiếc thuyền này tuy nhỏ, nhưng thêm vài người nữa cũng không chìm đâu mà sợ.” Nàng vừa nói vừa ghé thuyền vào bên cây liễu, giơ bàn tay xinh xắn ra với lấy cây nhuyễn tiên cùng chiếc bàn toán, tiện tay nàng gẩy bàn tính nghe lách cách,

Đoàn Dự nghe vui tai buột miệng hỏi: “Cô gẩy khúc Hái dâu phải không?” Thì ra cô gái thuận tay gẩy mấy viên bàn toán, nặng nhẹ nhanh chậm cũng thành tiết tấu, nghe ra hai câu linh động trong bài “Hái dâu”. A Bích mỉm cười nói: “Công tử tinh thông âm luật, vậy đàn thử một khúc xem sao?” Đoàn Dự thấy nàng ngây thơ hồn nhiên, vui vẻ dễ thân cận cũng cười đáp: “Tôi không biết gẩy đàn bằng bàn toán.” Rồi chàng quay lại bảo Thôi Bách Tuyền: “Hoắc tiên sinh! Cái bàn toán của tiên sinh mà cô nương đây gẩy nghe cũng vui tai đấy chứ?” Thôi Bách Tuyền cũng bật cười: “Quả đúng thế! Cô nương thực là người tao nhã. Cái món đồ chơi đầy tục khí của ta vào tay cô nương lại thành ra nhạc khí được.” A Bích đáp: “Chao ôi! Quả là không phải chút nào. Cái này của Hoắc đại gia đấy sao? Chắc tiên sinh giàu có lắm, cái bàn toán cũng đúc bằng vàng. Hoắc đại gia, xin trả lại ông đây.” Nàng vừa nói vừa cầm cái bàn toán giơ lên. Thôi Bách Tuyền đứng trên bờ không với tới, y cũng không thể bỏ món vật bất ly thân, bèn nhẹ nhàng nhảy lên đầu thuyền, đưa tay ra với lấy rồi quay đầu lại trừng mắt nhìn Cưu Ma Trí một cái. Cưu Ma Tri vẻ mặt vẫn đầy vẻ từ hòa, mỉm cười tuyệt không lộ vẻ gì khó chịu.

A Bích tay trái cầm cán cây nhuyễn tiên giơ lên cao, năm ngón tay phải vuốt xuôi xuống, móng tay chạm vào những đốt nổi gồ lên phát ra những tiếng tinh tang khi cao khi thấp chẳng khác gì người gảy đàn tì bà. Món binh khí đã từng ngang dọc đại giang nam bắc, chiến đấu với biết bao anh hùng hắc bạch, nay vào bàn tay trắng trẻo mềm mại của nàng lại biến thành nhạc khí.

Đoàn Dự lại reo lên: “Tuyệt diệu! Thật là tuyệt diệu! Cô nương gảy khúc nữa đi!” A Bích quay sang Quá Ngạn Chi nói: “Cây nhuyễn tiên của đại gia phải không? Tiểu nữ đem ra nghịch thực vô lễ quá. Đại gia cũng xuống thuyền đi, rồi tiểu nữ bóc cho mấy củ hồng lăng tạ lỗi.” Quá Ngạn Chi nóng lòng báo cừu cho sự phụ, căm thù bè lũ nhà Mộ Dung thấu xương nhưng thấy tiểu cô nương này xinh tươi, chất phác, không có vẻ gì là nham hiểm độc ác nên tuy thù hằn đầy ruột mà không thể phát cáu. Ý nghĩ thầm: “Thị dẫn ta về nhà thật hay biết mấy, thể nào mình cũng giết được vài đứa tạm báo thù cho ân sư.” Nghĩ thế bèn gật đầu nhảy xuống thuyền.

A Bích quấn cây nhuyễn tiên lại đưa cho Quá Ngạn Chi, đoạn thả mái chèo xuống nước, quay thuyền bơi về hướng tây. Thôi Bách Tuyền và Quá Ngạn Chi đưa mắt nhìn nhau mấy lần. Hai người cùng nghĩ bụng: “Hôm nay mình vào hang cọp, không biết sống chết thế nào. Bọn Mộ Dung thủ đoạn ác độc vô cùng. Tiểu cô nương này nhỏ nhẹ dễ thương, xem ra không phải là giả dối, nhưng biết đâu chẳng phải là kế của họ dụ cho mình phóng tâm không đề phòng rồi thừa cơ hạ thủ?”.

Thuyền đi vòng vèo vài khúc quanh thì đến cái hồ lớn rộng bát ngát, mông mênh những nước cùng trời. Quá Ngạn Chi chột dạ nghĩ thầm: “Chắc là Thái Hồ đây. Ta và Thôi sư thúc đều không biết bơi, con bé này chỉ cần lật thuyền một cái là cả hai người mình làm mồi cho cá, còn nói gì đến việc báo cừu cho sự phụ nữa?”. Thôi Bách Tuyền cũng đã nghĩ đến chuyện đó, bèn nảy ra một ý: “Giả tỷ mình cầm mái chèo trong tay thì ả này có muốn lật thuyền cũng không phải dễ”, liền nói: “Cô nương, để ta giúp cô chèo thuyền. Cô cứ chỉ đường cho ta là được. “ A Bích cười nói: “Trời ơi! Tiểu nữ đâu dám thế? Công tử mà biết được thể nào cũng trách phạt là khinh mạn tân khách.” Thôi Bách Tuyền thấy nàng từ chối lại càng ngờ vực, cười nói: “Chẳng giấu gì cô nương, chúng tôi chỉ muốn nghe thêm vài khúc Nhuyễn Tiên Cầm tuyệt kỹ nữa. Chúng tôi là người thô lỗ, không phải như Đoàn công tử đầy tinh thông cả cầm kỳ thư họa.”A Bích nhìn Đoàn Dự cười nói: “Tiểu nữ đàn có ra gì đâu, sao dám gọi là tuyệt kỹ? Đoàn công tử phong nhã như thế, nghe sẽ cười bằng thích, chả đàn đâu.”

Thôi Bách Tuyền lấy cây nhuyễn tiên trong tay Quá Ngạn Chi đưa cho A Bích, miệng bảo nàng gẩy đàn, tay đưa ra đón lấy mái chèo. A Bích cười nói: “Thôi được, tiên sinh cho tôi mượn cả cái bàn tính để đánh nhịp.” Thôi Bách Tuyền ngấm ngầm nghĩ bụng: “Thu cả hai món khí giới của bọn mình, hay là có âm mưu gì đây?”. Nghĩ thì nghĩ vậy chứ đã đến nước này không tiện từ khước, đành cầm kim toán bàn đưa cho nàng. A Bích để chiếc bàn toán lên sàn thuyền trước mặt. Tay trái nàng giữ lấy chuỗi nhuyễn tiên, chân phải dậm lên một đầu cho dựng thẳng lên, năm ngón tay phải vừa bật vừa vê đi vuốt lại, cây nhuyễn tiên phát ra tiếng leng keng, tuy không trong trẻo vang dội bằng tiếng đàn tỳ bà nhưng nghe cũng thành nhạc điệu.

Năm ngón tay của A Bích vừa gẩy nhuyễn tiên vừa thỉnh thoảng khẩy chiếc bàn toán, những hạt toán châu leng keng hòa với tiếng tình tang của nhuyễn tiên, nghe càng thêm thú vị. Giữa lúc đó đôi chim én lượn qua đầu thuyền, bay về hướng tây. Đoàn Dự nghĩ thầm: “Nơi nhà Mộ Dung ở có tên là Yến Tử Ổ, chắc hẳn chim én nhiều lắm”.

Lại nghe A Bích cất tiếng hát, âm điệu thật là ôn nhu tình tứ. Đoàn Dự nghe giọng hát du dương mà lòng những bâng khuâng như say như tỉnh. Chàng lẩm bẩm một mình: “Nếu mình suốt đời ở tận cõi thiên nam thì làm sao có được những giờ phút thần tiên như thế này? Mộ Dung công tử có người nữ tì như thế này tất không phải hạng tầm thường.”

A Bích hát xong một khúc rồi đưa bàn toàn và nhuyễn tiên trả lại cho Thôi Quá hai người, cười nói: “Hát chẳng ra gì, chỉ tổ làm trò cười cho quý khách. Hoắc đại gia, xin chèo vào con lạch nhỏ phía bên trái. Đúng rồi!”

Thôi Bách Tuyền thấy nàng trả lại binh khí cho mình mới thấy yên bụng, bèn lái mũi thuyền theo tay nàng trỏ, đi vào lạch nước đầy sen mọc. Nếu không có A Bích trỏ nẻo thì không ai ngờ giữa chỗ lá sen chi chít lại là lối thuyền đi. Thôi Bách Tuyền chèo một hồi, A Bích lại chỉ một con đường khác: “Bơi qua phía kia kìa.” Phía đó mặt nước đầy những cây và trái hồng lăng. Lẫn trong sóng biếc chập chờn, lăng đỏ lá xanh quả đẹp không thể tả. A Bích thuận tay hái hồng lăng chia cho mọi người.

Hai tay Đoàn Dự tuy vẫn cử động được nhưng sau khi huyệt đạo bị điểm rồi không có chút hơi sức nào, đến cái vỏ hồng lăng cũng không bóc được. A Bích cười nói: “Công tử không phải là người Giang Nam, không biết bóc vỏ hồng lăng, để tiểu nữ bóc cho.”

Nàng bóc luôn mấy trái đặt vào tay Đoàn Dự. Ruột loại quả này trắng bóng tinh khiết, Đoàn Dự cầm bỏ vào miệng ăn, vừa ngọt vừa thơm, chàng cười bảo A Bích: “Hồng lăng này ăn bùi mà không ngấy, ngọt ngào như khúc hát của cô nương.” A Bích hai má ửng hồng, cười nói: “Đa tạ công tử. Đem điệu hát ví với trái hồng lăng, nay tiểu nữ mới lần đầu nghe đến.”

Thuyền chưa qua khỏi lạch hồng lăng, A Bích lại chỉ đường vào một vùng có lau sậy rậm rạp. Cả đến Cưu Ma Trí cũng phải e dè, lưu tâm nhớ lấy nẻo đi, để đề phòng lúc về biết lối mà ra. Mọi người đưa mắt nhìn quanh thấy mặt hồ toàn là lá sen, lá lăng, lau sậy phất phơ trên mặt nước chỗ nào cũng giống chỗ nào. Hơn nữa chỉ một cơn gió là lá hoa trên mặt nước lại biến đổi đủ chiều, mất hết dấu vết, dù có nhở kỹ đến mấy thì chỉ chốc lát cục diện đã hoàn toàn khác hẳn. Cưu Ma Trí, Thôi Bách Tuyền và Quá Ngạn Chi ba người đều chăm chăm nhìn A Bích, xem nàng lấy gì làm mốc ghi đường, nhưng chỉ thấy nàng cứ điềm nhiên hái trái hồng lăng mà chẳng cần để ý gì. Thuyền đến chỗ quanh, chỗ rẽ là nàng thuận miệng chỉ bảo, tựa hồ những lối dọc ngang trên mặt hồ nàng rõ như lòng bàn tay, sinh ra đã biết.

Thuyền quay ngang rẽ dọc không biết bao nhiêu chỗ, vào khoảng giờ mùi thì xa xa giữa rặng liễu xanh om lộ ra một góc rèm cửa. A Bích nói: “Đến nơi rồi. Hôm nay làm nhọc sức Hoắc tiên sinh bơi thuyền đến quá nửa ngày.” Thôi Bách Tuyền cười gượng đáp: “Cứ có hồng lăng ăn, lại được nghe hát, dẫu có phải chèo thuyền mười năm tám năm cũng không mệt.” A Bích vỗ tay reo: “Tiên sinh muốn nghe hát, muốn ăn lăng thì có gì là khó? Cứ ở luôn trên hồ này không ra nữa là xong.” Thôi Bách Tuyền nghe cô ta bảo “không ra nữa là xong” bất giác giật mình, giương đôi mắt ti hí nhìn cô ta một hồi, chỉ thấy lúc nào nàng cũng tươi cười dễ dãi, không lộ vẻ tâm cơ xảo trá. Mặc dù vậy, Thôi vẫn không vững dạ chút nào.

A Bích đón lấy mái chèo, gạt thuyền vào dưới bóng liễu, đến chỗ có cành cây tùng rủ xuống mặt nước. Nàng vừa buộc thuyền xong, chợt nghe tiếng một con chim nhỏ hót líu lo, giọng rất trong trẻo và vang dội. A Bích cũng bắt chước giọng chim ríu rít vài tiếng rồi quay lại mỉm cười: “Xin mời quí khách lên bờ.”

Mọi người lên bờ, trông vào thấy lưa thưa có bốn năm gian nhà nhỏ, dựng trên một khu đất chẳng hiểu là một hòn đảo nhỏ hay bán đảo. Các phòng ốc tuy bé nhỏ nhưng rất tinh nhã, trên biển ngạch đề hai chữ “Cầm Vận”, nét bút tiêu sái. Cưu Ma Trí hỏi: “Phải chăng đây là Tham Hợp Trang trong Yến Tử Ổ?” A Bích lắc đầu đáp: “Không phải! Chỗ này công tử dựng lên cho tiểu nữ ở, chật hẹp quê mùa không đáng để tiếp khách. Đại sư bảo muốn đến tế mộ Mộ Dung lão gia, tiểu nữ đâu dám tác chủ, nên thỉnh quý vị vào đây ngồi chờ, để đi hỏi A Châu tỉ tỉ.”

Cưu Ma Trí có vẻ không bằng lòng, nét mặt sầm xuống. Lão là hộ quốc pháp vương nước Thổ Phồn, địa vị cao sang biết chừng nào. Không chỉ quốc vương nước Thổ Phồn đem lòng kính trọng, mà sang đến triều đình Đại Tống, Đại Lý, Liêu Quốc, Tây Hạ, các vị vua chúa cũng phải lấy lễ thượng khách mà tiếp đãi lão. Huống chi lão là bạn cố tri với Mộ Dung tiên sinh, vì tình nghĩa mà thân hành đến tế mộ. Mộ Dung công tử đi vắng không biết đã đành, còn những người ở nhà cũng không mời lão vào đại sảnh tiếp đãi long trọng, lại để cho đứa tiểu tỳ đưa vào nhà riêng, thực là khinh bạc. Thế nhưng y thấy A Bích luôn miệng tươi cười, tuyệt không tỏ vẻ khinh mạn nên nghĩ thầm: “Con tiểu a đầu này chẳng biết gì, mình để ý đến nó làm chi?”. Nghĩ vậy lão trở lại nét mặt ôn hòa vui tươi.

Thôi Bách Tuyền hỏi: “A Châu tỉ tỉ là ai thế?” A Bích cười đáp: “A Châu là A Châu, chị ấy lớn hơn tiểu nữ một tháng nên phải gọi bằng tỉ tỉ đấy thôi. Ai bảo chị ấy lớn hơn một tháng làm gì? Như tiên sinh thì cần gì phải gọi A Châu là tỉ tỉ, nhưng nếu cứ gọi bằng tỉ tỉ thì chị ta cùng thích lắm đó.” Cô vừa dẫn mọi người vào nhà vừa nói liến láu một hồi, giọng nói trong trẻo như người tấu nhạc.

Vào đến nội sảnh, A Bích mời mọi người ngồi sau đó có người đầy tớ bưng trà lên. Đoàn Dự vừa cầm chén trà thì một mùi thơm ngát đưa lên mũi, nước trà màu xanh nhạt, cánh trà xanh biếc, nhỏ như hạt châu, trên mặt lá có lông nhỏ li ti. Thứ trà này chàng chưa thấy bao giờ. Chàng vừa nhập thử một hớp, miệng đượm mùi thơm, lưỡi đầy vị ngọt, Cưu Ma Trí và Thôi, Quá hai người thấy lá trà kỳ dị không dám uống. Loại trà tròn như hạt châu này là đặc sản trồng trên vùng núi cao phụ cận Thái Hồ, người sau gọi là Bích Loa Xuân. Đời Bắc Tống chưa có cái tên thanh nhã đó, dân vùng này chỉ gọi là “trà thơm phức” để ca tụng mùi hương đặc biệt. Cưu Ma Trí xưa nay chỉ ở Thổ Phồn và Tây Vực, quen uống trà sắc đen vị chát, giờ thấy thứ trà sắc xanh biếc, có lông ngờ là có chất độc.

Bốn món điểm tâm gồm có kẹo Mai Côi, bánh dẻo Phục Linh, bánh ngọt Phí Thúy, bánh bao bột hạt sen, cái nào cái nấy hình dáng tinh nhã tựa hồ như làm để bày cho đẹp chứ không phải để ăn. Đoàn Dự tấm tắc: “Mấy món điểm tâm trông đẹp thế này chắc là ngon lắm, nhưng thật chẳng nỡ lòng nào mà bỏ vào mồm.” A Bích mỉm cười nói: “Mời công tử dùng đi, trong nhà hãy còn nhiều.” Đoàn Dự án đến đâu lại trầm trồ khen ngợi đến đó, còn Cưu Ma Trí và Thôi, Quá hai người không dám ăn. Đoàn Dự thấy vậy trong lòng sinh nghi tự hỏi: “Gã Cưu Ma Trí này tự xưng là bạn thân của Mộ Dung Bác, sao lại dè dặt đến thế? Còn người trong nhà Mộ Dung đối đãi với y tựa hồ không có vẻ trịnh trọng là nghĩa gì?”

Cưu Ma Trí thật là người rất nhẫn nại, lão đợi Đoàn Dự uống trà và ăn điểm tâm đủ thứ mất đến nửa ngày, mới cất tiếng nói: “Bây giờ xin cô nương đi mời A Châu tỉ tỉ của cô đến cho!” A Bích cười nói: “Chỗ A Châu tỉ tỉ cách đây bốn quãng chín đường thủy, hôm nay đi không kịp nữa rồi. Bốn vị hãy ở đây một đêm, sáng mai tiểu nữ sẽ đưa các vị đến Thính Hương Thủy Tạ.” Thôi Bách Tuyền hỏi lại: “Bốn quãng chín đường thủy là nghĩa làm sao?” A Bích đáp: “Một quãng chín là chín dặm, hai quãng chín là mười tám dặm, bốn quãng chín là ba mươi sáu dặm. Ông lấy bàn toán ra tính là xong ngay.” Thì ra Giang Nam tỉnh lộ trình từng chín dặm một.

Cưu Ma Trí nói: “Giá biết thế này thì cô nương đưa chúng tôi đến thẳng Thính Hương Thủy Tạ có phải hay hơn không?” A Bích cười nói: “Tiểu nữ ở đây một mình không có ai trò chuyện, buồn chết đi được. Chẳng mấy khi có khách đến chơi, thế nào cũng lưu quý vị ở lại đây một hôm.”

Từ trước tới giờ Quá Ngạn Chi chỉ ngồi lầm lì không nói một câu, đột nhiên đứng phắt dậy, quát hỏi: “Thân nhân nhà Mộ Dung ở nơi nào? Quá Ngạn Chi này đến Tham Hợp Trang không phải để uống trà ăn bánh, cũng chẳng phải đến kể chuyện vui cho người nghe giải buồn, mà là đến giết người báo thù, đổ máu cùng gây án mạng. Họ Quá này đã đến nơi đây, không mong gì sống được mà ra về. Cô nương đi bảo cho chúng hay, ta là đệ tử của Kha Bách Tuế phái Phục Ngưu, hôm nay đến đây đòi món nợ máu của sư phụ.” Nói xong y vung nhuyễn tiên nghe lách cách, đánh vỡ tan một chiếc kỷ trà bằng gỗ đàn hương cùng một cái ghế bằng trúc Tương Phi. A Bích không sợ hãi mà cũng chẳng tức giận, chỉ nói: “Các vị anh hùng hào kiệt đến chơi với Mộ Dung công tử mỗi tháng mấy lần, cũng đã nhiều vị hùng hùng hổ hổ như Quá đại gia đây. Thân phận tiện tì như tiểu nữ có gì phải sợ…” Nàng chưa nói dứt câu, từ hậu đường một ông già đầu tóc bạc phơ chống gậy bước ra hỏi: “A Bích! Ai làm gì mà ầm lên thế?” Người đó nói tiếng quan thoại, ngữ âm thật là đúng giọng.

Thôi Bách Tuyền nhảy vọt ra đứng bên cạnh Quá Ngạn Chi, quát hỏi: “Sư huynh ta là Kha Bách Tuế bị ai sát hại? Nói mau!” Đoàn Dự thấy ông già kia thân hình lọm khọm, mặt mũi nhăn nheo, không đến chín mươi thì cũng phải tám chục tuổi. Ông ta lẩm bẩm: “Kha Bách Tuế, Kha Bách Tuế? Đã thọ đến bách tuế thì chết còn kêu ca gì nữa?”

Quá Ngạn Chi đến Tô Châu chỉ tính chuyện tới nhà Mộ Dung chém giết một phen phi chí báo thù cho ân sư, nào ngờ gặp phải Cưu Ma Trí bị đoạt khí giới mất hết nhuệ khí, đang bực mình thì lại gặp cô gái hiền hòa khả ái A Bích, bao nhiêu thù oán không phát tiết vào đâu được. Bây giờ y vừa nghe lão già ăn nói vô lễ liền vung roi nhằm hậu tâm lão quất xuống. Y sợ Cưu Ma Trí ra tay can thiệp nên thấy Cưu ngôi phía tây liền hất ngọn roi về phía đông.

Nào ngờ Cưu Ma Trí vươn tay ra, bàn tay lão tựa hồ như có sức hút, nhuyễn tiên ở tận đằng xa cũng chộp ngay được, nói: “Quá đại hiệp! Chúng ta là khách phương xa đến, lấy lời lẽ dàn xếp là hơn, hà tất phải dùng đến võ lực?” Đoạn lão cuộn cây nhuyễn tiên lại, trao trả cho Quá Ngạn Chi.

Quá Ngạn Chi mặt đỏ gay, cầm cũng dở mà không cầm thì cũng không được, sau cùng nghĩ bụng: “Hôm nay chuyện báo thù mới là chuyện lớn, phải nén cái nhục nhất thời để có binh khí cầm trong tay”. Ý nghĩ thế bèn đưa tay ra đón lấy cây roi.

Cưu Ma Trí hỏi lão già: “Tôn tính đại danh thí chủ là gì? Là người thân thích hay bạn hữu với Mộ Dung tiên sinh?” Lão già toét miệng ra cười đáp: “Già này là lão bộc của công tử Mộ Dung, làm gì có tôn tánh đại danh? Già nghe nói đại sư là bạn thân với cố chủ nhân, không biết có điều chi dạy bảo?” Cưu Ma Trí đáp: “Bần tăng cần gặp Mộ Dung công tử rồi sẽ trình bày.” Ông già đáp: “Thế thì không may rồi! Công tử tôi mới ra đi hôm kia, không chừng một hai ngày nữa mới về.” Cựu Ma Trí lại hỏi: “Thế công tử đi đâu?” Lão già nghiêng đầu ngoẹo cổ, đưa ngón tay lên gõ trán rồi nói: “Đi đâu ư? Lão tuổi già lẫn lộn, không nhớ được rành mạch. Dường như công tử sang Tây Hạ hay Liêu Quốc gì đó, mà không chừng còn qua Thổ Phồn, Đại Lý cũng nên.”

Cưu Ma Trí hừ một tiếng, trong bụng không vui. Thời đó năm nước chia nhau thiên hạ, lão già này nói cả bốn nước bốn góc trừ Đại Tống không kể. Y biết lão già này giả bộ ngớ ngẩn liền nói tiếp: “Đã vậy thì bần tăng không thể chờ công tử được, nhờ quản gia đưa bần tăng đến mộ phần tiên sinh lạy một lạy cho trọn nghĩa cố nhân.” Ông già kia xua tay rối rít, nói: “Chuyện đó tôi không quyết định được, tôi cũng không phải quản gia đâu.” Cưu Ma Trí lại hỏi: “Vậy ai là quản gia tôn phủ? Xin mời ra đây nói chuyện?” Lão già gật đầu luôn mấy cái nói: “Được chứ, được chứ! Để tôi đi mời quản gia đến.” Lão trở gót đi ra, người run lẩy bẩy, vừa đi vừa càu nhàu: “Ta đã ngần này tuổi đầu, trên đời này chuyện ma mãnh gì ta chẳng biết? Tên này bịp bợm giả làm thầy tu đạo sĩ xin cúng dường. Việc gì lão cũng thấy cả rồi, đừng có mà tính chuyện qua mặt”.

Đoàn Dự nghe lão nói bật lên tiếng cười khanh khách. A Bích vội quay sang nói với Cưu Ma Trí: “Xin đại sư phụ đừng giận, Hoàng lão bá có tính lẩn thẩn lại phải cái tật lúc nào cũng ra vẻ sành sỏi, ai cũng chê bai.”

Thôi Bách Tuyền giật giật tay áo Quá Ngạn Chi kéo qua một bên nói nhỏ: “Cái thằng trọc này tự xưng là bạn với Mộ Dung tiên sinh, nhưng bọn này rõ ràng đâu có coi y là khách quí, hiền điệt chớ có nóng nảy, để ý xem sao rồi sẽ liệu.” Quá Ngạn Chi đáp: “Vâng!” Hai người trở lại chỗ cũ. Nhưng chiếc ghế tre Quá Ngạn Chi ngồi đã bị đập gãy nát rồi, thành ra y phải đứng. A Bích vội bê cái ghế nàng đang ngồi lại, tươi cười nói: “Mời Quá đại gia ngồi đây.” Quá Ngạn Chi gật đầu tự nhủ: “Nếu ta giết sạch được cả nhà Mộ Dung, cũng nên tha cho con tiểu a đầu này”.

Đoàn Dự thấy Hoàng lão bộc đi vào, trong lòng thắc mắc như có điều gì khang khác, nhưng đó là gì thì chàng không thể nói được. Chàng quan sát kỹ càng cái phòng khách nhỏ bé cùng đồ trần thiết trong nhà, lại nhìn mấy bức họa treo trên vách, các khóm hoa ngoài sân rồi lại nhìn A Bích, Cưu Ma Trí, Thôi Bách Tuyền, Quá Ngạn Chi mà không sao tìm ra chỗ bất thường, trong bụng càng lúc càng ngờ vực.

Một lát sau có tiếng chân người, rồi từ trong nhà đi ra một gã tuổi trạc ngũ tuần, người ốm o, nước da vàng vọt, dưới cằm có một túm râu ngắn như râu dê, vẻ mặt tinh lanh, cách phục sức rõ ra một tên quản gia trong phủ Mộ Dung. Gã gầy nhom quay mặt về phía Cưu Ma Trí cùng mọi người thi lễ nói: “Tiểu nhân Tôn Tam bái kiến các vị. Đại sư phụ, nay người có thịnh ý đến tế mộ Mộ Dung lão gia chúng tôi cảm kích vô cùng. Song công tử chúng tôi vắng nhà, không ai hoàn lễ, thật không phải đạo kính khách. Vậy chờ công tử về, tiểu nhân sẽ đem thịnh ý của đại sư phụ trình lại công tử là đủ…”

Gã vừa nói đến đây thì mũi Đoàn Dự bỗng thoáng ngửi thấy một mùi hương thoang thoảng, trong lòng chợt động: “Lạ thật! Lạ thật!”. Nguyên lúc nãy người lão bộc họ Hoàng đến, Đoàn Dự cũng đã ngửi thấy một mùi hương u nhã. Mùi hương này cũng phảng phất như mùi hương trong người Mộc Uyển Thanh tiết ra, tuy có chỗ khác nhau song vẫn là mùi hương của thiếu nữ. Thoạt tiên thì chàng cho là mùi hương ở mình A Bích tiết ra nên không để ý. Thế rồi sau khi lão bộc ra khỏi nhà khách, mùi hương đó tự nhiên đâu mất. Bây giờ gã gầy nhom tự xưng là Tôn Tam này vừa vào, Đoàn Dự lại ngửi thấy mùi hương kia. Chàng liền hiểu ra, việc mình thắc mắc chính là vì một lão già tám chín mươi lại có mùi con gái mười tám đôi mươi. Chàng nghĩ thầm: “Không lẽ sau nhà có trồng kỳ hoa dị thảo gì, nên ai từ đó bước ra thân thể cũng có mùi hương thoang thoảng? Nếu không thì cả lão bộc già nua kia lẫn quản gia gầy nhom này đều do một thiếu nữ đóng vai.”

Mùi hương đó tuy làm Đoàn Dự sinh nghi nhưng thực ra rất nhẹ, Cưu Ma Trí và hai người kia không nhận ra được. Đoàn Dự sở dĩ ngửi thấy được vì chàng đã bị giam cầm trong thạch thất với Mộc Uyển Thanh một thời gian, mùi hương thiếu nữ kia chàng đã ghi lòng tạc dạ, so với xạ hương, đàn hương, hoa hương còn đậm đà hơn nhiều. Cưu Ma Trí tuy nội công thâm hậu nhưng cả đời nghiêm thủ sắc giới, dưới mắt y má hồng tóc xanh cũng chẳng khác gì khô lâu bạch cốt, phấn dịu son thơm cũng không khác gì máu mủ tanh hôi, không phân biệt mùi con trai với con gái.

Đoàn Dự tuy nghi Tôn Tam là thiếu nữ hóa trang, song chàng ngó lui ngó tới mà không thấy chút sơ hở nào. Gã Tôn Tam này thật thần tình, từ tướng mạo cho đến cử chỉ nói năng hoàn toàn ra vẻ đàn ông, không có kẽ hở mảy may nào để lộ chân tướng. Chàng đột nhiên nghĩ ra: “Đàn bà nếu giả làm đàn ông thì chỗ dưới yết hầu không thể nào giả được”. Chàng chăm chú nhìn vào cổ Tôn Tam, nhưng chòm râu đề của y phủ xuống không nhìn thấy được cổ họng. Chàng liên đứng dậy, giả vờ thưởng ngoạn các bức thiếp và tranh vẽ treo trên tường, đi đến ngang bên Tôn Tam liếc qua nhìn lén một cái, thấy yết hầu y quả không có trái khế gồ lên, lại nhìn xuống thấy bộ ngực đầy đặn. Tuy chưa chắc đã là ngực đàn bà, nhưng gã đàn ông gầy đét quyết nhiên ngực không thể đầy thế được, Đoàn Dự phát hiện ra cái bí mật này lấy làm thú vị, nghĩ thầm: “Bọn họ thật là lắm trò. Để xem cô ả định làm gì nữa đây?”.

Cưu Ma Trí thở dài: “Bần tăng cùng quý chủ nhân năm xưa gặp nhau ở Tứ Xuyên, đàm luận võ công rồi cùng nhau ý hợp tâm đầu, kết bạn tâm giao. Ngờ đâu con tạo ghen kẻ kỳ tài, cái kẻ tầm thường như bần tăng thì trời còn cho sống, còn quý chủ nhân lại sớm về tây phương cực lạc. Bần tăng lặn lội từ Thổ Phồn xuống đến Trung Nguyên chẳng qua vì mối thâm tình với người bạn cũ, cốt sao được lạy trước mộ một lạy, có người đáp lễ hay không phỏng có chi là quan trọng, phiền quản gia dẫn đường cho.” Tôn Tam chau mày ra chiều suy nghĩ, gã ngập ngừng: “Việc này… việc này…” Cưu Ma Trí ngắt lời: “Nếu có điều chi nan giải, xin nói rõ cho biết!”

Tôn Tam nói: “Nếu đại sư phụ quả là chỗ thâm giao với lão gia tiểu nhân, hẳn biết rõ tính người lúc sanh thời. Lão gia ghét nhất là có người đến thăm, Người thường bảo rằng phàm kẻ đến nhà nếu không tầm cừu sinh sự thì cũng xin bái sư học nghệ, hay tệ nữa là đến xin xỏ tiền bạc, không chừng lại thò tay mặt đặt tay trái, nhân lúc lộn xộn cuỗm món gì rồi lỉnh mất. Lão gia nói bọn thầy chùa lại càng đáng đề phòng, ấy chết… xin lỗi…” Y nói đến đó làm bộ biết mình lỡ lời xúc phạm đến Cưu Ma Trí, vội vàng đưa tay bịt miệng.

Cử chỉ đó càng rõ ra vẻ con gái, đôi mắt đen láy như hai hạt châu ranh mãnh giương lên nhìn, tuy lập tức khép ngay mi lại nhưng Đoàn Dự vốn đã lưu tâm, tự nhiên trong lòng thấy thích thú : “Gã Tôn Tam này không những là đàn bà mà lại còn là một cô gái trẻ tuổi.” Chàng liếc qua A Bích thấy mắt nàng ta nở một nụ cười ranh mãnh, trong bụng không còn hoài nghi gì nữa, nghĩ thầm: “Gã Tôn Tam và lão Hoàng kia hai người là một, chưa biết chừng chính là A Châu tỉ tỉ.”

Cưu Ma Trí thở dài than rằng: “Người đời gian trá thì nhiều mà thật thà thì ít, Mộ Dung tiên sinh không muốn giao kết với bọn phàm phu là phải lắm.” Tôn Tam nói tiếp: “Quả vậy! Lão gia tiểu nhân có di ngôn rằng bất luận kẻ nào đến xin tế phần tảo mộ, nhất thiết không cho vào. Thậm chí người còn bảo: mấy tên lừa trọc thường không phải vì hảo tâm mà đến, chúng chỉ muốn quật mả ta lên mà thôi. Trời ơi! Đại sư phụ đừng phiền, lão gia tiểu nhân thóa mạ bọn trọc đầu là thóa mạ người khác kia, không phải có ý nói ngài đâu.”

Đoàn Dự nghe nói phải cười thầm: “Ai đời lại trước mặt nhà sư mà thóa mạ thằng trọc bao giờ? Rồi chàng lại nghĩ: “Lão Cưu Ma Trí này bị thóa mạ đến thế mà vẫn bình tĩnh, tuyệt không lộ vẻ cáu giận chút nào, phải là con người đại gian đại ác bản lãnh phi thường mới giữ được thái độ này.”

Cưu Ma Trí đáp: “Quý chủ nhân di ngôn lại mấy câu đó rất có lý. Hồi sinh thời uy danh tiên sinh lừng lẫy khắp thiên hạ, thành thử có rất nhiều kẻ thù. Tiên sinh còn sống họ không làm gì được, nên khi chết rồi tất họ cố tình tìm đến động chạm vào di thể để trả thù, đó là một điều dĩ nhiên.” Tôn Tam khẳng định: “Muốn đụng đến di thể của lão gia chúng tôi, ha ha, cái đó thì đừng hòng.” Cưu Ma Trí nói: “Ta và Mộ Dung tiên sinh vốn là chỗ tri giao, chỉ muốn đến trước mộ cố nhân lạy một lạy, ngoài ra không có ý gì khác, quản gia bất tất phải đa nghi.” Tôn Tam đáp: “Nói gần nói xa chẳng qua nói thực, tiểu nhân quả là không dám làm trái với di ngôn của lão gia. Nếu như công tử trở về tra hỏi biết được sẽ đánh tiểu nhân đến què giò. Thôi thì để tiểu nhân hỏi ý kiến lão thái thái xem sao, rồi sẽ trả lời.” Cưu Ma Trí hỏi lại: “Lão thái thái ư? Còn vị lão thái thái nào nữa?” Tôn Tam đáp: “ Mộ Dung lão thái thái là thúc mẫu của lão gia tiểu nhân, các bằng hữu của lão gia mỗi khi đến chơi đều phải khấu đầu hành lễ. Khi công tử vắng nhà thì mọi việc đều phải lĩnh ý lão thái thái.” Cưu Ma Trí đáp: “Như thế càng hay! Nhờ quản gia vào bẩm với lão thái thái là có Cưu Ma Trí ở nước Thổ Phồn tới vấn an.” Tôn Tam nói: “Đại sư phụ khách khí quá, chúng tôi không dám.” Nói xong liền quay vào nội đường.

Đoàn Dự nghĩ thầm: “Vị cô nương này thật là tinh quái. Không hiểu cô ta trêu cợt Cưu Ma Trí với dụng ý gì?”

Qua một lúc nghe có tiếng vòng đeo leng keng, một bà già từ nội đường đi ra, người chưa tới mà mùi hương đã thoang thoảng đưa vào mũi. Đoàn Dự không khỏi mỉm cười, nghĩ thầm: “Lần này cô ả lại biến thành một lão phu nhân”. Chỉ thấy bà lão mặc áo quần bằng đoạn màu cổ đồng, tay đeo vòng ngọc, đầu đầy châu thủy, trông thật là sang trọng, mặt thật nhiều vết nhăn, đôi mắt hấp him dường như nhìn không rõ. Đoàn Dự không khỏi khen thầm: “Cô bé này hóa trang giỏi tuyệt, trá hình ai ra người ấy, khó mà phát hiện được. Tài nhất là chỉ trong khoảnh khắc nàng đã cải trang xong, chân tay mau lẹ đến cực điểm.”

Bà già tay chống gậy, người run lẩy bẩy tiến ra tới nhà ngoài liền hỏi: “A Bích, có bạn của lão gia ngươi đến chơi đấy ư? Sao không thấy khấu đầu bài kiến ta?” Mụ nghiêng đầu nhìn bên đông lại ngoẹo cổ ngó bên tây, hai mắt như bị quáng lòa không nhận ra người nào ở chỗ nào. A Bích quay sang Cưu Ma Trí khoa tay làm hiệu, nói nhỏ: “Mau khấu đầu bái kiến đi, lão thái thái mà vừa lòng thì yêu cầu việc gì cũng được hết.” Bà lão nghiêng đầu, giơ bàn tay khum khum che tai như muốn nghe cho rõ, lớn tiếng hỏi lại: “Con ranh con! Mi nói cái gì vậy? Người ta đã khấu đầu chưa?”.

Cưu Ma Trí bèn lên tiếng: “Lão phu nhân mạnh giỏi chứ? Tiểu tăng xin thi lễ.” Đoạn lão chắp tay xá dài, kình lực từ hai bàn tay phát ra, đập xuống thềm gạch kêu binh binh nghe như là tiếng dập đầu xuống đất. Thôi Bách Tuyền và Quá Ngạn Chi đưa mắt nhìn nhau kinh hãi: “Lão này nội kình quả là ghê gớm, mình e rằng không chịu nổi một đòn.”

Bà lão gật gù nói: “Tốt lắm, tốt lắm! Thời nay kẻ gian thì nhiều, người ngay thì ít, đến như khấu đầu cũng lắm đứa giở trò ma mãnh, làm bộ đóng kịch, tưởng lão thái thái này thong manh không thấy. Thằng bé này ngoan lắm, dập đầu nghe rõ kêu.”

Đoàn Dự không nhịn được, phì ra một tiếng cười. Bà già từ từ quay đầu lại hỏi: “A Bích, hình như có ai đánh rắm phải không?”, vừa nói vừa đưa tay lên bịt mũi. A Bích cố nhịn cười đáp: “Lão thái thái, không phải đâu. Đó là vị Đoàn công tử này cười đó.” Bà lão hỏi lại: “Đòn à? Sao lại phải đánh đòn?” A Bích đáp: “Không phải đòn, người ta họ Đoàn, công tử họ Đoàn.” Bà lão gật đầu: “Chà! Công tử gì mà lắm thế? Mi nhớ công tử của mi lắm nhỉ!” A Bích thẹn thùng nói: “Lão thái thái nghễnh ngãng, nói năng chuyện nọ xọ chuyện kia chẳng ra chi hết.”

Bà lão quay sang nói với Đoàn Dự: “Thằng bé kia, sao thấy thái thái mà chưa khấu đầu?” Đoàn Dự đáp: “Lão thái thái, tiểu sinh có câu chuyện muốn kể cho thái thái nghe.” Bà lão hỏi lại: “Ngươi muốn kể chuyện gì?” Đoàn Dự đáp: “Tiểu sinh có một đứa cháu gái thật là thông minh lanh lợi nhưng hay nghịch ngợm quậy phá. Con bé đó thích hoá trang thành người này người khác, nay giả dạng đàn ông, mai lại giả dạng đàn bà để trêu chọc thiên hạ. Lão thái thái gặp nó chắc là thích lắm. Tiếc rằng lần này không đem nó đến khấu đầu trước lão nhân gia”

Lão phu nhân đó chính là cô tì nữ A Châu trong phủ Mộ Dung giả trang. Thuật hóa trang của cô ta quả là khéo léo, chẳng những về dung mạo, mà cả ngôn ngữ cử chỉ, giọng nói điệu cười nhất nhất giống như in. Chả thế mà thông minh tuyệt đỉnh như Cưu Ma Trí, lão luyện giang hồ như Thôi Bạch Tuyền cũng không mảy may nghi ngờ. Chẳng dè Đoàn Dự nhờ có mùi hương thoang thoảng trên mình cô ta mà nhận ra.

A Châu nghe nói thế giật mình nhưng vẫn tỉnh bơ như không, giả vờ làm như người già cả lẩm cẩm, mắt mờ tai điếc nói: “Mi ngoan lắm, lại thật thông minh, ta chưa thấy đứa nhỏ nào tinh khôn được đến thế. Mi phải khôn ngoan giữ mồm giữ miệng, lão thái thái sẽ thưởng cho nghe chưa?” Đoàn Dự nghĩ thầm: “Ý cô ta muốn mình đừng lật chân tướng ra. Cô ta ra tay đối phó với gã trọc Cưu Ma Trí, là bạn chứ nào phải là thù.” Nghĩ thế nên chàng đáp: “Xin lão thái thái cứ yên tâm! Tại hạ đã tới tôn phủ thì nhất thiết mọi điều đều do lão phu nhân sai bảo.” A Châu nói: “Mi có biết nghe lời ta mới là đứa trẻ ngoan ngoãn. Trước hết hãy cúi đầu lạy ta ba lạy đi đã! Ta thế nào cũng tử tế với ngươi.” Đoàn Dự ngẩn người ra, thầm nghĩ: “Ta đường đường là một vị thế tử con hoàng thái đệ nước Đại Lý, lẽ nào lại lạy một ả nữ tỳ?”. A Châu thấy chàng có vẻ lúng túng, cười khẩy mấy tiếng, nói: “Thằng nhỏ ngoan! Ta bảo mi đó, mi khấu đầu chào bà vài cái xem nào.”

Đoàn Dự quay sang nhìn thấy A Bích đang dẩu môi liếc mắt cười mủm mỉm, da trắng như lăng tươi vừa mới bóc, bên mép lại có một nốt ruồi nho nhỏ càng thêm duyên dáng, trong lòng không khỏi rung động, bèn cất tiếng hỏi: “A Bích tỉ tỉ, nghe nói trong tôn phủ còn một vị A Châu tỉ tỉ, cô ta… cô ta có xinh đẹp được như tỉ tỉ chăng?” A Bích mỉm cười đáp: “Ối chao! Tiểu nữ xấu xí thế này có chi đáng kể. A Châu tỉ tỉ mà nghe thấy công tử hỏi thế tất giận lắm đó. Tiểu nữ có đáng vào đâu, A Châu tỉ tỉ mỹ lệ gấp mười.” Đoàn Dự hỏi lại: “Thật vậy sao?” A Bích cười đáp: “Tiểu nữ nói dối công tử làm chi.” Đoàn Dự nói: “Đẹp gấp mười tỉ tỉ ư? Trên đời này làm gì có người như vậy? Trừ phi là… là nàng tiên ở trong thạch động kia thôi, còn người đẹp xuýt xoát như tỉ tỉ cũng đã là hiếm có lắm rồi.” A Bích hai má ửng hồng có vẻ thẹn thùng, nàng nói: “Lão phu nhân bảo công tử khấu đầu chứ có bảo công tử mồm năm miệng mười khen nịnh tôi đâu.”

Đoàn Dự đáp: “Lão phu nhân chắc vốn cũng là một bậc quốc sắc thiên hương đấy nhỉ? Nói thật với tỉ tỉ, dẫu có cho cái gì tại hạ cũng không màng, nhưng tại hạ đã từng lạy cho ngọc tượng trong động hàng nghìn lạy còn được, nay có lạy người đẹp đất Giang Nam ba lạy đã ăn thua gì?” Thế rồi chàng dập đầu xuống đất kêu “kịch kịch kịch” ba tiếng.

A Châu rất hài lòng nghĩ thầm: “Vị công tử này biết mình chỉ là một đứa a hoàn vậy mà vẫn chịu khấu đầu, quả thực khó biết bao!”. Nàng bèn nói: “Thằng nhỏ ngoan lắm! Tốt lắm! Tiếc rằng ta không mang theo tiền kiến diện để thưởng cho mi.” A Bích vội xen vào: “Lão thái thái đừng quên là được rồi. Lần sau sẽ bù cho người ta cũng được.”

A Châu đưa mắt nguýt cô ta, quay sang Thôi Bách Tuyền và Quá Ngạn Chi nói: “Hai vị khách này sao không khấu đầu ra mắt lão bà?” Quá Ngạn Chi hừ một tiếng, xẵng giọng hỏi: “Mụ có biết võ nghệ hay không?” A Châu đáp: “Ngươi nói gì thế?” Quá Ngạn Chi lập lại:“Ta hỏi mụ có biết võ nghệ không? Nếu là người võ công cao cường thì Quá Ngạn Chi này tình nguyện chết dưới tay Mộ Dung lão thái thái, còn nếu mụ không phải là nhân vật võ lâm thì ta bất tất nhiều lời.” A Châu vỡ nhãng tai nghe “Võ công cao cường” ra “ngô công bách cước”, lắc đầu: “Cái gì mà lại ngô công bách cước? Con rết trăm chân thì đâu mà chẳng có, nó cắn người đau lắm đấy.” Nàng lại quay sang hỏi Cưu Ma Trí: “Đại hòa thượng, nghe nói hòa thượng muốn quật mả Mộ Dung tiên sinh lên, định lấy trộm cái gì đấy?”

Cưu Ma Trí tuy không ngờ mụ là một thiếu nữ giả trang, nhưng cũng đoán chừng mụ giả điếc giả ngây, quyết không phải là một bà già đã đến mức lẫn lộn như thế, trong bụng càng thêm đề phòng, nghĩ bụng: “Mộ Dung tiên sinh đã ghê gớm như thế thì bậc trưởng bối trong nhà tất nhiên không phải hạng bản lãnh tầm thường.” Lảo liền vờ như không nghe mấy chữ “quật mả, lấy trộm” bèn đáp: “Tiểu tăng với Mộ Dung tiên sinh vốn là bạn tri giao, nghe tin buồn tiên sinh tạ thế nên từ nước Thố Phồn qua đây, muốn đến trước mộ lay một lạy. Tiểu tăng có một điều ước hẹn với tiên sinh từ lúc sinh tiền là đem kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm nước Đại Lý qua cho tiên sinh xem. Lời ước đó không thực hiện được, tiểu tăng trong lòng thật là hổ thẹn.”

A Châu và A Bích hai người nhìn nhau cùng nghĩ thầm: “Gã hòa thượng này bây giờ mới nói vào chính đề.” A Châu hỏi: “Lấy được kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm thì sao? Mà không lấy được thì sao?” Cưu Ma Trí đáp: “Năm xưa Mộ Dung tiên sinh có ước định với tiểu tăng, nếu tiểu tăng lấy được kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm cho mượn vài hôm thì sẽ cho tiểu tăng vào xem mấy quyển thiên thư ở Hoàn Thi Thủy Các trong tôn phủ.” A Châu giật mình: “Lão sư này biết được bốn chữ Hoàn Thi Thủy Các, có lẽ lão nói thực cũng chưa biết chừng.” Nàng bèn giả như nghe nhầm hỏi lại: “Cái gì mà hi phạn thủy giả? Ngươi muốn ăn cháo gà với bánh trôi ư? Cái đó dễ lắm nhưng ngươi đã xuất gia làm sao ăn được món mặn?”

Cưu Ma Trí quay sang nói với A Bích: “Lão thái thái đây không hiểu là lẫn lộn thực hay giả vờ. Song thái độ thế này là cự tuyệt người từ nghìn dặm xa xôi đến đây, chẳng khiến người ta nguội lạnh tấm lòng lắm hay sao?” A Châu đáp: “Sao, ngươi lạnh bụng à? A Bích, ngươi mau đi múc một tô cháo tiết gà nóng để đại sư ăn cho ấm ruột gan lại.” A Bích nhịn cười đáp: “Đại sư phụ có ăn mặn được đâu?” A Châu gật gù : “Thế thì đừng dùng gà vịt thật mà dùng gà vịt chay vậy!” A Bích nói: “Lão thái thái lẫn rồi, gà vịt chay thì làm gì có tiết?” A Châu phều phào: “Mình lẩn thẩn thực, thế thì biết làm sao bây giờ?”

Hai cô gái đối thoại, kẻ tung người hứng nghe thật là ăn nhịp. Người đất Tô Châu phần đông mồm miệng béo léo, nói năng hoạt bát, đời sau nơi đây kịch nghệ nổi tiếng thiên hạ cũng từ truyền thống này mà ra. Hai cô thị tì này bình thời vẫn hay tinh nghịch đùa cợt với nhau, bây giờ đem ra quấy phá khiến Cưu Ma Trí bực mình mà không làm gì được.

Lần này y tới Cô Tô vốn định khi gặp Mộ Dung công tử sẽ thương lượng một chuyện quan trọng, ngờ đâu không gặp chủ nhà lại gặp những người chẳng đâu ra đâu, cách đón tiếp hư hư thực thực khiến lão không biết đối phó thế nào cho phải. Y ngẫm nghĩ một chút đã biết ngay Mộ Dung lão phu nhân, Tôn Tam, Hoàng lão bộc, A Bích ai nấy đều có ý thoái thác không cho mình viếng mộ, dĩ nhiên không cho mình vào xem sách trong Hoàn Thi Thủy Các. Lão quyết định bất chấp đối phương nói gì thì nói, cứ đem chuyện ra trình bày minh bạch rồi sau đó nếu được thì dùng lễ mà nhân nhượng, không được thì phải cậy võ lực mà cương quyết, đằng nào mình cũng ở tay trên. Nghĩ thế y ôn tồn nói: “Kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm tiểu tăng đã có đem theo đây, vì thế mới nhắc lại lời hẹn năm xưa được vào Hoàn Thi Thủy Các trong quí phủ xem sách vở.”

A Bích nói: “Mộ Dung tiên sinh đã qua đời, hòa thượng nói sao chúng tôi hay vậy chứ khẩu thuyết vô bằng biết đâu mà tin. Hơn nữa giả tỷ đại sư có mang đồ hình tới đây, chúng tôi xem có ai hiểu được đâu. Thế thì trước kia hai bên có lời giao ước với nhau thế nào, bây giờ cũng không còn thi hành được nữa.” A Châu nói: “Kiếm phổ gì thế? Ở đâu vậy? Đưa ta coi trước xem giả hay thực nào?”

Cưu Ma Trí chỉ vào Đoàn Dự đáp: “Đoàn công tử đây đã thuộc lòng kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm, tiểu tăng đem y đến đây cũng như mang kiếm phổ đến.” A Bích mỉm cười nói: “Tôi lại tưởng có kiếm phổ thật, té ra đại sư nói đùa.” Cưu Ma Trí đáp: “Tiểu tăng đâu dám nói đùa? Nguyên bản kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm đã bị Khô Vinh đại sư ở chùa Thiên Long nước Đại Lý đốt mất rồi, cũng may mà Đoàn công tử còn nhớ được rành mạch cả.” A Bích nói: “Đoàn công tử nhớ được là chuyện của Đoàn công tử, người được vào Hoàn Thị Thủy Các coi sách thì cũng phải là Đoàn công tử, có can dự gì đến đại sư?” Cưu Ma Trí đáp: “Tiểu tăng muốn được thực hiện lời ước ngày trước, đem Đoàn công tử thiêu sống trước mộ phần Mộ Dung tiên sinh.”.

Mọi người nghe nói đều thất kinh, thấy y thần sắc trấn tĩnh, xem ra nói thực chứ không phải thuận miệng nói đùa, lại càng ghê rợn. A Bích nói: “Đại sư phụ có nói đùa không đấy? Người đang sống hẳn hòi chứ có phải mớ củi đâu mà muốn đốt lúc nào thì tốt?” Cưu Ma Trí thản nhiên nói: “Tiểu tăng mà định đốt thì chắc rằng y không chống cự lại được.” A Bích mỉm cười: “Đại sư phụ bảo, là Đoàn công tử nhớ được toàn bộ kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm, cũng chỉ là bịa đặt thôi. Nếu như Lục Mạch Thần Kiếm là một công phu lợi hại, mà Đoàn công tử biết kiếm pháp đó thì khi nào lại chịu khuất phục dưới tay đại sư?” Cưu Ma Trí gật gù: “Cô nương biết một mà không biết hai. Đoàn công tử đã bị tiểu tăng điểm huyệt, không vận kình được.”

A Châu vẫn lắc đầu lia lịa nói: “Ta không thể tin ngươi được. Ngươi giải huyệt cho Đoàn công tử để y thi triển Lục Mạch Thần Kiếm cho ta xem. Xem ra chín phần mười là ngươi nói dối.” Cưu Ma Trí gật đầu nói: “Được rồi! Để tiểu tăng thử cho lão thái thái coi.”

Đoàn Dự ca ngợi A Bích xinh đẹp, mê mẩn tiếng hát tiếng đàn của nàng khiến cho nàng thật đẹp ý; chàng tuy biết được A Châu cải trang vậy mà vẫn dập đầu lạy ba cái khiến cho nàng cũng vui lòng, bây giờ hai cô nghe nói Đoàn Dự bị điểm huyệt nên tìm cách bịp lão để lão chịu giải huyệt đạo cho chàng. Ngờ đâu vừa nói ra là Cưu Ma Trí bằng lòng ngay. Chỉ thấy y giơ tay vỗ hờ trên các chỗ huyệt đạo ở lưng, ngực và đùi Đoàn Dự mấy cái. Lập tức các huyệt đạo bị đóng liền thông, Đoàn Dự chỉ hơi vận khí nội tức liền chuyển động dễ dàng. Chàng lại thử theo phương pháp vận khí của Trung Xung kiếm pháp đưa chân khí vào huyệt Trung Xung, tức khắc cảm thấy ngón tay giữa nóng ran, chàng biết chỉ duỗi ngón tay là kiếm khí liền bắn ra ngay.

Cưu Ma Trí nói: “Đoàn công tử! Mộ Dung lão thái thái không tin công tử đã luyện được Lục Mạch Thần Kiếm. Xin công tử ra tay chặt đứt một cành hoa quế như tiểu tăng đây.” Y vừa nói vừa chém xéo ra, bàn tay súc tích chân lực, xuất một chiều Hỏa Diệm Đao. Bỗng nghe rắc một tiếng, một cành hoa quế trong sân không gió mà gãy ngay xuống đất, chẳng khác gì dùng đao kiếm sắc bén chặt ngang.

Thôi Bách Tuyền và Quá Ngạn Chi cùng thất thanh kêu lên một tiếng. Hai người tuy biết gã Phiên tăng này vô công hết sức ghê gớm, song chỉ cho là loại tà thuật bàng môn tả đạo mà thôi, bây giờ nhìn thấy lão dùng vô hình đao pháp chặt đứt cành cây mới biết nội lực lão thâm hậu hiếm thấy trên đời. .

Đoàn Dự lắc đầu: “Ta không hiểu võ công, cũng chẳng biết Lục Mạch Thần Kiếm hay Bát Mạch Thần Đao nào cả. Một cành hoa quế đẹp đẽ như thế của người ta, sao người lại chặt đi?” Cưu Ma Trí nói: “Đoàn công tử chẳng nên quá khiêm nhường, võ nghệ công tử vào bậc nhất trong họ Đoàn nước Đại Lý. Hiện nay ngoại trừ Mộ Dung công tử và tại hạ ra thì e rằng không ai địch nổi công tử. Phủ Cô Tô Mộ Dung đây là một kho tàng về võ học, công tử hãy thi thử vài chiêu để lão thái thái chỉ điểm thêm cho! Đó là một điều rất hay chứ sao?” Đoàn Dự đáp: “Suốt dọc đường người đối với ta cực kỳ vô lễ, xách lên vứt xuống, lôi kéo đến Giang Nam. Chính ta không muốn nói gì với người nữa. Nhưng ta đến đất Cô Tô thấy phong cảnh hữu tình, lại gặp mấy cô nương đẹp như tiên, oán hờn chứa chất trong lòng đã tiêu tan hết. Ta và người từ nay một đao cắt đứt quan hệ, đường ai nấy đi.” A Châu và A Bích nghe chàng nói năng như gã đồ gàn, không khỏi tức cười, nhưng chàng lại ca tụng mình hết lời nên trong bụng vẫn thầm sung sướng.

Cưu Ma Trí lại nói: “Công tử không chịu biểu diễn Lục Mạch Thần Kiếm, tức là cố ý bảo bần tăng ăn nói đặt điều hay sao?” Đoàn Dự đáp: “Chính ngươi vẫn quen ăn nói đặt điều. Nếu thực có ước hẹn với Mộ Dung tiên sinh thì sao ngươi không sớm đến Đại Lý lấy kiếm kinh mà lại đợi Mộ Dung tiên sinh quy tiên rồi, không còn người đối chứng mới đến phủ Mộ Dung nói thiên hô bách sát? Ta xem chừng ngươi hâm mộ Cô Tô Mộ Dung võ công cao cường nên bịa chuyện ra đánh lừa lão thái thái cho ngươi vào tàng thư các, xem trộm quyền kinh kiếm phổ của nhà Mộ Dung, học lấy thuật gậy ông đập lưng ông. Người ta đã là nhân vật lừng danh trong võ lâm chẳng lẽ lại không hiểu cái mánh khóe trẻ con của ngươi hay sao? Nếu chỉ đem cái mồm trơn như mỡ đến nói vài câu là đánh lừa lấy cắp được bí quyết võ công của nhà Mộ Dung thì trên đời này vô khối những tên bịp bợm, đứa nào chẳng đến đây lẻo mép, còn đâu đến lượt ngươi?”

Cưu Ma Trí lắc đầu nói: “Đoàn công tử suy đoán sai rồi. Tiểu tăng và Mộ Dung tiên sinh tuy đính ước với nhau đã lâu, song tiểu tăng còn phải đóng cửa luyện chín năm không ra khỏi ngõ, vì thế mà chưa đến nước Đại Lý. Giả tỷ tiểu tăng chưa thấu đáo được môn Hỏa Diệm Đao thì lần này đâu có yên thân mà ra khỏi chùa Thiên Long?” Đoàn Dự đáp: “Đại hòa thượng ơi, ngươi tiếng tăm đã vang dội, võ công lại cao cường như thế, sao không ung dung ở yên nước Thổ Phồn làm Hộ Quốc Pháp Vương có tốt hay không? Việc gì còn phải đến tận Giang Nam đánh lừa người ta? Ta khuyên người nên quay về sớm đi là hơn!”

Cưu Ma Trí đáp: “Nếu công tử không chịu thi triển Lục Mạch Thần Kiếm thì đừng trách tiểu tăng vô lễ.” Đoàn Dự nói: “Ngươi đã vô lễ lắm rồi, chẳng lẽ lại còn cách nào vô lễ hơn thế nữa? Cùng lắm người chém ta một đao giết đi là cùng chứ gì?” Cưu Ma Trí nói: “Được lắm, coi đao đây.” Y dựng bàn tay trái lên, một luồng kình phong liền ùa tới mặt Đoàn Dự.

Đoàn Dự đã có chủ ý từ trước, biết võ công mình kém xa y, có giao đấu hay không giao đấu kết quả cũng như nhau mà thôi. Lão đã muốn chàng phải chứng minh là có biết Lục Mạch Thần Kiếm, đã thế chàng làm ngược hẳn lại. Chàng thấy đao của lão chém tới, cứ để mặc, chẳng tránh né mà cũng không đỡ gạt. Cưu Ma Trí kinh hoảng, kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm chưa nắm thì bộ sách sống này không thể giết được, tay liền nghiêng qua, một luồng gió lạnh vèo qua, xén đứt hẳn một mớ tóc trên đầu Đoàn Dự.

Thôi Bách Tuyền và Quá Ngạn Chi nhìn nhau hoảng vía, A Châu A Bích hai cô cũng đều tái mặt. Cưu Ma Trí lầm lì hỏi lại: “Đoàn công tử đành chịu chết chứ không chịu ra tay sao?” Đoàn Dự vốn đã sớm không coi chết sống vào đâu, bèn khanh khách cười đáp: “Đại hòa thượng đủ cả: tham, sân, ái, dục, si mà còn dám khoe mình là cao tăng cửa Phật, quả là chỉ có hư danh.”

Cưu Ma Trí đột nhiên vung tay chém xéo qua A Bích, miệng nói: “Dùng lời tử tế không xong thì trước hết ta phải ra oai giết một con tiểu a đầu trong phủ Mộ Dung trước đã.” Chiêu đó y đánh ra thật đột ngột, A Bích kinh hãi vội nghiêng người tránh, nghe chát một tiếng, chiếc ghế dựa sau lưng cô bị chém đứt đôi. Tay phải Cưu Ma Trí liền chém tiếp một đạo nữa khiến A Bích phải nằm phục xuống lăn dưới đất, thân pháp tuy mau lẹ nhưng thật là luống cuống. Cưu Ma Trí quát to lên một tiếng đánh luôn chiêu thứ ba ra. A Bích sợ tái mặt, không biết phải đối phó với những chiêu số vô hình vô ảnh này cách nào cho đúng. A Châu không suy nghĩ gì nữa, liền vung gậy điểm vào sau lưng Cưu Ma Trí. Lúc nàng đứng nói chuyện, hay là lúc lụm cụm bước đi trông giống như một bà già bảy tám mươi không sai một mảy, nhưng lúc nguy cấp liều mạng thì thân pháp lại cực kỳ mau lẹ.

Cưu Ma Trí thoáng nhìn đã khám phá ra chỗ giả trá, lão mỉm cười nói: “Thiên hạ lại có bà già mười bảy mười tám tuổi, ngươi định lừa bịp hòa thượng này đến bao giờ?” Nói xong lão quay lại đánh luôn một chưởng, chấn cây gậy trúc của A Châu gãy làm ba đoạn, kế đó lại phóng một đao chém bổ vào A Bích. A Bích hoảng hốt quờ tay vớ một cái bàn, nghiêng mặt bàn ra đỡ. Bỗng nghe “chát chát” mấy tiếng, chiếc bàn bằng gỗ tử đàn gãy vụn, chỉ còn trơ lại hai chân trong tay A Bích.

Đoàn Dự thấy A Bích lưng tựa vào vách, không còn đất lùi mà Cưu Ma Trí lại vung tay đánh tiếp. Lúc đó chàng chỉ nghĩ đến việc cứu người là khẩn cấp, quên rằng mình không phải là địch thủ của gã Phiên tăng, liền búng ngón tay giữa ra, kình lực từ huyệt Trung Xung bắn vụt ra kèm những tiếng kêu “vo vo”. Đó chính là Trung Xung kiếm pháp. Thực ra Cưu Ma Trí đâu có định giết A Bích, lão chỉ muốn bức bách Đoàn Dự xuất thủ, nếu không A Bích làm sao có thể tránh được những chiêu số thần diệu của Hỏa Diệm Đao? Y thấy Đoàn Dự cuối cùng phải ra tay, lại trở tay đánh luôn A Châu một chưởng. Chưởng phong vút qua làm cho A Châu lảo đảo cả người, vai áo rách toạc, nàng kinh hoàng rú lên. Thiếu Trạch Kiếm từ tay trái Đoàn Dự liền phóng ra, chặn ngay Hỏa Diệm Đao của y lại.

Hai đao của Cưu Ma Trí đều bị Lục Mạch Thần Kiếm của Đoàn Dự chặn đón, chàng đã bảo vệ cho hai nàng A Châu, A Bích cùng thoát hiểm. Cưu Ma Trí chỉ cốt cho mọi người thấy Đoàn Dự biết Lục Mạch Thần Kiếm thật, cố ý để nội kình hai người chạm vào nhau, nghe vu vu không ngớt. Đoàn Dự nhờ có công lực của mấy cao thủ trong người, xem ra còn mạnh hơn cả Cưu Ma Trí. Chỉ có điều chàng không có căn bản võ công, tuy ở chùa Thiên Long nhớ hết các đường kiếm pháp nhưng không biết cách biến hóa sử dụng.

Cưu Ma Trí dẫn luồng nội lực hùng hậu của chàng chạy đông chạy tây khiến cửa sổ và vách tường bị đâm thủng lỗ chỗ khắp nơi, miệng liên tiếp khen ngợi: “Lục Mạch Thần Kiếm quả nhiên lợi hại, trách nào năm xưa Mộ Dung tiên sinh đem lòng hâm mộ.”

Thôi Bách Tuyền cũng rất lấy làm kinh ngạc, lẩm bẩm: “Ta vẫn tưởng Đoàn công tử chẳng biết võ công, nào ngờ lại có bản lĩnh đến thế. Họ Đoàn Đại Lý đúng là danh bất hư truyền. Cũng may mà mình khi ở phủ Trấn Nam vương chưa làm việc gì xằng bậy, nếu không thì cái mạng già này đâu còn được đến hôm nay.” Y càng nghĩ càng rùng mình, mồ hôi toát ra lạnh cả người.

Hai người giao đấu một hồi lâu, kỳ thực thì chiêu nào Cưu Ma Trí cũng có thể đẩy Đoàn Dự vào tử địa được. Có điều lão cố ý kéo dài cuộc đấu để đùa giỡn và phô trương tài năng. Ngờ đâu đùa giỡn càng lâu thì càng không dám coi thường, xem ra chàng nội kình cực kỳ hùng hậu không kém gì mình, nhưng không hiểu vì sao lại không biết phát huy ra, chẳng khác gì đứa trẻ lên ba trong tay có hàng vạn quan tiền mà không biết tiêu xài. Cưu Ma Trí chiết giải thêm mấy chiêu nữa bỗng dưng nghĩ khác: “Nếu lỡ ra lát nữa y phúc chí tâm linh, lãnh ngộ được võ công yếu quyết, với nội công đó và kiếm pháp đó, e rằng sẽ là một kình địch cực kỳ lợi hại”.

Đoàn Dự cũng biết là chàng sống hay chết hoàn toàn do tay Cưu Ma Trí, kêu lên: “A Châu, A Bích hai vị tỉ tỉ mau mau đào tẩu. Không thì không kịp đâu.” A Châu hỏi: “Đoàn công tử! Tại sao công tử lại cứu chúng tôi?” Đoàn Dự đáp: “Vì tôi ghét tên hòa thượng này ỷ mình võ công cao cường, hoành hành bá đạo, khinh khi người khác. Đáng tiếc tôi không hiểu võ công, khó lòng địch lại lão. Các cô chạy mau đi thôi!”

Cưu Ma Trí mỉm cười nói: “Không kịp nữa rồi.” Y tiến lên một bước, ngón tay trái đâm ra, điểm vào đùi Đoàn Dự. Đoàn Dự kêu lên một tiếng toan né tránh, nhưng tránh làm sao được? Ba yếu huyệt của chàng đã bị Cưu Ma Trí điểm trúng, tức thời hai chân bị tê bại, té nhào xuống đất. Chàng gọi ầm lên: “A Châu, A Bích! Chạy mau đi! Chạy mau đi!”

Cưu Ma Trí bật cười nói: “Chết đến cổ họng, thân không giữ nổi lại còn thương hoa tiếc ngọc.” Đoạn lão ung dung quay lại chỗ ngồi, nói với A Châu: “Cô nương cũng bất tất phải giở trò quỷ quái làm gì nữa. Ai là người quyết định mọi việc trong phủ này? Đoàn công tử đã thuộc lòng kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm, có điều y không hiểu võ công nên không biết sử dụng đó thôi. Ngày mai ta sẽ đem hắn ra thiêu sống trước mồ Mộ Dung tiên sinh, nếu tiên sinh dưới suối vàng có linh thiêng, chắc cũng rõ người bạn cũ không lỗi lời hẹn ước năm xưa.”.

A Châu cũng hiểu rằng hiện tình trong Cầm Vận Tiểu Trúc này không có ai địch lại Cưu Ma Trí. Nàng chau đôi mày liễu, gượng cười nói: “Được rồi! Đại hòa thượng nói sao chúng tôi tin vậy. Phần mộ của lão gia cách đây chừng một ngày đường thủy. Hôm nay thì trời đã tối rồi, sáng sớm mai tỉ muội chúng tôi xin thân hành dẫn hòa thượng cùng Đoàn công tử đi tảo mộ. Xin các vị hãy nghỉ ngơi một chút để đợi dùng cơm chiều.” Nói dứt lời A Châu đứng dậy kéo tay A Bích cùng đi vào trong nhà.

Sau độ nửa giờ thì thấy một tên tớ trai ra nói: “Hai cô nương có lời mời bốn vị đến Thính Vũ Cư dùng cơm chiều.” Cưu Ma Trí cám ơn rồi nắm tay Đoàn Dự, dẫn đi theo tên đầy tớ. Đường đi trải đá trứng ngỗng quanh co độ mấy chục trượng, vòng qua mấy tòa giả sơn cùng mấy khu vườn thì đến bên bờ hồ. Dưới một gốc liễu có buộc chiếc thuyền nhỏ. Tên đầy tớ chỉ một căn nhà nho nhỏ ở giữa hồ, bốn mặt đều có cửa sổ, nói: “Ở bên kia.” Cưu Ma Trí, Đoàn Dự, Thôi Bách Tuyền, Quá Ngạn Chi bốn người xuống thuyền để cho tên đầy tớ chèo qua, chỉ giây lát đã tới.

Đoàn Dự theo cầu thang đóng trên cây tùng trèo lên Thính Vũ Cư, thấy A Bích đã đứng sẵn chờ khách. Toàn thân nàng mặc áo dài màu xanh nhạt, bên cạnh là một nữ lang mặc áo lụa hồng xinh tươi mơn mởn, tuổi chừng mười sáu mười bảy, nhìn Đoàn Dự tựa như cười mà không phải cười, nét mặt đầy vẻ khôn ngoan lanh lợi. Mặt A Bích thì thanh nhã tú lệ, còn người con gái kia khuôn mặt trái xoan, đôi mắt linh động dễ làm người ta quyến luyến.

Đoàn Dự tới gần liền ngửi thấy mùi hương phảng phất quen thuộc, chàng mỉm cười hỏi: “A Châu tỉ tỉ! Cô là một vị tiểu cô nương xinh đẹp như thế này mà sao cải trang thành một bà lão lại giống đến thế?” Nữ lang này chính là A Châu. Nàng liếc mắt mỉm cười hỏi Đoàn Dự: “Công tử phải khấu đầu lạy tôi ba cái chắc bực mình lắm phải không?” Đoàn Dự lắc đầu quầy quậy nói: “Ba lạy đó rất có ý nghĩa. Có điều tôi đoán không được trúng lắm thôi.” A Châu hỏi: “Công tử đoán thế nào mà không trúng?” Đoàn Dự đáp: “Trước tôi đã đoán cô nương và A Bích cũng như nhau, đều là mỹ nhân hiếm có ở đời. Tôi đinh ninh là hai cô chẳng khác nhau mấy, nào ngờ tới khi gặp mặt mới hay… mới hay…” A Châu cướp lời: “Phải chăng tôi còn kém A Bích xa?” Đồng thời A Bích cũng chen vào: “Công tử thấy chị ấy đẹp gấp mười tôi, nhìn thấy phải giật mình chứ gì?”

Đoàn Dự lắc đầu: “Trật hết. Tôi bấy giờ mới hay trời xanh kia quả thật tài tình, khiến cho người ta phục sát đất. Ông đã dốc tâm trí ra tạo nên một trang tuyệt sắc giai nhân là A Bích tỉ tỉ, tưởng rằng bao nhiêu linh tú ở Giang Nam đã dùng hết nhẵn rồi, nào ngờ ông lại còn tạo thêm được một vị A Châu tỉ tỉ nữa. Hai dung mạo khác nhau nhưng mỗi người đều có một vẻ ưa nhìn riêng, tôi nghĩ mãi mà chưa tìm được câu nào để diễn tả được cái vẻ diễm lệ của hai cô.” A Châu cười khúc khích: “Gớm, công tử thật là mồm mép trơn như mỡ, đã tán dương một tràng dài lại còn bảo là không tìm được câu nào.”

A Bích mỉm cười quay sang nói với Cưu Ma Trí và hai người Thôi, Quá: “Bốn vị giá lâm tệ xứ, chúng tôi đơn bạc chẳng có gì để thết, xin các vị tạm dùng ly rượu nhạt và mấy thứ món ăn ở địa phương Giang Nam có sẵn trong nhà thôi.” Nói rồi mời bốn người vào bàn, còn nàng và A Châu ngồi bên dưới tiếp khách.

Đoàn Dự thấy Thính Vũ Cư bốn mặt đều là nước, từ cửa sổ nhìn ra chung quanh mặt hồ khói sóng mờ mờ tới tận chân trời, quay đầu nhìn lại thấy chén bát trên bàn đều là đồ sứ tinh xảo, trong bụng tấm tắc khen thầm.

Một lát sau đầy tớ đem lên mấy món điểm tâm, riêng Cưu Ma Trí có bốn đĩa đồ chay, kế đó mấy món nóng sốt như lăng xào tôm, lá sen nấu măng, thịt quay nấu anh đào, thịt gà hấp trà Long Tỉnh… món nào cũng thật là đặc biệt. Các món cá tôm đều nhồi cánh hoa, trái cây càng thêm màu mè nhưng vẫn đượm mùi hương thiên nhiên. Món nào Đoàn Dự cũng gắp thử vài đũa, món nào cũng tươi ngon hợp khẩu, chàng tán dương luôn miệng: “Non sông gấm vóc thì phải có tuyệt thế giai nhân, không những thông minh lanh lợi mà còn thanh nhã khôn cùng để chế tạo những món ăn mỹ vị thanh cao.”

A Châu hỏi: “Công tử thử đoán xem các món ăn đây do tiểu nữ làm hay do A Bích làm?” Đoàn Dự đáp: “Món thịt quay anh đào, vịt ướp hoa mai, bánh dẻo bảy màu hẳn là do tỉ tỉ làm. Còn món canh măng nấu ngó sen, cá viên phỉ thúy thanh tân mượt mà kia chắc phải do tay A Bích tỉ tỉ?”

A Châu vỗ tay cười nói: “Không ngờ thầy đồ gàn đoán đúng thế. A Bích, người xem mình phải thưởng cho thầy cái gì đây.” A Bích tủm tỉm cười đáp: “Đoàn công tử sai bảo điều gì chúng ta sẽ hết sức tuân theo, chứ bọn kẻ ăn người ở như mình có gì mà thưởng?” A Châu đáp: “Chao ôi, ngươi quả là lanh mồm lanh miệng khéo nói cho vừa lòng người, thảo nào ai ai cũng bảo ngươi tốt, còn ta chẳng ra gì.” Đoàn Dự cười: “Một bên thùy mị ôn hòa, một bên hoạt bát lanh lợi, mỗi cô một vẻ riêng. A Bích tỉ tỉ, lúc ngồi thuyền tại hạ có được nghe tỉ tỉ gấy một khúc đàn bằng cây nhuyễn tiên, dư âm hãy còn văng vẳng bên tai. Vậy dám cả gan xin tỉ tỉ cho nghe một khúc bằng nhạc khí thực. Được thế thì dù ngày mai có bị vị hòa thượng này đốt thành tro cũng không uổng một đời.”

A Bích nhẹ nhàng đứng dậy nói: “Nếu như công tử không hiềm bẩn tai, tiểu nữ xin phô chút tài mọn để vui lòng quý khách.” Nói xong nàng đi ra đằng sau bức bình phong lấy một chiếc dao cầm. A Bích ngồi ngay ngắn trên chiếc cẩm đôn, để cây đàn lên chiếc bàn nhỏ trước mặt, giơ tay vẫy Đoàn Dự cười nói: “Đoàn công tử thử lại đây xem cây đàn của tôi là loại đàn gì?”

Đoàn Dự đi đến trước mặt nàng, thấy chiếc đàn đó so với thất huyền cầm thông thường thì ngắn hơn chừng một thước nhưng lại có đến chín dây, mỗi dây một màu, liền ngẫm nghĩ rồi đáp: “Loại cửu huyền cầm này tại hạ mới nhìn thấy lần đầu.” A Châu đi đến giơ ngón tay bật vào một sợi dây, nghe tưng một tiếng thật to, thì ra dây này làm bằng kim loại. Đoàn Dự ấp úng: “Tỉ tỉ, đàn này…”

Mới nói đến đó, bỗng dưng chàng thấy dưới chân hụt hẫng, nhịn không nổi kêu “Ối” một tiếng, thân hình rơi tọt ngay xuống, rớt vào vật gì mềm nhũn như bông, đồng thời tai nghe tiếng kêu “Ối chết!”, “Hỏng rồi!” liên tiếp, tiếng người rơi xuống nước lõm bõm, rồi thấy thân hình bị ai đó kéo lên. Biến cố đó đã kỳ quái lại đột ngột, chàng gượng ngồi dậy thấy mình ở trong một con thuyền nhỏ, A Châu, A Bích ngồi hai đầu, tay cầm mái giầm đang ra sức chèo. Chàng quay đầu nhìn lại thấy Cưu Ma Trí, Thôi Bách Tuyền, Quá Ngạn Chi ba người đang chơi với cố ngoi lên mặt nước. A Châu, A Bích chỉ chèo mấy cái chiếc thuyền đã cách Thính Vũ Cư mấy trượng.

Bỗng từ dưới nước một người ướt sũng vọt lên, chính là Cưu Ma Trí. Y vừa lên được Thính Vũ Cư, lập tức giơ tay chặt đứt một cây cột gỗ, nghe vù một tiếng đã cầm ném thẳng vào A Bích ngồi phía sau con thuyền, A Bích kêu lên: “Đoàn Công tử, hụp xuống mau.” Đoàn Dự cùng hai cô gái cùng nằm mọp xuống, nửa cây cột gỗ vụt qua đầu, gió mạnh đến nỗi nghe rất cả cổ.

A Châu khom người chèo mạnh mấy cái, chiếc thuyền lại vọt lên thêm cả trượng. Bỗng dưng nghe tiếng ầm ầm, bình bình vang dội, con thuyền chao đảo nhấp nhô, nước tạt vào làm cho cả ba người đều ướt sũng. Đoàn Dự quay đầu lại thấy Cưu Ma Trí đã đánh vỡ một bên vách Thính Vũ Cư, tay cầm đôn đá, đỉnh hương liên tiếp ném ra. A Bích nhắm chừng những vật nặng đó mà lách thuyền tránh né, còn A Châu vẫn cắm cúi chèo tới trước, mỗi lần vung tay, chiếc thuyền con lại vọt xa thêm mấy thước. Tuy Cưu Ma Trí vẫn liên tiếp ném theo nhưng cự ly mỗi lúc một xa, xem ra y kình lực mạnh mẽ đến đâu cũng ném không tới. Hai cô gái liên tiếp chèo chống, Đoàn Dự quay đầu lại nhìn quanh, thấy Thôi Bách Tuyền và Quá Ngạn Chi cũng đã bám được thang trèo trở lại lên Thính Vũ Cư. Chàng trong bụng mừng thầm nhưng lại kêu “Chao ôi” một tiếng, thấy Cưu Ma Trí vừa nhảy xuống một chiếc thuyền khác.

A Châu kêu lên: “Ác hòa thượng đuổi theo kìa!” Nàng gắng sức chèo luôn mấy cái, quay đầu nhìn lại bỗng dưng bật cười ha hả khiến Đoàn Dự cũng tò mò quay lại, thấy chiếc thuyền của Cưu Ma Trí chạy vòng tròn trên mặt nước. Thì ra tuy y võ công cao cường nhưng lại chưa biết lái thuyền.

Ba người thở phào một cái nhưng chẳng bao lâu thấy Cưu Ma Tú đã hơi biết điều khiển, cố gắng chèo thuyền đuổi theo. A Bích thở dài: “Nhà sư này quả là thông minh, việc gì cũng để ý một lát là làm được ngay.” A Châu nói: “Mình phải để y không mò ra được lối đi.” Nàng chèo mấy cái đưa con thuyền vào trong đám lá lăng um tùm. Trong Thái Hồ có hàng ngàn hàng vạn lối mòn, chiếc thuyền nhỏ chỉ cần vòng qua mấy khúc là đã chui tọt vào trong một con lạch nhỏ, Cưu Ma Trí không thể nào đuổi theo được.

Đoàn Dự nói: “Tiếc rằng huyệt đạo trên thân thể tôi chưa được giải, thành thử không thể chèo thuyền giúp hai vị tỉ tỉ được.” A Bích an ủi: “Đoàn công tử chở có lo, nhà sư kia không đuổi kịp đâu.”

Đoàn Dự nói: “Cơ quan trong Thính Vũ Cư kể cũng hay thật. Có ai mà ngờ được chiếc thuyền lại nằm ngay dưới cái ghế tỉ tỉ đánh đàn.” A Bích mỉm cười: “Đúng vậy, khi tôi mời công tử lại xem đàn, A Châu tỉ tỉ búng vào sợi dây một tiếng làm hiệu, người bên ngoài nghe thấy mở cửa hầm ra, tất cả đều rơi xuống hết.” Ba người cùng cười ha hả, A Bích vội bịt miệng lại nói: “Đừng để lão ác tăng nghe thấy.”

Bỗng nghe từ xa có tiếng văng vẳng vọng tới: “A Châu cô nương, A Bích cô nương, hai cô bơi thuyền trở lại mau! Bần tăng đã là bạn với công tủ Mộ Dung có lý đâu lại làm khó dễ các cô?” Chính là tiếng của Cưu Ma Trí, giọng điệu dịu dàng thân thiết khiến người ta bất giác không tự chủ được nữa, muốn làm theo ý lão.

A Châu bần thần nói: “Đại hòa thượng gọi chúng ta trở lại, tất không gia hại đâu.” Đoạn nàng dừng chèo không bơi nữa, trong lòng dường như có vẻ xao xuyến. A Bích cũng nói: “Vậy chúng ta quay lại thôi.” Đoàn Dự nội công vô cùng hùng mạnh nên không bị thanh âm của Cưu Ma Trí mê hoặc, vội nói: “Lão bịp đấy! Tin thế nào được?” Lại nghe giọng ôn hòa trìu mến của Cưu Ma Trí chậm rãi lọt vào tai: “Hai vị tiểu cô nương ơi! Công tử nhà các cô đã về tới, cần gặp các cô ngay, các cô mau mau bơi thuyền trở lại.” A Châu đáp: “Vâng!” rồi lái thuyền quay đầu lại.

Đoàn Dự nghĩ thầm: “Nếu quả công tử Mộ Dung trở về thì chính y lên tiếng gọi A Châu A Bích, hà tất phải mượn lão gọi hộ? Đúng là lão giở phép thu hồn phách cực kỳ lợi hại ra đây.” Chàng chợt nghĩ ra, giơ tay ra ngoài thuyền, hái nấy lá lăng trên mặt nước, vo lại thành một cục nhét vào tai A Bích, sau đó lại bịt vào tai A Châu.

A Châu vừa định thần, thất thanh kêu lên: “Chao ôi! Nguy hiểm thực!” A Bích cũng kinh hoàng nói: “Gã hòa thượng đó biết phép nhiếp hồn. Ta bị lão lung lạc mất rồi.” A Châu quay đầu thuyền lại hết sức chèo, kêu lên: “A Bích, chèo mau lên, mau lên!”

Hai người ra sức chèo chiếc thuyền con đi sâu vào bãi lăng. Một hồi sau, tiếng gọi của Cưu Ma Trí nhỏ dần, sau cùng không còn nghe thấy nữa. Đoàn Dự ra hiệu cho hai cô gái bỏ lá lăng đang bịt lỗ tai ra.

A Bích xoa ngực, thở hắt ra nói: “Sợ quá mất thôi. A Châu tỉ tỉ, mình phải làm sao bây giờ?” A Châu đáp:”Mình cứ lênh đênh trên mặt hồ này, đói thì bóc hồng lăng hoặc móc ngó sen lên mà ăn, dù có ở đây mười ngày hoặc nửa tháng cũng chẳng hề gì.” A Bích mỉm cười nói: “Phương cách đó kể cũng hay, không biết ý Đoàn công tử ra sao?” Đoàn Dự vỗ tay cười đáp: “Phong cảnh trên hồ tại hạ hận không có bốn mắt mà ngắm, huống chi có hai cô làm bạn, ở đây ngao du mươi ngày, thật sướng hơn tiên.” A Bích dẩu môi cười: “Mình đi về hướng đông nam thì dưới đó sông lạch thật nhiều, trừ bọn chài lưới địa phương ra, không ai tìm được đường lối. Nếu như mình vào tới Bách Khúc Hồ, quyết nhiên gã hòa thượng kia không thể đuổi tới nơi được.

Hai cô gái thư thả chèo thuyền, Đoàn Dự nằm nhìn lên những vì sao lấp lánh trên cao, ngoài tiếng mái chèo khuấy nước và tiếng lá lăng chạm vào thành thuyền kêu loạt soạt thì bốn bề tĩnh mịch không một tiếng động, gió mát trên mặt hồ như ướp mùi hoa thơm dìu dịu, nghĩ thầm: “Nếu cứ được thế này mãi thì thật sướng biết bao”. Chàng lại nghĩ “A Châu, A Bích hai vị tỉ tỉ tốt bụng như thế, xem ra Mộ Dung công tử cũng không phải là hạng người hung ác. Huyền Bi đại sư chùa Thiếu Lâm và sư huynh của Hoắc tiên sinh không biết đã bị ai giết? Ôi, trong nhà ta biết bao nhiêu tì nữ phục dịch nhưng có ai sánh được với A Châu, A Bích hai vị tỉ tỉ?”.

Một lúc lâu sau, chàng đang nhắm mắt sắp thiu thiu ngủ bỗng nghe A Bích cười khúc khích nói: “A Châu tỉ tỉ, chị lại đây.” A Châu cũng hạ giọng hỏi nhỏ: “Gì thế?” A Bích giục: “Chị cứ lại đây rồi em nói cho nghe.” A Châu gác mái giầm, đi đến cuối thuyền ngồi xuống. A Bích ôm lấy vai nàng, ghé tai mỉm cười nói nhỏ: “Hai chị em mình làm cách nào cho khỏi mắc cỡ đây.” A Châu cười hỏi: “Chuyện gì vậy?” A Bích nói: “Nói nhỏ thôi. Đoàn công tử đã ngủ chưa?” A Châu đáp: “Không biết nữa, ngươi hỏi thử xem.” A Bích nói: “Hỏi không được. A Châu tỉ tỉ, em… em… em muốn tiểu tiện.”

Hai người nói nhỏ như muỗi kêu nhưng Đoàn Dự nội công cực kỳ hùng hậu nên nghe rõ mồn một, nhưng chàng không dám động đậy, giả vờ ngáy nhè nhẹ để hai nàng khỏi thẹn.

Chỉ nghe A Châu hạ giọng cười nói: “Đoàn công tử ngủ rồi. Ngươi cứ việc đi tiểu đi.” A Bích ngượng nghịu đáp: “Em không dám đâu, lỡ nửa chừng Đoàn công tử tỉnh dậy thì biết làm thế nào?” A Châu nhịn không nổi cười rúc rích, vội vàng đưa tay bịt miệng nói nhỏ: “Có gì mà ngượng? Ai chẳng phải đại tiểu tiện, có gì lạ đâu?” A Bích cầm tay A Châu lắc lắc, năn nỉ: “Chị ơi, nghĩ giùm em xem làm cách nào đây?” A Châu đáp: “Để ta che cho ngươi, nếu như Đoàn công tử tỉnh dậy cũng không nhìn thấy được.” A Bích nói: “Thế nhưng có tiếng động, nghe chảy xuống nước, em… em…” A Châu cười đáp: “Thế thì làm cách nào được bây giờ? Ngươi cứ đi đi, Đoàn công tử không nghe thấy đâu.” A Bích nói: “Không được đâu, có người bên cạnh, em không đi được.” A Châu đáp: “Không đi được thì càng tốt.” A Bích bí quá dường như muốn khóc, chỉ rên rỉ: “Làm sao bây giờ? Làm sao bây giờ?”

A Châu lại cười khúc khích nói: “Cũng tại ngươi hết, ngươi không nói ra, ta cũng quên khuấy đi, bây giờ ngươi nói tới nói lui, làm ta cũng mắc đi đại tiện. Thôi đành tới phủ nhà mợ Vương chỉ cách chừng nửa quãng chín, mình chèo tới đó đi ngoài luôn cũng được.” A Bích nói: “Vương thái thái không cho chúng mình léo hánh đến đâu, Bà ấy dữ như chằn, không chừng vừa gặp đã cho mỗi đứa mấy cái tát tai.” A Châu đáp: “Có chi đâu mà sợ. Vương thái thái với lão thái thái hay cãi nhau, nhưng bà lão nay đã mất rồi. Ta với ngươi bất quá chỉ là kẻ ăn người ở, mình có làm gì đâu mà bị tát tai? Mình len lén lên bờ, đi xong lại xuống thuyền, thái thái làm sao biết được?” A Bích đáp: “Vậy cũng được.” Nàng hơi trầm ngâm bỗng nói: “Hay mình kêu Đoàn công tử lên bờ đi ngoài luôn, nếu không… nếu không anh ta tỉnh dây cười mình thì thẹn chết.”

A Châu cười khẩy nói: “Sao người chăm sóc chàng kỹ quá vậy? Không sợ công tử biết mà ghen hay sao?” A Bích thở dài nói: “Những chuyện nhỏ nhặt công tử đâu có để tâm đến làm chi. Mình chỉ là hai con tiểu a đầu, công tử có bao giờ nghĩ tới.” A Châu nói: “Nhưng ta cứ nghĩ đến thì sao? A Bích muội tử, ngươi tối ngày sáng đêm nghĩ đến công tử, việc gì phải giấu.” A Bích thở hắt ra, không trả lời. A Châu vỗ nhẹ lên vai nàng, nói nhỏ: “Ngươi vừa mắc tiểu tiện lại vừa nhớ đến công tử, hai chuyện nói chung thật tức cười quá.” A Bích cũng cười khúc khích nói: “Chị cứ nói giỡn chẳng đâu vào đâu.”

A Châu quay trở lại đầu thuyền cầm mái chèo bơi tiếp. Hai cô gái bơi một hồi thì trời bắt đầu hửng sáng.

Đoàn Dự nội công thâm hậu, huyệt đạo không bị bế lâu, trước đây cứ độ vài giờ Cưu Ma Trí phải điểm thêm mấy cái. Đến lúc này chàng cảm thấy nội tức bắt đầu thông, các huyệt bị điểm từ từ mở ra. Chàng vươn vai ngồi dậy nói: “Tại hạ ngủ được một giấc dài, còn hai vị tỉ tỉ thật là mệt nhọc. Có một việc không tiện nói, xin hai vị đừng trách, ta… ta muốn đi tiểu tiện.” Chàng nghĩ thầm mình tự ý nói ra cho hai cô gái khỏi ngượng ngập.

A Châu, A Bích hai cô cùng bật cười. A Châu nói: “Cũng chẳng còn xa, chúng ta sẽ đến nhà một người họ Vương, lúc đó công tử lên bờ cho thoải mái.” Đoàn Dự đáp: “Thế thì tiện quá.” A Châu bỗng dưng nghiêm mặt nói: “Có điều Vương thái thái tính tình rất là khó chịu, không cho đàn ông lạ lên nhà. Công tử lên bờ rồi lập tức quay trở lại thuyền ngay, đừng ở lại lâu cho khỏi phiền phức.” Đoàn Dự đáp: “Được, tại hạ hiểu rồi”.


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.

 Bình luận