Phi hồ ngoại truyện

Chương 20: Hận Lòng Dằng Dặc Thiên Thu

trước
tiếp

Sau một lúc thẫn thờ, Hồ Phỉ và Trình Linh Tố đến con suối cách ngôi miếu cổ độ vài chục trượng để rửa mặt mũi chân tay. Trình Linh Tố lấy từ cái túi đeo sau lưng ra mấy cái bánh nướng. Hai người vừa ăn vừa nhìn dòng suối trong xanh. Hồ Phỉ vừa trải mấy phen kịch đấu, trong lòng buồn vui lẫn lộn. Đến lúc này chàng cảm thấy chân tay rã rời, tinh thần mỏi mệt, liền nằm dài bên suối mà ngủ một giấc cho sảng khoái rồi mới quay lại Dược Vương miếu.

Hai người bước vào tăng xá, khẽ đẩy cửa phòng, thấy Mã Xuân Hoa nằm chết trên giường, khóe miệng vẫn mỉm cười, vẻ mặt vô cùng mãn nguyện

Hồ Phỉ sa lệ, nói:

– Nhị muội! Y yêu cầu ta đem thi thể an táng bên cạnh phần mộ trượng phu, nhưng hiện giờ chúng ta đang bị truy nã gắt gao, làm sao đem quan tài đi được? Chi bằng dùng lửa thiêu hóa rồi đem tro cốt y đi an táng.

Trình Linh Tố khen phải.

Hồ Phỉ cúi xuống toan ôm thi thể Mã Xuân Hoa lên.

Trình Linh Tố đột nhiên giữ lấy tay chàng, quát:

– Hãy khoan!

Hồ Phỉ nghe thanh âm có vẻ nghiêm trọng và cấp bách vội rụt tay hỏi:

– Chuyện gì vậy?

Trình Linh Tố chưa kịp trả lời, Hồ Phỉ đã nghe tiếng thở rất khẽ từ phía sau. Chàng quay đầu nhìn lại thì thấy phía sau cánh cửa tăng xá có hai người đang nấp. Đó là đại sư huynh của Trình Linh Tố là Mộ Dung Cảnh Nhạc và tam sư tỷ của cô là Tiết Thước. Giữa lúc ấy, Trình Linh Tố đưa tay lên, ném Xích yết phấn vào dưới gầm giường Mã Xuân Hoa.

Hồ Phỉ động tâm nghĩ thầm:

– Chắc địch nhân dưới gầm giường lợi hại lắm.

Lại thấy Tiết Thước giơ tay đẩy cửa phòng toan vọt ra. Hồ Phỉ hành động chớp nhoáng, tay trái vòng ôm ngang lưng Trình Linh Tố nhảy vọt ra ngoài. Lúc phi thân qua cửa, chàng co chân đá vào cánh cửa đánh “rầm” một tiếng, kẹp chặt Mộ Dung Cảnh Nhạc và Tiết Thước vào giữa cánh cửa và bức tường. Mộ Dung Cảnh Nhạc ráng chịu đau, nhưng Tiết Thước vì lưng còng mà bị đè ép vào tường đau không chịu nổi cất tiếng la oai oái.

Hồ Phỉ và Trình Linh Tố vừa đứng ngoài cửa đã thấy dưới gầm giường có khói đỏ mờ. Làn “Xích Yết phấn” bị người dùng chưởng lực quạt bay lên. Tiếp theo là bóng người chuyển động, một kẻ từ gầm giường chui ra. Mấy tiếng leng keng vang lên, trong tay người ấy cầm chiếc hổ sanh chém xuống Hồ Phỉ.

Hồ Phỉ nhìn rõ diện mạo liền nhận ra là Thạch Vạn Sân, mạo xưng Độc Thủ Dược Vương.

Trình Linh Tố la lên:

– Đừng đụng vào binh khí và người hắn.

Hồ Phỉ đối với hai gã sư huynh sư tỷ của Trình Lình Tố vốn đã cực kỳ cảnh giác, nên biết ngay khắp mình người kia chỗ nào cũng có chất độc, chỉ để dính vào mình một chút là hậu hoạn vô cùng.

Chàng liền bước qua mé tả ba bước để tránh đòn. “Soạt” một tiếng, chàng rút đơn đao ra chiêu “Giãn quả hồi cam” quay lại phản kích. Chiêu đao chém tới cực kỳ mau lẹ. Thạch Vạn Sân không tránh kịp đành vung hổ sanh lên đỡ đánh choang một tiếng. Cả hai đều dang ra. Những hạt sắt trong hổ sanh bị chấn động rung lên liên hồi.

Lúc này Mộ Dung Cảnh Nhạc và Tiết Thước đã chạy đến phía sau Thạch Vạn Sân.

Thạch Vạn Sân vừa tiếp một chiêu, thấy đao pháp của Hồ Phỉ đã tinh diệu mà tý lực lại cực kỳ mãnh liệt làm cho cánh tay lão tê chồn, lão không tiến đánh nữa.

Hồ Phỉ cũng lấy làm lạ, thầm nghĩ:

– Lão này chuyên dùng độc mà võ công cũng ghê gớm thật! Chiêu “Giãn quả hồi cam” ta phản đòn bất ngờ, vậy mà hắn vẫn đỡ được.

Bỗng nghe Mộ Dung Cảnh Nhạc lên tiếng;

– Trình sư muội! Đã thấy sư thúc, sao không dập đầu bái kiến?

Trình Linh Tố hỏi:

– Vị sư thúc này ở đâu chui ra? Trước nay tiểu muội chưa từng nghe ai nói đến?

Thạch Vạn Sân lạnh lùng hỏi lại:

– Ngươi đã nghe danh “Độc thủ thần kiêu” bao giờ chưa? Chẳng lẽ sư phụ ngươi trước nay không dám nhắc đến tên ta?

Trình Linh Tố đáp:

– “Độc thủ thần kiêu” ư? Danh tự này dường như vãn bối đã từng được nghe rồi. Tiên sư cũng nói trước kia người quả có một vị sư đệ, nhưng y lạm dụng độc dược hại người, gây nên rất nhiều tội ác, nên bị sư tổ đuổi ra khỏi môn tường. Thạch tiền bối! Té ra là tiền bối đấy ư?

Thạch Vạn Sân mỉm cười, lạnh lùng hỏi:

– Bọn ta đều nghiên cứu việc dùng độc dược. Đã mang chữ “độc” rồi, sao còn giả vờ làm hảo nhân nữa? Thạch mỗ chẳng thà làm chân tiểu nhân, chứ chẳng thèm bất chước sư phụ ngươi làm ngụy quân tử.

Trình Linh Tố tức giận hỏi:

– Gia sư đã giết người vô tội bao giờ chưa?

Thạch Vạn Sân đáp:

– Chẳng lẽ sư phụ ngươi giết người còn ít lắm ư? Lão nói những người bị lão hạ độc chết đều phạm tội đại ác, chết là đáng kiếp, nhưng người ngoài đều bảo vị tất đã đúng. Nhất là những nhà có người bị hại lại càng không phục.

Hồ Phỉ trong lòng run lên, nghĩ thầm:

– Lời nói của lão này xem ra cũng có đôi phần hợp đạo lý.

Trình Linh Tố nói:

– Phải rồi! Gia sư cũng hối hận là đã hại người quá nhiều, nên về sau lão nhân gia xuất gia làm hòa thượng, lễ Phật sám hối. Lão nhân gia thường răn dạy bọn sư huynh sư muội vãn bối trừ phi gặp trường hợp bất đắc dĩ thì quyết không được hại người. Suốt đời vãn bối chưa từng hại tính mạng một ai.

Thạch Vạn Sân cười lạt đáp:

– Giả nhân giả nghĩa thì được ích gì? Ta coi ngươi thông minh lanh lợi, đúng là một nhân tài kiệt xuất trong sư môn. Mấy chiêu của ngươi trong cuộc đại hội chưởng môn thật hay quá! Cả sư thúc ngươi suýt nữa cũng chết oan.

Trình Linh Tố hỏi:

– Tiền bối đã tự xưng là sư thúc của vãn bối, lại mạo danh gia sư Độc Thủ Dược Vương. Nếu Độc Thủ Dược Vương chân chính còn sống trên đời, thì khi thò tay ra lấy Ngọc Long bôi làm gì lại không nhìn ra trên chén có dính “Xích Yết phấn”? Vãn bối phun khói “Tam ngô ngũ mô yên” trong nhà đại sảnh, làm sao gia sư cũng không biết được?

Cô hỏi hai câu này làm Thạch Vạn Sân đỏ mặt không biết nói sao. Nên biết Thạch Vạn Sân hồi còn nhỏ cùng Vô Sân đại sư học nghệ với nhau. Vì hắn lạm dụng độc dược làm hại người lành nên bị sư phụ đuổi khỏi môn tường. Trong mấy chục năm sau hắn đã tranh đấu với Vô Sân mấy lần. Cả hai người đều là đại hành gia về sử độc, nên việc sử dụng độc dược và độc vật cực kỳ ghê gớm, chỉ cần hình dung cũng đủ rõ.

Nhưng mấy lần tỷ đấu Thạch Vạn Sân vẫn luôn lâm vào thế hạ phong. Nếu Vô Sân đại sư không vì nghĩ đến tình đồng môn mà hạ thủ nương tình, thì đã kết liễu tính mạng lão từ lâu rồi. Lần tỷ đấu sau cùng. Thạch Vạn Sân bị “Đoạn trường thảo” làm cho mù mắt. Lão trốn qua núi Dã Nhân ở Miến Điện, dùng tơ nhện bạc giải trừ độc tính của “Đoạn trường thảo”, hai mắt mới sáng trở lại, nhưng nhãn lực bị kém trước rất nhiều. Vì thế mà Ngọc Long bôi dính Xích Yết phấn và Trình Linh Tổ hút thuốc nhả hơi có chất độc, lão cũng không phân biệt được.

Huống chi, Trình Linh Tố đã trồng thành công “Thất tâm hải đường” là ông vua của các chất độc. Xích Yết phấn trộn với bột lá “Thất tâm hải đường”, còn “Tam ngô ngũ mô yên” trộn với nhụy hoa “Thất tâm hải đường” khiến cho mùi vị khác lạ của các độc dược đều mất hết, mà độc tính càng tăng thêm phần lợi hại.

Thạch Vạn Sân ở núi Dã Nhân mười năm mới chữa khỏi đôi mắt trở về Trung nguyên, được tin Vô Sân đại sư đã chết, tin chắc mình đã có thể xưng hùng thiên hạ. Dè đâu sư huynh lão lại có một đệ tử còn nhỏ tuổi mà công phu lại vô cùng lợi hại như Trình Linh Tố.

Trình Linh Tố lúc ấy hóa trang làm mụ già lọm khọm, khiến một cao thủ chuyên dùng độc như Thạch Vạn Sân có nằm mơ cũng không ngờ được rằng mụ già lọm khom đó có thể thở khói thuốc làm cho lão phải ngã lăn ra.

Trình Linh Tố đưa ra hai câu hỏi khiến Thạch Vạn Sân phải cứng miệng, không biết trả lời ra sao.

Mộ Dung Cảnh Nhạc liền lên tiếng:

– Sư muội! Ngươi đắc tội với sư thúc mà không dập đầu tạ tội thì quả là ngông cuồng lớn mật. Lão nhân gia mà nổi giận là ngươi lập tức chết không có đất chôn thây. Ta cùng Tiết sư muội đã quy đầu làm môn hạ lão nhân gia rồi. Ngươi hãy ngoan ngoãn dâng cuốn “Dược Vương thần biên” ra, không chừng lão nhân gia sẽ hoan hỷ thu ngươi làm đệ tử, há chẳng hay hơn ư?

Trình Linh Tố trong lòng tức giận, nghĩ thầm:

– Sư huynh sư tỷ phản sư môn, quy đầu dưới trướng một tên khí đồ trong bản phái là phạm vào trọng tội khi sư diệt tổ trong võ lâm. Bất luận môn phái nào cũng đều xử tử không tha.

Những cô vẫn giữ vẻ mặt thản nhiên, đáp:

– Té ra hai vị đã quy đầu làm môn hạ Thạch tiền bối! Vậy thì tiểu muội không thể xưng hô các vị là sư huynh, sư tỷ được nữa. Còn Khương sư ca đâu? Y có quy đầu dưới trướng Thạch tiền bối không?

Mộ Dung Cảnh Nhạc nói:

– Khương sư đệ không hiểu thời cuộc, chẳng nghe lời giáo huấn, đã bị gia sư xử tử rồi.

Trình Linh Tố trong lòng chua xót, vì Khương Thiết Sơn tuy tính tình ngang ngạnh, hành sự ngỗ ngược, nhưng là người thẳng thắn nhất trong ba vị sư huynh sư tỷ của cô. Không ngờ y lại chết về tay Thạch Vạn Sân.

Cô lại hỏi:

– Tiết tam tỷ! Con trai của tam tỷ là Tiểu Thiết hiện đang ở đâu? Y vẫn mạnh giỏi chứ?

Tiết Thước lạnh lùng đáp:

– Y chết rồi!

Trình Linh Tố hỏi:

– Y chết về bệnh gì?

Tiết Thước nói:

– Y là con ta, ngươi hỏi làm chi?

Trình Linh Tố nói:

– Phải rồi! Tiểu muội không nên can thiệp vào việc của kẻ khác, lại chưa kịp chúc mừng hai vị. Mộ Dung đại ca cùng Tiết tam tỷ thành thân đã bao lâu rồi? Chúng ta là chỗ đồng môn, vậy mà hai vị cũng không mời được tiểu muội một chung rượu mừng.

Giữa ba người Mộ Dung Cảnh Nhạc, Khương Thiết Sơn, Tiết Thước dây dưa ân oán cực kỳ thê thảm. Ban đầu Tiết Thước luyến ái Mộ Dung Cảnh Nhạc. Mộ Dung Cảnh Nhạc lại đi lấy người khác, Tiết Thước tức giận liền dùng thuốc độc giết vợ hắn. Mộ Dung Cảnh Nhạc bèn dùng thuốc độc phá hủy dung mạo Tiết Thước, lại khiến mụ gù lưng để trả thù cho vợ. Khương Thiết Sơn từ lâu đã thương yêu người sư muội này, nên dù mụ biến thành xấu xí, hắn vẫn không rẻ rúng mà lấy làm vợ. Ngờ đâu sau khi hai người thành thân sinh con rồi, Mộ Dung Cảnh Nhạc lại nghĩ tới những chỗ tử tế của sư muội, đem lòng luyến ái. Rốt cuộc hắn cùng Khương Thiết Sơn trở mặt thành thù. Hai vợ chồng Khương, Tiết phải làm một tòa thiết thất để ngăn cản không cho vị đại sư huynh xâm phạm. Không ngờ kết cục Khương Thiết Sơn bị Thạch Vạn Sân giết chết. Mộ Dung Cảnh Nhạc cùng Tiết Thước kết thành vợ chồng.

Trình Lình Tố biết trong vụ này có nhiều uẩn khúc, cô tự nhủ:

– Nhị sư ca mà chết về tay Thạch Vạn Sân chắc chỉ vì y không chịu bội phản sư môn, cúi đầu làm môn hạ của lão. Nhưng đầu đuôi chắc đều do đại sư ca xúi giục. Tam sư tỷ chịu cải giá lấy đại sư ca, không chừng cũng dự phần vào tội mưu sát thân phu.

Cô liền thở dài nói:

– Ngày Tiểu Thiết trúng độc, tiểu muội đã tìm cách cứu chữa, tưởng không uổng phí một phen tâm huyết không ngờ y lại chết vì “Đào hoa chướng”. Âu đó cũng là số mệnh.

Mộ Dung Cảnh Nhạc biến sắc hỏi:

– Làm sao ngươi biết…

Hắn mới nói bốn chữ “làm sao ngươi biết” thì đột nhiên ngừng lại, liếc mắt nhìn Tiết Thước.

Trình Linh Tố đáp:

– Tiểu muội chỉ đoán mò vậy thôi!

Nguyên Mộ Dung Cảnh Nhạc có công phu hạ độc độc môn. Hắn đến chỗ giáp giới hai tỉnh Vân, Quý thu lấy chướng độc của “Đào hoa chướng” để chế thành một thứ độc đạn. Khương Thiết Sơn và Tiết Thước cùng hắn giao thủ nhiều năm, về sau cũng nghĩ ra được cách giải độc.

Trình Linh Tố chỉ nói một câu thăm dò, không ngờ Mộ Dung Cảnh Nhạc một là vì vụ này có thật, hai là do quá đột ngột nên hắn vô tình buột miệng thừa nhận.

Cô càng thêm tức giận, lại hỏi:

– Tam sư tỷ! Sao sư tỷ tàn độc đến thế? Nhi sư ca đối đãi với sư tỷ hết lòng mà sao sư tỷ lại nỡ cùng đại sư ca mưu sát thân phu cùng con ruột?

Nên biết Khương Tiểu Thiết trúng phải độc đạn “Đào hoa chướng” của Mộ Dung Cảnh Nhạc. Tiết Thước có thuốc giải mà mụ nhẫn tâm bỏ mặc không cứu, dù cái chết của cha con Khương Thiết Sơn không phải do mụ chính tay hạ thủ thì cũng là kẻ đồng mưu. Trình Linh Tố chỉ từ một câu nói bỏ lửng của Mộ Dung Cảnh Nhạc mà đoán ra được nội tình của một trướng biến cố nhân luân thảm khốc.

Tiết Thước vội vàng lảng sang chuyện khác, hỏi:

– Tiểu muội! Sư phụ ta đã có lòng chiếu cố, đó thật là vận may cho ngươi. Sao ngươi còn chưa dập đầu làm lễ bái sư đi?

Trình Linh Tố hỏi lại:

– Nếu tiểu muội không bái sư thì sẽ cùng chung số phận với nhị sư ca, có phải không?

Mộ Dung Cảnh Nhạc đáp:

– Cũng không hẳn thế! Ngươi được phúc mà không biết hưởng thì người khác việc gì phải cưỡng ép ngươi? Có điều cuốn “Dược Vương thần biên” thì ngươi nên đưa ra. Gia sư vốn có lòng quảng đại sẽ không truy cứu chuyện ngươi xúc phạm đến lão nhân gia trong đại hội chưởng môn vừa rồi.

Trình Linh Tố gật đầu nói:

– Đại sư ca nói đúng. Nhưng cuốn “Dược Vương thần biên” là do chính tay gia sư Vô Sân đại sư soạn ra. Sư huynh sư muội ba người chúng ta đã cải đầu vào làm môn hạ của Thạch tiền bối thì nên phế bỏ sạch bao nhiêu công phu của tiên sư truyền thụ để học lại từ đầu. Thạch tiền bối và tiên sư môn hộ chẳng đồng. Tài nghệ của Thạch tiền bối chưa hẳn đã giỏi hơn tiên sư, nhưng nhất định có sở trường, nếu không thì tội gì hai vị phải bái làm minh sư, lại còn bảo tiểu muội nào là “có phúc mà không biết hưởng”, nào là “đây là vận may của tiểu muội”. Cuốn “Dược Vương thần biên” đã thành vô dụng, để tiểu muội đốt quách đi.

Cô nói rồi lấy cuốn sách viết tay trên giấy vàng trong áo ra, đánh hỏa tập lên châm vào đốt.

Thạch Vạn Sân ban đầu nghe cô nói đốt cuốn “Dược Vương thần biên” đã cười thầm nghĩ bụng:

– Tên giặc Vô Sân đã hao tổn tâm huyết một đời viết ra cuốn “Dược Vương thần biên” mà mi đốt bỏ được ư?

Khi lão thấy cô cầm cuốn sách và hỏa tập liền tự nhủ:

– Con nha đầu này thật là giảo quyệt! Thị đã biết sư huynh sư tỷ muốn đoạt pho “Dược Vương thần biên” thì khi nào lại không giả tạo một cuốn khác để bịp người. Nhưng thị hý lộng trước mặt ta thì có khác gì đánh trống qua cửa nhà sấm.

Vì thế lão thấy Trình Linh Tố bật lửa đốt cuốn sách cũng chỉ mỉm cưới chứ chẳng đoái hoài gì đến.

Đến khi cuốn sách bị khí nóng làm mở tung ra, rõ ràng chất giấy cũ mèm, lão nhìn tự tích đúng là thủ bút của Vô Sân đại sư thì không khỏi giật mình kinh hãi, la thầm:

– Ôi chà! Không xong rồi! Con nha đầu này chắc đã học thuộc lòng cả cuốn sách rồi, nên đối với y, nó đã trở thành vô dụng. Ngàn vạn lần cũng không thể để y đốt cháy được.

Lão vội la lên:

– Dừng tay!

Đồng thời vung chưởng ra nhanh như gió, đánh mồi lửa tắt liền.

Trình Linh Tố lấy làm lạ, hỏi:

– Ô hay! Vụ này vãn bối không sao hiểu được. Nếu y thuật của Thạch tiền bối đã cao thâm hơn tiên sư thì còn cần gì đến cuốn sách này? Còn nếu như tiền bối chưa bằng tiên sư thì thu vãn bối làm đệ tử thế nào được?

Mộ Dung Cảnh Nhạc nói:

– Nghề dùng độc của sư phụ ta so với tiên sư còn cao minh hơn nhiều lắm. Nhưng biển cả không chê dòng nhỏ, trong đá ở núi khác vẫn có thể tìm ra được ngọc. Cuốn “Dược Vương thần biên” này đã là tâm huyết mốt đời của tiên sư, thì gia sư mở coi có thể chỉ ra được những chỗ sai lầm hay chưa đầy đủ.

Hắn là tú tài xuất thân nên dù là những lời cưỡng từ đoạt lý mà nói nghe cũng rất văn vẻ.

Trình Linh Tố gật đầu nói:

– Học vấn của đại sư ca ngày càng tiến triển. Hai người nấp ở khe cửa. Một người chui dưới gầm giường định ám toán Hồ đại ca cùng tiểu muội. Thạch tiền bối! Vãn bối có một điều muốn thỉnh giáo. Nếu tiền bối chỉ rõ bến mê thì vãn bối xin hai tay dâng cuốn “Dược Vương Thần biên” này và cầu mong tiền bối khai ân thu nạp vãn bối làm đồ đệ.

Thạch Vạn Sân biết vấn đề cô đưa ra sẽ rất cổ quái điêu ngoa, vị tất lão có thể giải đáp được. Nhưng cuốn “Dược Vương thân biên” đang nằm trong tay Trình Linh Tố. Cô chỉ cất tay một cái là hủy nó được ngay, nên lão phải kiêng dè đôi chút. Lão liền hỏi lại:

– Ngươi muốn hỏi ta điều chi?

Trình Linh Tố đáp:

– Người rợ Miêu ở Quỳ Châu có thứ “Bích tàm độc cổ”…

Thạch Vạn Sân vừa nghe nói đến bốn chữ “Bích tàm độc cổ” liền biến đổi sắc mặt.

Lại nghe cô nói tiếp:

– Lấy trứng thứ côn trùng này nghiền ra làm phấn bột rắc lên áo quần cũng như đồ dùng, người ngoài không biết lỡ chạm vào là trúng độc. Cái này là một trong các đại cổ độc của người Miêu, có đúng thế không?

Thạch Vạn Sân gật đầu, đáp:

– Đúng vậy! Con tiểu nha đầu ngươi biết nhiều chuyện lắm!

Lão từ núi Dã Nhân về lại Trung nguyên, được tin Vô Sân đại sư chết rồi liền trút hận lên đầu bọn đệ tử, những muốn giết hết cho hả dạ. Dè đâu Mộ Dung Cảnh Nhạc là con người chẳng có khí phách chút nào, vừa bị Thạch Vạn Sân kiềm chế đã van xin tha mạng. Hắn còn nói sư phụ có để lại pho “Dược Vương thần biên”, hiện lọt vào tay tiểu sư muội. Hắn nguyện bái lão làm thầy và dẫn đường cho lão đi đoạt lại pho sách kia.

Thạch Vạn Sân tuy căm hận Vô Sân đại sư thấu xương, nhưng trong lòng lại rất kính húy đại sư ca. Lão nghe nói Vô Sân đại sư để lại sách thì nghĩ rằng những sở học về công phu sử độc ghi chép trong đó ắt có vô số pháp môn cực kỳ trân quý, nên thu Mộ Dung Cảnh Nhạc làm đồ đệ. Lão lại nghe hắn xúi giục giết chết cha con Khương Thiết Sơn và thu nạp Tiết Thước.

Thạch Vạn Sân đã động thủ với cả ba người và nhận thấy võ công của họ kém sư phụ một trời một vực, nên khi nghe nói Trình Linh Tố bất quá là cô gái mười tám mười chín tuổi, thì lão chẳng quan tâm chút nào, chắc mẩm hễ gặp cô là thò tay ra bắt được ngay.

Khi ở trong đại hội, lão mắc bẫy cô nhưng chưa chịu phục mà chỉ trách mình vì cặp mắt bị “Đoạn trường thảo” làm cho tổn thương nên không nhìn ra “Xích Yết phấn” và “Tam ngô ngũ mô yên”. Có điều Hồ Phỉ phô trương thân thủ trong đại hội khiến lão phải sinh lòng úy kỵ.

Lão ngấm ngầm theo sau, chờ khi Hồ Phỉ cùng Trình Linh Tố đến Đào Nhiên đình phó ước, thầy trò ba người liền lén vào hậu viện miếu Thần Nông, chủ tâm đoạt cuốn “Dược Vương thần biên”. Lão thấy quần hùng Hồng Hoa hội người đông thế mạnh phải ẩn nấp trong hậu viện không dám ló ra. Mãi đến lúc Hồ Phỉ cùng Trình Linh Tố ra ngoài miếu để tiễn chân quần hùng, rồi xuống suối ăn uống nghỉ ngơi, ba người mới lén vào phòng Mã Xuân Hoa để chờ hai người trở vè. Chúng chuẩn bị đánh một đòn là thành công, không ngờ Trình Linh Tố rất tinh quái, cảnh giác kịp thời trong tình huống ngàn cân treo sợi tóc.

Lão nghe Trình Linh Tố nhắc tới “Bích tàm độc cổ” bất giác giật mình kinh hãi, nghĩ thầm:

– Không ngờ con tiểu nha đầu này lại ghê gớm đến thế. Sư huynh sư tỷ đồng môn của y còn kém quá xa.

Lão bèn để hết tâm thần đề phòng, chẳng dám khinh địch chút nào.

Trình Linh Tố lại nói:

– Phấn bột “Bích tàm độc cổ” khi chưa rắc vào quần áo hay đồ dùng thì không có màu sắc cũng chẳng có mùi vị, nên người ngoài khó lòng phát hiện. Có điều chất độc không thấm vào huyết nhục thì độc tính không mạnh lắm, có thể giải trừ được, chỉ khi nào thấm vào máu mới bỏ mạng. Có điều sự đời khó lòng hoàn hảo, độc phấn đó khi rắc vào thân người thì ẩn hiện sắc xanh biếc. Thạch tiền bối bỏ chất độc vào thi thể Mã cô nương, nếu chỉ rắc vào quần áo thì khó lòng nhìn ra được. Thạch tiền bối lại muốn được tận thiện tận mỹ nên đã cẩn thận rắc cả chất độc lên tay, lên mặt cô nữa.

Hồ Phỉ nghe tới đây mới hiểu rõ là thầy lang lần này dụng tâm vô cùng âm độc. Lão rắc chất kịch độc vào người Mã Xuân Hoa để khi chàng cùng Trình Linh Tố khiêng thi thể nàng tất phải trúng độc. Chàng không nhịn được cất tiếng thóa mạ:

– Tên ác tặc kia! Ngươi định hại người, e rằng lại tự hại mình!

Thạch Vạn Sân vung hổ sanh lên kêu loảng xoảng, nói:

– Con tiểu nha đầu này nhãn lực khá lắm mới nhận ra chất “Bích tàm độc cổ” của ta. Trong bọn người Hán, ngoài ta ra chẳng có nhân vật thứ hai nào biết sử dụng chất độc này. Hay lắm, quả là có nhãn lực, có bản lĩnh. Sư huynh, sư tỷ làm gì bì được kịp ngươi?

Trình Linh Tố đáp:

– Tiền bối quá khen mà thôi. Vãn bối bì với sư huynh sư tỷ thế nào được? Có điều vãn bối chưa hiểu là trong cuốn “Dược Vương thần biên” của tiên sư đã nói đến việc rắc chất độc “Bích tàm độc cổ” lên người không muốn lộ màu xanh biếc cũng không khó lắm, mà sao Thạch tiền bối lại không dùng cách đó.

Thạch Vạn Sân giương cặp lông mày lên hỏi lại:

– Ngươi lại nói nhăng nói càn rồi. Người rợ Miêu là tổ sư dùng cổ độc cũng không biết cách này. Sư phụ ngươi chưa từng đến Miêu Cương bao giờ thì biết cái gì?

Trình Linh Tố đáp:

– Tiền bối nói vậy vãn bối chẳng thể không tin. Nhưng trong cuốn di thư của tiên sư có dạy cách này. Chẳng hiểu tiền bối nói đúng hay tiên sư nói đúng?

Thạch Vạn Sân hỏi:

– Cách đó thế nào? Ngươi nói thử nghe!

Trình Linh Tố đáp:

– Văn bối nói ra nhất định tiền bối không tin. Trúng hay trật phải thử coi mới biết.

Thạch Vạn Sân hỏi:

– Thử bằng cách nào?

Trình Linh Tố đáp:

– Tiên bối lấy “Bích tàm độc cổ” rắc vào tay người rồi, vãn bối dùng thuốc của tiên sư phủ lên xem có màu sắc gì không?

Thạch Vạn Sân suốt đời nghiên cứu độc dược, nghe cô nói có diệu pháp, trong lòng bán tín bán nghi, rất muốn thử xem chân giả, liền hỏi:

– Rắc thuốc vào tay ai để thử?

Trình Linh Tố đáp:

– Cái đó do tiền bối chỉ định.

Thạch Vạn Sân nghĩ thầm:

– Nếu mình đề nghị rắc thuốc vào tay thị thì chắc là thị không chịu. Còn rắc lên tay gã thiếu niên hùng hổ kia thì bất tất phải nói đến!

Lão trầm ngâm một chút, bỗng nhìn Mộ Dung Cảnh Nhạc nói:

– Ngươi đưa tay trái ra đây!

Mộ Dung Cảnh Nhạc giật nảy mình, la hoảng:

– Vụ này, vụ này… sư phụ đừng mắc bẫy con tiểu nha đầu.

Thạch Vạn Sân sa sầm nét mặt lại giục:

– Đưa tay trái ra đây!

Mộ Dung Cảnh Nhạc thấy sư phụ sắc mặt nghiêm trọng, vốn không dám kháng cự, nhưng nghĩ tới “Bích tàm độc cổ” cực kỳ lợi hại, một khi nó bám vào người rồi thì dù sư phụ có cho thuốc giải chữa được khỏi chết nhưng cũng phải một phen đau đớn khôn cùng.

Hắn giơ tay trái ra hơn thước, nhưng lại run bần bật vội rụt trở về.

Thạch Vạn Sân cười lạt nói:

– Giỏi lắm! Ngươi không chịu tuân theo sư mạng, đó là tự ngươi.

Mộ Dung Cảnh Nhạc nghe nói sáu chữ “không chịu tuân theo sư mạng” thì sắc mặt tái xanh, vì khi bái sư ai cũng lập lời trọng thệ hễ vi bội sư mạng là cam chịu trừng trị. Bọn chúng là loại người ngày nào cũng cận kề với độc vật, hai chữ “trừng trị” nghe rất hời hợt, thực ra lại bao hàm những điều cực kỳ tàn khốc, khiến người ta nghĩ đến đều sởn gáy.

Hắn lại toan đưa tay ra thì Tiết Thước bỗng nói:

– Sư phụ! Xin thử vào tay đệ tử.

Rồi mụ thản nhiên đưa tay trái ra.

Thạch Vạn Sân nói:

– Không cần đến ngươi. Hắn là nam tử hán đại trượng phu mà chẳng ra cái giống gì!

Mộ Dung Cảnh Nhạc đáp:

– Chẳng phải là đệ tử sợ chất độc, nhưng nghĩ tới tên tiểu sư muội kia ngụy kế đa đoan nên không muốn mắc bẫy thị.

Trình Linh Tố gật đầu:

– Đại sư ca quả nhiên lợi hại phi thường. Ngày trước đối với tiên sư, đại ca đã bao phen chọc tức lão nhân gia. Ngày nay đại sư ca cải bái tân sư phụ vẫn tỏ ra trò cứng rắn hơn thầy.

Thạch Vạn Sân biết rõ cô nói vậy cốt để ly gián hai người, nhưng cũng lườm Mộ Dung Cảnh Nhạc một cái. Mộ Dung Cảnh Nhạc nhìn khóe mắt lão mà sởn gai ốc, không tự chủ được, đành chịu đưa tay trái ra.

Thạch Vạn Sân móc trong túi lấy một cái hộp nhỏ sắc vàng. Lão nhẹ nhàng mở nắp hộp, trong hộp đựng ba con tằm nhỏ suốt mình toàn một màu xanh biếc, đang ngọ ngoạy. Lão dùng chiếc thìa nhỏ khều một chút phấn xanh lục rắc vào lòng bàn tay Mộ Dung Cảnh Nhạc.

Mộ Dung Cảnh Nhạc cánh tay run bản bật. Hắn vừa kinh hãi vừa phẫn nộ, da mặt co rúm lại, mắt lộ hung quang như dã thú đang muốn cắn người.

Hồ Phỉ bụng bảo dạ:

– Nhị muội đi nước cờ này chưa biết ra sao, nhưng cũng gieo cho thầy trò hắn một mối thâm cừu đại hận. Sau này Mộ Dung Cảnh Nhạc mà gặp cơ hội nhất định là trả thù sư phụ để rửa mối hận hôm nay.

Chút phấn xanh lục đặt trên lòng bàn tay Mộ Dung Cảnh Nhạc chỉ trong nháy mắt đã thấm vào da thịt không thấy gì nữa, nhưng lòng bàn tay ẩn hiện màu xanh tựa hồ vừa bóp nát lá cây.

Thạch Vạn Sân nói:

– Tiểu nhi! Ngươi dùng cách gì để lòng bàn tay hắn biến mất màu xanh biếc.

Trình Linh Tố chẳng lý gì đến lão. Cô quay lại nhìn Hồ Phỉ hỏi:

– Đại ca! Ngày trước ở Bạch Mã Tự bên hồ Động Đình, tiểu muội lúc vừa gặp đại ca đã có ước pháp tam chương. Đại ca còn nhớ không?

Hồ Phỉ đáp:

– Còn nhớ!

Chàng nghĩ bụng:

– Ngày đó y bảo ta không được nói, không được cùng người động võ, không được rời xa y ba bước, nhưng cả ba điều ta chẳng theo được điều nào.

Trình Linh Tố nói:

– Đại ca còn nhớ là hay lắm. Bữa nay vẫn làm theo ba điều đó, nhất thiết không được quên.

Hồ Phỉ gật đầu.

Trình Linh Tố liền nói:

– Thạch tiền bối! Bên mình tiền bối chắc có “Hạc đỉnh hồng” và “Khổng tước đảm”. Hai dược vật này hòa với “Bích tàm độc cổ” vừa tương khắc lại vừa tương hỗ. Tiền bối không tin thì cứ coi trong di trước của tiên sư.

Cô nói rồi cầm cuốn sách nhỏ giấy vàng đưa ra trước mắt Thạch Vạn Sân.

Thạch Vạn Sân xem qua, quả nhiên thấy dòng chữ viết:

“Hạc đỉnh hồng” và “Khổng tước đàm” hòa với “Bích tàm độc cổ” biến thành không màu sắc, không mùi vị, nhưng hiệu nghiệm chậm hơn.

Lão muốn coi xuống dưới nhưng Trình Linh Tố đã gấp sách lại rồi.

Thạch Vạn Sân bụng bảo dạ:

– Lão trọc Vô Sân quả là học rộng. Ta hãy thử xem chân giả. Nếu đúng như lời thì cuốn “Dược Vương thần biên” này không phải là ngụy tạo.

Lão đã nghiên cứu độc dược gần hai chục năm, quên ăn bỏ ngủ đến độ gần như cuồng điên, để mong thắng được sư huynh. Bây giờ lão thấy cuốn sách giấy vàng cũ mèm này, tưởng chừng như trong đó chứa một kho tàng vô cùng trân quý có một không hai trong thiên hạ. Bản tính lão tàn nhẫn khắc bạc. Lão và Mộ Dung Cảnh Nhạc lợi dụng lẫn nhau chứ chẳng có tình thầy trò gì cả.

Lão còn nghĩ đã rắc chất độc vào tay hắn thì ngày sau nếu gặp cơ hội tất hắn trả đũa. Lão nghĩ thế nên chẳng kể gì đến việc dùng một lần ba thứ kịch độc, cũng không cần nghĩ tới cách hóa giải về sau.

Lão liền búng nhẹ móng tay trỏ tạo thành lớp bụi mỏng màu hồng rớt xuống lòng bàn tay Mộ Dung Cảnh Nhạc. Tiếp theo lão lại búng nhẹ móng tay giữa tạo thành lớp bụi mỏng màu xanh rớt xuống lòng bàn tay hắn.

Trình Linh Tố thấy lão không móc bình thuốc trong bọc ra, mà chỉ thuận tay bắn độc dược, thủ cước còn linh hoạt hơn cả tiên sư lẫn bản thân mình thì trong lòng không khỏi ngấm ngầm bội phục.

Cô ngưng thần nhìn lão, chợt động tâm vì đã thấy rõ chỗ huyền diệu bên trong.

Nguyên đai lưng lão đã khâu thành bảy tám chục ngăn, ngăn nào cũng đựng thuốc bột. Lão chỉ thò tay vào là khều được thuốc bột cần dùng vào móng tay. Thủ pháp của lão đã luyện rất thành thục, chỉ cần đưa cánh tay là móng tay đã móc được thuốc ra rồi, công phu đạt đến độ quỷ không hay, thần không biết. Lão chỉ cất tay một cái là đã bắn được độc phấn để đối phương không biết đường nào đề phòng hay tránh né.

Phấn độc “Hạc đỉnh hồng” và “Khổng tước đảm” bắn vào lòng bàn tay Mộ Dung Cảnh Nhạc nhanh như sét đánh không kịp bưng tai, khiến hắn không rụt tay về kịp.

Mộ Dung Cảnh Nhạc đã quyết tâm không để cho hai chất kịch độc kia thấm vào da thịt. Hắn thấy Thạch Vạn Sân đối với mình tàn độc như vậy, chẳng thà hắn chịu khuất phục tiểu sư muội để ba người liên thủ chống lại lão, còn hơn là phải chịu bao cảnh giày vò đau khổ.

Ngờ đâu thủ pháp của Thạch Vạn Sân nhanh như điện chớp, Mộ Dung Cảnh Nhạc xoay chuyển ý nghĩ chưa xong thì hai chất độc đã dính vào lòng bàn tay hắn rồi.

Sau khi hai làn bụi mỏng màu hồng và màu xanh bắn vào lòng bàn tay hắn, màu biếc lục ẩn hiện lúc này lập tức biến mất, màu da trở lại bình thường không có chi khác lạ.

Thạch Vạn Sân bật tiếng hoan hô:

– Hay quá!

Lão vươn tay ra chụp lấy cuốn “Dược Vương thần biên” trong tay Trình Linh Tố.

Trình Linh Tố chỉ mỉm cười chứ không rụt tay về.

Năm ngón tay Thạch Vạn Sân sắp đụng vào bìa sách, đột nhiên hắn tự hỏi:

– Con nha đầu này là đệ tử giữ cửa của lão trọc, trên cuốn sách này làm gì chẳng đặt cơ quan?

Lão vội rụt tay lại, tự mắng thầm:

– Lão Thạch ơi là lão Thạch! Ngươi dám coi thường con tiểu nha đầu kia thì dù có mười mạng cũng trao hết vào tay thị.

Gang bàn tay Mộ Dung Cảnh Nhạc hết tê chồn lại ngứa ngáy từng cơn đau thấu tâm can, đường như có ngàn vạn con kiến đang đồng thời cắn rỉa trong tâm tạng. Hắn sợ run, bật tiếng la:

– Tiểu sư muội! Mau lấy thuốc giải cho ta!

Trình Linh Tố hỏi:

– Ô hay! Đại sư ca quên lời dặn của tiên sư rồi ư? Người bản môn không được phóng cổ độc, lại thêm chín thứ độc dược không thuốc giải cũng không được dùng.

Mộ Dung Cảnh Nhạc vừa nghe nói câu này, lưng toát mồ hôi lạnh, miệng ấp úng:

– “Hạc đỉnh hồng”… “Khổng tước đảm”… đã thuộc vào cửu đại cấm dược. Sao sư muội… lại hạ vào người ta? Như vậy chẳng hóa ra ngươi phản bội lời giáo huấn của tiên sư ư?

Trình Linh Tố lạnh lùng đáp:

– Đại sư ca còn nhớ tới tiên sư, lại còn nhớ không được làm trái lời giáo huấn của lão nhân gia, thật là ra ngoài sự tiên liệu của tiểu muội. Chất “Bích tàm độc cổ” kia có phải tiểu muội đưa vào tay đại sư ca đâu? Cả “Hạc đỉnh hồng” và “Khổng tước đảm” cũng có phải tiểu muội phóng vào người đại ca không? Tiên sư đã ân cần căn dặn, trừ phi gặp lúc sinh tử quan đầu thì quyết không được dùng loại độc dược không có thuốc giải. Đó là giới cấm thứ nhất của bản môn. Thạch tiền bối, đại sư ca và tam sư tỷ đã thoát ly bản môn thì giới cấm đó không cần phải tuân thủ, nhưng tiểu muội thì không thể quên được.

Mộ Dung Cảnh Nhạc dùng tay phải nắm lấy huyệt mạch môn ở tay trái để ngăn chặn hơi độc đi lên. Trán hắn toát mồ hôi hột, nói không nên lời nữa.

Tiết Thước xoay tay mặt dùng đoản đao khía vào gang bàn tay Mộ Dung Cảnh Nhạc hai đường thành hình chữ thập để chất độc theo máu chảy ra ngoài. Mụ đã biết cách này không thể cứu được, nhưng ít ra độc tính cũng giảm bớt được vài phần.

Một mặt mụ nói với Trình Linh Tố:

– Tiểu sư muội! Trong di thư của sư phụ nói thế nào? Lão nhân gia đã truyền lại phép hòa hợp chất độc kia lại để sử dụng, thì nhất định cũng có đường giải cứu.

Trình Linh Tố hỏi vặn:

– Chữ “sư phụ” mà tam sư tỷ mới gọi đó trỏ vào vị nào? Là Vô Sân đại sư, sư phụ của tiểu muội, hay Thạch tiền bối, sư phụ của hiền phu phụ?

Tiết Thước nghe giọng lưỡi châm chọc của cô đã tức lộn ruột, muốn thóa mạ cho hả giận, nhưng vì tính mạng của trượng phu nguy ngập trong khoảnh khắc, nên mụ đành chịu khuất phục, lại xuống giọng năn nỉ:

– Ngu huynh ngu tỷ quả đáng chết lắm! Mong tiểu sư muội nghĩ đến tình đồng môn ngày trước và nghĩ đến vong linh của tiên sư Vô Sân đại sư mà cứu mạng cho y.

Trình Linh Tố lật cuốn “Dược Vương thần biên” trỏ vào hai dòng chữ nói:

– Xin Tam sư tỷ coi đây, vụ này không trách tiểu muội được.

Tiết Thước nhìn theo tay trỏ của cô thấy trong sách viết:

“Bích Tàm độc cổ” dùng chung với “Hạc đỉnh hồng” và “Khổng tước đảm”, để chất kịch độc đó nhập tâm thì chẳng có cách nào chữa được. Phải lấy đó mà răn mình!”

Tiết Thước cả giận quay lại nhìn Thạch Vạn Sân nói:

– Sư phụ! Trong sách đã nói rõ ba chất độc dược này trộn lẫn vào nhau thì chẳng còn thuốc nào chữa được, mà sao sư phụ lại thử vào mình Cảnh Nhạc?

Tuy miệng mụ kêu lão bằng sư phụ, nhưng giọng nói cùng vẻ mặt vô cùng gay gắt.

Thạch Vạn Sân thực tình chưa nhìn thấy hai hàng chữ này trong cuốn “Dược Vương thần biên”. Nhưng dù lão có nhìn thấy rồi cũng chẳng vì thế mà đem lòng úy kỵ. Bây giờ nghe Tiết Thước xẵng giọng chất vấn, đời nào lão chịu thừa nhận là mình không biết để cho mất mặt.

Lão chỉ đáp:

– Ngươi đưa cuốn sách đó cho ta coi, xem bên trong còn điều gì cổ quái nữa không?

Tiết Thước tức giận đến cực điểm, biết rằng nếu còn do dự thì tính mạng trượng phu chẳng thể bảo toàn. Mụ vung đoản đao lên chém đứt cánh tay Mộ Dung Cảnh Nhạc đến tận bả vai.

Nên biết ba chất độc kia lợi hại vô tỷ. Dù chỉ rắc vào lòng bàn tay, nhưng lúc này chất độc đã đi vào nội tạng, nên có chặt tay đi cũng vô ích. May ở chỗ ba chất độc kia hòa hợp với nhau phát tác chậm hơn, đồng thời lòng bàn tay hắn không có vết thương, độc tính không thể truyền ngay vào mạch máu, nên chặt một cánh tay thì tạm thời bảo toàn được tính mạng, không thì độc tính phát tác làm chết người ngay.

Tiết Thước là đồ đệ của Vô Sân đại sư, dĩ nhiên biết cách cầm huyết trị thương. Chỉ trong khoảnh khắc mụ đã buộc xong vết thương cho Mộ Dung Cảnh Nhạc bằng một thủ pháp gọn gàng mau lẹ.

Trình Linh Tố nói:

– Đại sư ca! Tam sư tỷ! Chẳng phải tiểu muội có ý hãm hại các vị. Nhưng hai vị bội phản sư môn, bái kẻ thù của sư phụ làm thầy, nguyên việc đó đã đáng tội chết rồi. Hai vị lại còn gia hại cha con nhị sư ca khiến cả người lẫn trời đều phẫn nộ. Hiện giờ bản môn chỉ còn mình tiểu muội là truyền nhân. Hai vị phạm tội phản bội sư môn mà tiểu muội không ra tay trừng giới thì không lẽ để thanh danh một đời của sư phụ bị cừu nhân và đồ đệ của hắn làm cho tan biến? Cha con nhị sư ca bị thảm tử mà tiểu muội không ra mặt chủ trì công đạo thì không lẽ để hai người đó vĩnh viễn phải hàm oan dưới cửu tuyền?

Cô thân hình bé nhỏ gầy nhom, lại còn ít tuổi, nhưng giọng nói đanh thép, tự nhiên phát sinh oai khí.

Hồ Phỉ nghe xong, ngấm ngầm gật đầu, nghĩ bụng:

– Hai người này đê hèn tàn độc, giết đi là phải.

Lại nghe Trình Linh Tố nói tiếp:

– Đại sư ca tuy đã chặt tay, nhưng độc khí công tâm rồi, chỉ trong vòng một tháng là chất độc phát tác hết đường cứu chữa. Hai vị đã ra khỏi sư môn, bị người hạ độc thủ thì lẽ ra chẳng có liên can gì đến tiểu muội, nhưng vì nghĩ đến vong linh tiên sư, ở đây có ba viên “Sinh sinh tạo hóa đan” do sư phụ tốn mấy năm tâm huyết mới chế luyện được. Tiểu muội thay mặt tiên sư ban cho đại ca. Mỗi viên có thể kéo dài mạng sống thêm ba năm. Sư huynh uống thuốc rồi nghĩ lại ơn đức của tiên sư và tự vấn tâm xem: sư phụ trước đối đãi với đại sư huynh tử tế hay là vị tân sư phụ này đối xử tử tế?

Cô nói rồi lấy trong bọc ra ba viên thuốc màu hồng đặt trong lòng bàn tay.

Tiết Thước toan thò tay đón lấy thì Thạch Vạn Sân cười lạt, nói:

– Tay đã chặt rồi còn sợ gì độc khí công tâm? Ba viên thuốc “Tử tử đoạt mệnh đan” này uống vào bụng thì độc khí mới công tâm đó.

Trình Linh Tố nói:

– Hai vị tin lời tân sư phụ thì không cần dùng đến ba viên thuốc này nữa.

Cô nói rồi toan cất thuốc vào bọc.

Mộ Dung Cảnh Nhạc vội nói:

– Không! Xin tiểu sư muội hãy cho ta!

Tiết Thước nói:

– Đa tạ tiểu sư muội! Từ nay trở đi hai người chúng ta ăn năn hối lối trở lại làm người lương thiện.

Mụ cúi đầu xuống trước mặt Trình Linh Tố để lấy ba viên thuốc.

Đột nhiên mụ lảo đảo người, giận dữ quát:

– Thạch Vạn Sân! Ngươi thật là tàn độc…

Chưa dứt lời, người mụ đã ngã chúi xuống.

Trình Linh Tố và Hồ Phỉ đều giật mình kinh hãi. Hai người không thấy Thạch Vạn Sân hành động mà sao hạ độc lẹ thế?

Trình Linh Tố cúi xuống lật người Tiết Thước lên để coi mụ bị hại thế nào, coi còn cơ cứu chữa được nữa không. Cô vừa lật người mụ lên thì đột nhiên cổ tay bên phải bị xiết chặt vì bị Tiết Thước nắm giữ rồi.

Trình Linh Tố biết đã bị lừa, toan vung tay trái đánh xuống đầu mụ, nhưng huyệt “Mạch môn” ở tay phải đã bị kìm chế, toàn thân tê bại, không nhúc nhích được nữa.

Tiết Thước tay cầm đoản đao dí vào người Trình Linh Tố, miệng quát lớn:

– Buông ngay cuốn “Dược Vương thần biên” ra.

Trình Linh Tố vì lòng dạ nhân từ mà bị kìm chế, đành vất cuốn “Dược Vương thần biên” xuống đất.

Hồ Phỉ muốn xông tới giải cứu, nhưng thấy Tiết Thước dí sát mũi đao vào ngực Trình Linh Tố. Mụ chỉ cần đẩy nhẹ mũi đao về phía trước một chút là cô phải uổng mạng, nên chàng trong dạ bồn chồn mà không dám động thủ.

Tiết Thước nắm chặt cổ tay Trình Linh Tố nói:

– Sư phụ! Đệ tử đã giúp sư phụ đoạt được “Dược Vương thần biên”. Xin sư phụ phóng ba thứ “Bích tàm độc cổ”, “Hạc đỉnh hồng” và “Khổng tước đảm” vào lòng bàn tay con tiểu tiện nhân này, thử xem thị có cứu được tính mạng cho mình không?

Thạch Vạn Sân cười đáp:

– Hảo đồ nhi! Hảo đồ nhi! Biện pháp này thật là cao minh!

Lão lấy cái hộp vàng mở ra, dùng cái thìa xúc “Bích tàm độc cổ”, lại dùng móng tay xúc khếu độc phấn “Hạc đỉnh hồng” và “Khổng tước đảm” chuẩn bị bắn vào lòng bàn tay của Trình Linh Tố. Mộ Dung Cảnh Nhạc sau khi bị thương, tuy người hắn lảo đảo muốn té, nhưng ráng chờ sư phụ bắn chất độc sang lòng bàn tay Trình Linh Tố. Hắn biết đây là cơ hội ngàn năm có một. Nếu cô lấy thuốc giải tự cứu mình, hắn sẽ đoạt lấy để dùng trước. Còn nếu đúng là không có thuốc giải thì mối thù vừa rồi cũng trả xong. Hắn nghĩ vậy liền cố gắng chặn trước mặt Hồ Phỉ để đề phòng chàng ngăn cản Thạch Vạn Sân hạ độc.

Hồ Phỉ đang lúc vô kế khả thi, bỗng thấy Mộ Dung Cảnh Nhạc đến chặn trước mặt liền vung tả quyền đấm vù vào mặt hắn.

Mộ Dung Cảnh Nhạc vung tay mặt ra đỡ. Lúc này Hồ Phỉ nóng lòng liều mạng, đời nào để hắn kịp đón đỡ. Thoi quyền tay trái chưa đánh tới, phát chưởng tay mặt đã xô đến trước mặt hắn nhanh như gió, không một tiếng động. Phát chưởng này tuy không gây tiếng động, nhưng luồng lực đạo lại rất mãnh liệt xô Mộ Dung Cảnh Nhạc đụng vào Tiết Thước.

Tiết Thước bị hắn đụng mạnh lập tức ngã lăn ra, nhưng tay trái của mụ vẫn nắm chặt cổ tay Trình Linh Tố không chịu buông.

Hồ Phỉ xông lại tung chân đá mạnh vào chỗ lưng gù của Tiết Thước. Mụ đau quá phải buông Trình Linh Tố ra. Nhưng Tiết Thước vừa buông tay, chỉ trong chớp mắt móng tay Thạch Vạn Sân đã chụp tới. Hồ Phỉ sợ tay lão có độc dược đụng vào người Trình Linh Tố, chàng vội vươn tay mặt đẩy bả vai lão.

Thạch Vạn Sân xoay tay biến thành thế cầm nã chụp vào tay mặt chàng.

Trình Linh Tố vội la lên:

– Lùi mau!

Nếu Hồ Phỉ thi triển chiêu “Cửu khúc chiết cốt pháp” trong phép “Tiểu cầm nã thủ” thì vặn gãy năm ngón tay lão chẳng khó gì, nhưng tay lão lại có chất kịch độc nên chàng không dám đụng vào vội nhảy lùi lại né tránh.

Thạch Vạn Sân chụp không trúng, tiện tay ném cái thìa vàng ra, tiếp theo gảy móng tay mấy cái. Luồng độc phấn như khói mù phun vào mu bàn tay Hồ Phỉ.

Hồ Phỉ không biết mình đã trúng độc, chàng nghĩ tới ba người này nham hiểm độc ác vô tỷ, nên lập tâm giết chết ngay tại đương trường. Chàng vung đơn đao lên, ánh đao quang lấp loàng, toàn là các chiêu số tấn công.

Thạch Vạn Sân chưa kịp đưa hổ sanh lên đỡ, bỗng thấy bàn tay trái mát rượi. Ba ngón tay trái lão đã bị chặt đứt rồi.

Lão cực kỳ kinh hãi, lại gẩy móng tay mặt mấy cái làm bay ra một trận khói mù.

Trình Lình Tố la hoảng:

– Đại ca! Lùi mau!

Hồ Phỉ dừng chân trước mặt Trình Linh Tố, nhìn thấy bọn Thạch Vạn Sân, Mộ Dung Cảnh Nhạc, Tiết Thước bỏ chạy ra ngoài miếu mà không dám đuổi theo.

Trình Linh Tố nắm tay Hồ Phỉ, lòng đau như cắt. Tuy cô thoát đại nạn, nhưng Hồ Phỉ vì cứu cô mà mu bàn tay dính phải ba chất kịch độc là “Bích tàm độc cổ”, “Hạc đỉnh hồng” và “Khổng tước đảm”. Trong “Dược Vương thần biên” đã ghi rõ: “Độc khí nhập tâm, không thuốc nào chữa được”.

Không lẽ dùng đao chặt ngay cánh tay của Hồ Phỉ rồi cho chàng uống “Sinh sinh tạo hóa đan” kéo dài mạng sống thêm chín năm nữa. Còn nếu để chất độc nhập vào tạng phủ rồi thì dù có uống “Sinh sinh tạo hóa đan” cũng vô dụng. Chàng là người thân ái duy nhất trên cõi đời này. Cô ở với chàng bấy nhiêu ngày, tự trong thâm tâm, cô coi chàng quan trọng hơn cả bản thân mình. Người tốt như vậy, không lẽ chỉ sống được có chín năm nữa thôi sao?

Trình Linh Tố xoay chuyển ý nghĩ rất mau. Cô không nghĩ ngợi gì nữa, mà quyết định chủ ý. Cô lấy một viên thuốc màu trắng bỏ vào miệng Hồ Phỉ, cất tiếng run run nói:

– Nuốt lẹ đi!

Hồ Phỉ theo lời nuốt xuống. Chàng vừa định thần, nhớ đến chuyện hung hiểm vừa rồi hãy còn khiếp sợ.

Chàng nói:

– Thật một phen hú vía!

Chàng thấy cuốn “Dược Vương thần biên” rớt xuống đất. Một trận gió thu thổi tới lật những trang sách ra không ngớt. Chàng lại nói:

– Đáng tiếc là chưa giết được ba tên ác tặc. May mà bọn chúng chưa đoạt được cuốn sách. Nhị muội! Nếu tay nhị muội dính phải chất độc thì làm thế nào?

Trình Linh Tố ruột đứt từng khúc, muốn khóc òa lên mà khóc không ra.

Hồ Phỉ thấy cô sắc mặt tái nhợt, liền cất giọng nhẹ nhàng nói:

– Nhị muội! Nhị muội mệt lắm rồi! Hãy nghỉ một lúc đã.

Trình Linh Tố nghe giọng nói ôn nhu lại càng xót xa, không thể nói hết nỗi thương tâm, mà chỉ biết nghẹn ngào nói:

– Tiểu muội… tiểu muội…

Hồ Phỉ cảm thấy mu bàn tay phải tê ngứa toan đưa tay trái lên gãi.

Trình Linh Tố vội nắm chặt cổ tay chàng, cất tiếng run run:

– Chớ có cử động.

Hồ Phỉ thấy tay cô lạnh toát thì lấy làm lạ, hỏi:

– Nhị muội làm sao vậy?

Đột nhiên mắt chàng tối sầm lại, miệng ú ớ mấy tiếng rồi té nằm ngửa xuống đất.

Chàng ngã xuống rồi không nhúc nhích được nữa, nhưng thần trí vẫn tỉnh táo, chỉ thấy mu bàn tay mặt cứ hết tê nhức lại ngứa ngáy từng hồi, mỗi lúc một thêm khó chịu. Chàng kinh hãi hỏi:

– Tiểu huynh cũng trúng phải ba chất đại kịch độc rồi chăng?

Trình Linh Tố lệ hoen đầy má, nước mắt nhỏ cả xuống áo chàng, Cô thẫn thờ gật đầu.

Hồ Phỉ thấy tình cảnh như vậy thì không khỏi cảm thấy thê lương. Chàng thầm nghĩ:

– Nhị muội đau lòng đến thế là vì ta trúng phải chất kịch độc, chắc không còn cách nào cứu trị được nữa.

Trong khoảnh khắc, bao nhiêu sự việc bỗng cuồn cuộn hiện lên trong đầu óc chàng.

Nào chuyện kết bái đệ huynh với Triệu Bán Sơn ở Thương gia bảo, nào thảm kịch trong miếu Bắc Đế ở trấn Phật Sơn, nào vụ quen biết Viên Tử Y trên đường Tiêu tượng, nào vụ gặp gỡ Trình Linh Tố bên hồ Động Đình, cho đến đại hội chưởng môn ở Phúc phủ, nào cuộc hội ngộ quần hùng Hồng Hoa hội, nào vụ Thạch Vạn Sân… tất cả mọi chuyện đều đã trôi qua, đều đã đi vào quá khứ.

Chàng cảm thấy toàn thân dần dần cứng ngắc, đầu ngón tay ngón chân lạnh thấu xương, liền nói:

– Nhị muội ơi! Sống chết là do số mạng! Nhị muội chẳng nên quá đỗi bi ai. Chỉ đáng thương cho nhị muội một mình trơ trọi lênh đênh, đại ca chẳng thể chiếu cố cho nhị muội được nữa rồi. Kim Diện Phật Miêu Nhân Phụng tuy có mối thù giết cha của tiểu huynh, nhưng y là người khẳng khái hào hiệp, là tay hảo hán cương trực. Sau khi tiểu… tiểu… huynh chết rồi nhị muội đến quy đầu nơi y. Nếu không thế…

Chàng nói tới đây, đầu lưỡi sưng lên, tiếng nói không nghe rõ nữa.

Trình Linh Tố quỳ bên chàng khẽ nói:

– Đại ca ơi! Đại ca đừng sợ. Tuy đại ca trúng phải ba chất kịch độc, nhưng tiểu muội còn có cách giải cứu. Đại ca đừng nhúc nhích cũng đừng nói gì. Vì vừa rồi đại ca uống thuốc tê nên ra thế này.

Hồ Phỉ nghe nói cả mừng, mắt chàng sáng rỡ lên.

Trình Linh Tố lấy ra một mũi kim vàng, châm vào huyết quản trên mũ bàn tay chàng rồi thò miệng vào hút thật mạnh.

Hồ Phỉ cả kinh, thầm nhủ:

– Y hút máu độc vào miệng, chẳng phải chính y cũng nhiễm độc luôn hay sao?

Chàng cảm thấy khí lạnh ở tứ chi dần dần đi ngược lên, toàn thân tê cứng không cựa quậy được nữa.

Trình Linh Tố cứ hút một búng máu độc lại nhổ xuống dất. Nếu là độc tầm thường thì cô chỉ cần dùng kim châm rỗng ruột để dẫn máu ra ngoài, giống như khi chữa bệnh cho Miêu Nhân Phụng. Còn đây là ba chất kịch độc “Bích tàm độc cổ”, “Hạc đỉnh hồng” và “Khổng tước đảm” cùng phối hợp với nhau, nên không thể dùng cách đó được.

Cô hút hơn bốn chục lần cho đến lúc thấy toàn máu tươi mới yên tâm. Cô thở phào một cái, ngập ngừng cất giọng ôn nhu nói:

– Đại ca ơi! Cả đại ca lẫn tiểu muội đều là người đáng thương. Đại ca ưa thích Viên cô nương thì cô lại xuất gia làm ni cô… trong lòng tiểu muội…

Cô từ từ ngồi ngay người lên, nhìn Hồ Phỉ bằng cặp mắt chứa chan nhu tình vô hạn. Cô lấy trong túi ra hai thứ thuốc bột rắc lên mu bàn tay chàng, lại lấy một viên thuốc vàng rất lớn nhét vô miệng chàng, rồi khẽ nói:

– Gia sư nói ba thứ chất kịch độc này không có thuốc nào chữa được, vì trên đời chẳng có thầy thuốc nào chịu vì bệnh nhân mà hy sinh tính mạng. Đại ca ơi! Lão nhân gia không biết có tiểu muội… tiểu muội đối với đại ca…

Hồ Phỉ muốn mở miệng la:

– Ta không muốn nhị muội làm thế! Ta không muốn nhị muội làm thế!

Nhưng chàng chỉ lộ vẻ phản đối bằng ánh mắt chứ không thốt ra lời được.

Trình Linh Tố lại mở bọc lấy con ngọc phụng mà Viên Tính đã tặng cho, buồn rầu ngắm nghía một hồi, rồi dùng khăn tay gói lại, bỏ vào bọc Hồ Phỉ. Cô lại lấy ra một cây nến cắm vào đế đèn trước tượng thần. Bỗng nhiên cô lại đổi ý, lấy trong bọc ra một cây nến nhỏ. Cô bẻ đôi, đánh hỏa tập thắp lên, đem ra ngoài sân hậu viện một lúc rồi lại đem vào đặt bên cạnh đế đèn. Còn cây nến mới cô đem cắm vào đế đèn.

Hồ Phỉ theo dõi cách bố trí tỉ mỉ của cô, chẳng hiểu có dụng ý gì. Bỗng nghe cô nói:

– Đại ca! Tiểu muội có một việc không muốn nói để đại ca khỏi phải thương tâm. Nhưng bây giờ chúng ta sắp chia tay, không nói không được. Trong cuộc đại hội chưởng môn, lúc vị sư thúc tàn ác của tiểu muội và Điền Quy Nông gặp nhau, đại ca có nhận ra điều gì khác lạ không? Hai người này đã quen biết nhau từ trước rồi. Chất “Đoạn trường thảo” mà Điền Quy Nông đã dùng làm mù mắt Miêu đại hiệp chắc là lấy ở nơi Thạch Vạn Sân. Thậm chí chất độc mà gia gia và má má của đại ca bị trúng phải tưởng chừng cũng do Thạch Vạn Sân phối chế.

Hồ Phỉ run lên muốn quát một tiếng thật to:

– Đúng thế!

Trình Linh Tố nói tiếp:

– Lúc song thân của đại ca tạ thế, tiểu muội chưa ra đời mà cả mấy vị sư huynh sư tỷ cũng còn nhỏ tuổi chưa đầu sư học nghệ. Hồi ấy chỉ có hai người chuyên dụng độc là tiên sư và Thạch Vạn Sân. Miêu đại hiệp nghi ngờ độc dược là của tiên sư trao cho, nên động thủ cùng lão nhân gia. Tiên sư đã bảo không phải là lão nhân gia thì dĩ nhiên đúng thế. Tiểu muội nghi ngờ là lão sư thúc này, nhưng chưa đủ chứng cớ. Tiểu muội nghĩ rằng cứ từ từ điều tra cho rõ, nếu quả là lão thì sẽ tìm cách báo thù giúp đại ca. Nay sự việc đã đến thế này thì bất luận thế nào cũng phải giết lão.

Cô nói tới đây thì độc tính trong mình phát tác, người lảo đảo một cái rồi ngã xuống bên cạnh Hồ Phỉ.

Hồ Phỉ thấy cô từ từ nhắm mắt lại, khóe miệng ứa ra một dòng máu, lòng chàng đau đớn chẳng khác nào muôn ngàn mũi kim đâm vào trái tim.

Chàng muốn mở miệng gào lên:

– Nhị muội! Nhị muội!

Nhưng muốn kêu gào thế nào thì vẫn như quỷ mị giữa đêm trường, không sao thành tiếng. Trong lòng chàng tuy hiểu rõ hết mọi sự mà muốn cử động một ngón tay cũng không nổi. Hồ Phỉ nằm sóng sượt bên canh thi thể Trình Linh Tố từ sáng đến chiều, lại từ chiều cho đến lúc hoàng hôn.

Nên biết ba chất đại kịch độc “Bích tàm độc cổ”, “Hạc đỉnh hồng”, “Khổng tước đảm” lợi hại khôn cùng. Hồ Phỉ tuy đã được Trình Linh Tố hút hết độc ra rồi, nhưng chất độc đã thấm vào thân thể làm cho da thị cứng đơ, phải qua một ngày một đêm mới cử động được. Trong mấy giờ này nỗi đau khổ của Hồ Phỉ không ai tưởng tượng cho xiết được.

Trời dần tối, thân thể Hồ Phỉ vẫn cứng đơ. Chàng biết mình nằm bên Trình Linh Tố mà muốn nhìn cô một cái cũng không thể được.

Lại mấy giờ nữa trôi qua, bỗng nghe những tiếng cú kêu từ trong rừng cây ở xa vọng lại.

Đột nhiên có tiếng bước chân rón rén đi tới ngoài miếu, rồi nghe tiếng người nói khẽ:

– Tiết Thước! Ngươi vào trước xem thử đi.

Đúng là thanh âm Thạch Vạn Sân.

Hồ Phỉ la thầm:

– Thôi hỏng rồi! Hỏng rồi! Ta không cử động được, đành để chúng tùng xẻo, muốn làm thế nào thì làm. Nhị muội ơi, nhị muội! Nhị muội vì muốn cứu mạng ta đã cho uống thuốc tê, nhưng chất thuốc mạnh quá, biết đến lúc nào mới tiêu giải đây? Bây giờ kẻ địch đã quay đầu lại, ta đành theo nhị muội xuống hoàng tuyền. Chết cũng chẳng có gì đáng tiếc, nhưng mối đại cừu này thế là không trả được rồi.

Thực ra chất thuốc mê đã lui rồi, sở dĩ da thịt chàng còn cứng đơ như xác chết hoàn toàn là do ba thứ đại kịch độc.

Lại nghe trếng bước chân nhẹ nhàng của Tiết Thước lẻn vào ẩn ở sau cửa, đưa mắt nhìn vào trong.

Mụ không dám bật lửa mà trong bóng tối chẳng thấy gì, mụ lắng tai cũng không nghe thấy một tiếng động, liền quay ra ngoài báo cho Thạch Vạn Sân hay.

Thạch Vạn Sân gật đầu nói:

– Thằng lỏi bị ta bắn ba thứ đại kịch độc vào mu bàn tay, chắc bây giờ hồn đã xuống âm tào rồi, bằng không phải chặt bỏ một cánh tay. Chỉ còn lại con tiểu nha đầu cũng chẳng có chi đáng sợ. Chỉ e hai đứa tiểu quỷ đó đã sớm bỏ trốn rồi.

Tuy lão nói vậy, nhưng vẫn không đám coi thường. Tay lão cầm hổ sanh hộ vệ trước ngực, từ từ tiến vào cửa miếu.

Khi đến trên điện, trong bóng tối chỉ thấy hai người nằm dưới đất. Lão không dám lại gần, lượm một viên đá ném vào xác hai người vẫn không thấy nhúc nhích. Lão liền đánh hỏa tập lên coi thì thấy hai người nằm dưới đất chính là Hồ Phỉ và Trình Linh Tố. Cả hai người toàn thân cứng đơ, hiển nhiên là chết đã lâu rồi.

Thạch Vạn Sân cả mừng, đặt tay lên mũi Trình Tinh Tố thấy mặt lạnh như băng, đã tắt thở rồi. Lão lại thò tay sờ mũi Hồ Phỉ. Hai mắt chàng nhắm nghiền, hô hấp cũng đã ngừng rồi.

Thạch Vạn Sân vốn là người thận trọng. Lão thấy da mặt Hồ Phỉ còn âm ấm, chưa phải là chết hẳn, bèn lấy một mũi kim vàng châm vào lòng bàn tay hai người. Nếu hai người giả vờ chết ắt bàn tay phải rung động. Nhưng Trình Linh Tố đã chết thật, còn Hồ Phỉ da thị cứng đơ, kim đâm vào lòng bàn tay là chỗ nhạy cảm giác mà tuyệt nhiên chẳng thấy phản ứng gì.

Mộ Dung Cảnh Nhạc hằn học nói:

– Con nha đầu này hút chất độc nơi bàn tay tình lang, ai ngờ đã không cứu sống được gã mà chính thị cũng tiêu đời.

Thạch Vạn Sân nóng lòng tìm kiếm cuốn “Dược Vương thần biên”, mà mồi lửa đã cháy hết, liền châm vào ngọn nến trên đế đèn.

Lúc ngọn lửa sắp chạm vào bấc nến, lão chợt động tâm tự nhủ:

– Cây nến này chưa thắp, biết đâu bên trong có điều chi cổ quái

Lão ngó thấy bên đế đèn có đặt khúc nến cháy dở, liền nghĩ bụng:

– Khúc nến này đã thắp dở, nhất định là vô hại.

Lão liền nhổ cây nến ở để đèn ra, cầm khúc nến đã cháy phân nửa vào đánh hỏa tập thắp đèn lên.

Đèn vừa thắp sáng, ba người cùng ngó thấy cuốn “Dược Vương thần biên”, liền nhất tề hô lên một tiếng. Thạch Vạn Sân xé mảnh áo lót tay rồi mới nhặt cuốn sách lên. Lão lật ra coi thấy những hàng chữ viết theo lối tiểu khải nhỏ như đầu ruồi. Quả nhiên là sách chép y thuật cùng dược tính. Lão lướt qua một lượt thấy y đạo về việc cứu thương chiếm hết chín phần mười. Phần độc dược thì chỉ chép sơ lược cách cứu trị, giải độc. Về phép luyện độc, thi độc cùng cách trồng độc thảo, nuôi dưỡng độc trùng lại càng sơ lược hơn nữa.

Nguyên Vô Sân đại sư hồi về già tự biết bình sinh dụng độc quá nhiều, khiến người giang hồ tặng cho ngoại hiệu là “Độc Thủ Dược Vương”, nên viết để lại pho “Dược Vương thần biên” truyền lại cho đệ tử, dạy về cách chữa bệnh cứu người.

Thạch Vạn Sân, Mộ Dung Cảnh Nhạc, Tiết Thước cứ đau đáu muốn chiếm đoạt pho sách này, vì cho rằng đây là bộ “Độc kinh” bao la vạn hữu, ảo diệu thần kỳ, không ngờ đây chỉ là cuốn y thư thì dù trong đó có chép y thuật tinh thâm đến đâu, họ cũng coi là vô dụng.

Thạch Vạn Sân cực kỳ thất vọng. Lão trầm ngâm hồi lâu, nhìn Tiết Thước nói:

– Ngươi hãy lục tìm trong người con nha đầu xem còn cuốn sách nào khác không, chứ cuốn y thư này chẳng có tác dụng gì.

Nói xong, lão thuận tay ném luôn cuốn y thư lên bệ thờ.

Tiết Thước sục tìm trong bọc Trình Linh Tố một hồi, rồi đáp:

– Không còn sách gì nữa.

Mộ Dung Cảnh Nhạc sực nhớ ra điều gì, liền nói:

– Sư phụ của đệ tử chuyên viết chữ ẩn hình, hay là…

Hắn vừa buột miệng nói ra câu này liền hối hận, tự mắng thầm:

– Thật đáng chết! Nói ra làm gì? Cứ để lão coi cuốn sách này là vô dụng, mình sẽ thu lấy nghiên cứu kỹ lại có phải hay hơn không?

Thạch Vạn Sân là người rất cơ linh, lão lập tức tỉnh ngộ, đáp:

– Phải rồi!

Lão lại cầm bộ “Dược Vương thần biên” lên.

Lão vừa xoay người lại đã thấy Mộ Dung Cảnh Nhạc và Tiết Thước từ từ hai chân co lại, người nhũn ra nằm xuống, nét mặt tựa như cười mà không phải cười, thần sắc cực kỳ quái dị.

Thạch Vạn Sân giật mình kinh hãi, la lên:

– Gì thế này? “Thất tâm hải đường”, “Thất tâm hải đường”? Chẳng lẽ con nha đầu kia trồng được “Thất tâm hải đường”? Ngọn nến… ngọn nến này…

Trong đầu óc lão dường như lướt qua một tia sáng. Lão nhớ lại tình cảnh hồi còn nhỏ cùng Vô Sân đại sư đồng môn học nghệ. Một hôm sư phụ lão nói về ông vua trong những độc dược khắp thiên hạ. Sư phụ lão bảo “Hạc đỉnh hồng”, “Khổng tước đảm”, “Hắc thù trấp”. “Hủ nhục cao”, “Thái công khuẩn”, “Bích cổ noãn”, “Phục xà diên”, “Phiên mộc quy”, “Bạch thự manh” v.v. đều không phải chất độc lợi hại nhất, mà “Thất tâm hải đường” mới là vật đáng sợ hơn hết. Chất độc này không hình sắc lại không mùi vị, dù là người thận trọng đến đâu cũng khó nỗi đề phòng. Người trúng độc chết rồi mà vẫn không hề hay biết, nét mặt vẫn mim cười tựa hồ rất bình an, hoan hỷ. Sư phụ lão đã lấy được hạt giống “Thất tâm hải đường” từ hải ngoại đem về, nhưng dùng phương pháp bất kỳ nào cũng không thể trồng cho nó sống được.

Hôm ấy sư huynh và lão xin được của sư phụ chín hạt “Thất tâm hải đường” đem về trồng, nhưng sư phụ lão mỉm cười nói:

– May mà “thất tâm hải đường” kia trồng không được, không thì trên đời chẳng còn một ai được bình yên.

Thạch Vạn Sân nhìn thấy Mộ Dung Cảnh Nhạc và Tiết Thước đúng là trúng phải chất độc “Thất tâm hải đường” liền lập tức phong bế hô hấp, đưa tay lên bịt miệng và mũi lại. Lão định thần nhìn kỹ xem chất độc từ phía nào đưa tới thì đột nhiên hai mắt tối sầm không thấy gì nữa. Thoạt đầu lão còn tưởng vì nến tắt, nhưng rồi lão phát hiện ra cặp mắt mình đã bị mù.

Thất tâm hải đường! Thất tâm hải đường?

Lão biết mình thoát chết được là vì trước khi vào miếu đã ngậm thuốc hóa giải bách độc nên chất độc “Thất tâm hải đường” nhất thời không thấm vào phủ tạng, nhưng cặp mắt không chịu nổi nên đã bị mù.

Hồ Phỉ đã được Trình Linh Tố tiên liệu cho uống thuốc giải độc “Thất tâm hải đường” nên cặp mắt không việc gì. Chàng nhìn rõ hết mọi diễn biến xảy ra. Mộ Dung Cảnh Nhạc và Tiết Thuớc từ từ nhũn người ra ngã xuống. Còn Thạch Vạn Sân giơ tay sờ soạng trên không, miệng gào lên:

– Thất tâm hải đường! Thất tâm hải đường!

Lão lao ra khỏi miếu rồi, tiếng gào thê thảm mỗi lúc một xa tựa hồ dã thú phát điên. Bên cạnh chàng nằm sóng sượt ba cái tử thi, một là tiểu muội tử Trình Linh Tố, người đã cùng chàng kết nghĩa chi lan, và hai xác kia là sư huynh, sư tỷ của cô đã phản bội sư môn, lại đối đầu với cô.

Trong tòa phá miếu ngọn nến ảm đạm bị gió thổi đưa đi đưa lại, cứ chập chờn khi mờ khi tỏ. Người chàng đã giá lạnh, trong lòng lại càng thê lương lạnh lẽo khôn xiết.

Ngọn nến cháy đến hết, đột nhiên lóe lên một cái rồi tắt phụt. Trong tòa phá miếu tối đen như mực.

Hồ Phỉ bụng bảo dạ:

– Nhị muội của ta chẳng khác gì ngọn nến kia, khi đã cháy hết rồi là không sáng được nữa. Nàng đã trù tính mọi sự rất chu đáo. Nàng đã tiên liệu bọn Thạch Vạn Sân nhất định còn quay lại, nàng còn tiên liệu hắn là người cẩn thận không dám thắp cây nên mới, mà chỉ thắp cây nên cháy dở có pha “Thất tâm hải đường” mới dụ được hắn vào bẫy. Nàng chết rồi mà còn giết được hai kẻ thù. Dù là đệ tử của Độc Thủ Dược Vương, nhưng bình sinh nàng chưa giết một ai. Sau khi chết đi, nàng mới giết hai tên sư huynh, sư tỷ mặt người dạ thú để thanh lý môn hộ. Nàng chưa từng cho ta biết thân thế mình cùng song thân là ai. Ta cũng chẳng hiểu do đâu mà nàng lại làm đệ tử của Độc Thủ Dược Vương để học được bản lĩnh kinh người đến thế. Ta thường nói chuyện với nàng về việc của mình, nàng luôn lắng tai nghe ra vẻ rất quan tâm.

Ta muốn biết thân thế của nàng, lại lịch của nhị muội, nhưng từ nay trở đi không còn được nghe thấy thanh âm của nàng nữa rồi. Nhị muội tại bất kỳ lúc nào và ở bất kỳ nơi đâu cũng đều luôn nghĩ đến ta. Ta có điều gì hay ho mà đáng để cho nàng đối xử với ta như vậy? Thậm chí nhị muội phải hy sinh tính mạng của mình để cứu sống ta. Thật ra nàng đâu cần phải làm thế này. Sao không cứ chặt cụt cánh tay rồi dùng đan dược của sư phụ nàng, để cho ta sống thêm chín năm nữa. Quãng thời gian chín năm cũng đủ lắm rồi. Hai người sống với nhau một cách vui vẻ chín năm rồi nàng cùng chết theo ta, há chẳng hay hơn ư?

Bỗng chàng nghĩ lại:

– Ta bảo sống vui vẻ với nhau trong chín năm, nhưng thử hỏi có thực vui vẻ được không? Nhị muội biết ta vẫn luyến ái Viên cô nương, dù ta đã biết nàng là ni cô mà lòng thương nhớ vẫn khôn nguôi. Hôm nay nhị muội xả thân cứu ta phải chăng vì điều này?

Trong khoảng tối tăm mênh mông vô bờ bến, Hồ Phỉ cảm thấy sóng lòng dào dạt, trăm mối ngổn ngang. Chàng chợt hồi tưởng lại biết bao nhiêu là sự tình. Mỗi lời nói, mỗi nét chau mày, mỗi nụ cười của Trình Linh Tố mà lúc trước chàng chẳng hề để ý, lúc này bỗng hiện rõ trong tâm trí, trong đó chứa chan biết bao nhiêu là nhu tình mật ý, biết bao nhiêu là tình cảm say đắm thiết tha.

Tiểu muội tử đãi tình lang

Ân tình thâm

Nễ mạc phụ liễu muội tử

Nhất ban tình

Nễ kiến liễu tha diện thời

Yếu đãi tha hảo

Nễ bất kiến tha diện thời

Thiên thiên yếu thập thất bát biến quải tại tâm!

(Tiểu muội tử chờ tình lang

Tấm lòng chờ đợi chứa chan ân tình

Chàng ơi, chớ phụ cô mình

Gặp nhau hãy giữ ân tình cho nhau

Rủi mai nước chảy xuôi cầu

Tấc lòng canh cánh, nỗi sầu khôn khuây)

Bản tình ca của Vương thợ rèn tựa hồ như văng vẳng bên tai, Chàng tự nhủ:

– Ta cần phải đối đãi tốt với nhị muội… phải rồi… phải rồi… nhưng mà nhị muội đã chết. Khi nhị muội còn sống, ta đã chẳng đối đãi tốt với nàng, trong lòng ta lúc nào cũng mãi vương vấn hình bóng một cô nương khác.

Trời sáng rồi, ánh thái dương xuyên qua cửa sổ chiếu lên thân người mà, Hồ Phỉ vẫn cảm thấy lạnh giá như băng. Lát sau, chàng cảm thấy da thịt dần dần mềm mại trở lại, tay chân nhích lên được một chút, chân cũng có thể cử động. Chàng hai tay chống xuống đất, từ từ ngồi thẳng người lên nhìn Trình Linh Tố bằng cặp mắt thâm tình vô hạn.

Đột nhiên chàng cảm thấy bầu máu nóng có sôi lên sùng sục, chàng tự hỏi:

– Ta sống trên cõi đời này còn có ý nghĩa gì nữa? Nhị muôi đối với ta bằng cả mối thâm tình như thế mà ta lại bạc hạnh với nàng! Chi bằng ta chết theo nàng cho rồi.

Khi liếc nhìn xác của Mộ Dung Cảnh Nhạc và Tiết Thước, chàng liền chợt động tâm tự hỏi:

– Mối thù của song thân chưa trả, kẻ sát hại nhị muội là Thạch Vạn Sân còn sống trên đời. Ta cứ coi thường tính mạng, buông xuôi tay cho xong chuyện, há phải là hành động của bậc đại trượng phu?

Nguyên Trình Linh Tố lúc lâm tử đã tiên liệu đến điều này. Cô đã giảm bớt độc tính của chất “Thất tâm hải đường” trong cây nến. Cô không muốn cho Thạch Vạn Sân chết ngay đương trường, để Hồ Phỉ sau này sẽ kiếm lão báo thù. Nhưng cô biết Thạch Vạn Sân mù mắt rồi. Hồ Phỉ vĩnh viễn sẽ không bị kém thế khi đấu với lão.

Lúc lâm tử cô còn nói độc dược sát hại song thân chàng chắc là do Thạch Vạn Sân phối chế, có khi đúng sự thực, cũng có khi chỉ là phỏng đoán. Nhưng mục đích của cô là nhắc nhở chàng nhớ đến mối thù song thân, khiến chàng không bị cơn xúc động nhất thời mà tự vẫn tuẫn tình.

Trình Linh Tố tiên liệu mọi việc đều thấu đáo, duy chỉ có một điều sai trật. Đó là việc Hồ Phỉ không tuân theo ba điều qui ước của cô. Lúc có nguy cấp, chàng cùng địch nhân động thủ để mình trúng chất kịch độc. Cũng có khi, điều đó nằm trong sự tiên liệu của cô. Cô còn biết Hồ Phỉ không yêu mình như cô yêu chàng tha thiết, nên có ý kết liễu đời mình. Cô dùng máu độc của tình lang để tự vẫn, đồng thời cứu tình lang toàn mạng.

Thật là bi thảm! Thật là đau lòng? Chết là hết, nhưng cô không hổ là đệ tử của Độc Thủ Dược Vương, không hổ là chủ nhân của “Thất tâm hải đường”, đệ nhất độc vật trong thiên hạ.

Tâm sự người thiếu nữ thật khó lòng đoán được. Đến như Trình Linh Tố lại càng vĩnh viễn không ai hiểu thấu được.

Hồ Phỉ chợt nhớ lại tối hôm trước, bên Đào Nhiên đình, Trần Tổng đà chủ khi tế mộ cho một cô nương cớ sao lại khóc lóc thảm thiết đến vậy? Bây giờ chàng mới biết đến lúc vĩnh viễn không còn được gặp người chí thân, thì chẳng thể nào cầm nổi những giọt nước mắt thương tâm.

Hồ Phỉ ôm thi thể Trình Linh Tố và Mã Xuân Hoa ra khu vườn sau tòa phá miếu. Chàng thầm nghĩ:

– Trên thân thể của hai người đều có chất kịch độc, ta phải cẩn thận đừng để dính vào. Ta chưa báo thù xong thì không thể chết một cách khinh suất được!

Chàng chất hai đống củi, châm lửa để siêu hóa hai người.

Lúc này lòng chàng trống rỗng, tựa hồ tấm thân mình cũng theo ngọn lửa bay lên mà biến thành tro, thành khói.

Chàng lại khoét một cái huyệt lớn chôn thi thể vợ chồng Mộ Dung Cảnh Nhạc và Tiết Thước.

Mặt trời đã xế về tây, thân thể Trình Linh Tố và Mã Xuân Hoa đã hóa thành tro.

Hồ Phỉ kiếm hai cái bình sành trong miếu đựng cốt của hai người.

Chàng tự nhủ:

– Ta đem cốt của nhị muội táng bên phần mộ của gia nương. Tuy nàng không phải là em gái ruột của ta, nhưng nàng đối đãi với ta có khác gì tình cốt nhục? Phần tro cốt của Mã cô nương ta phải đem đến huyện Quảng Thủy tỉnh Hồ Bắc táng bên phần mộ của Từ đại ca.

Hồ Phỉ vào sương phòng, nhìn thấy đống quần áo và cái bọc của Trình Linh Tố bỏ lại trên bàn. Chàng đăm đăm nhìn một hồi, rồi không nhịn được, nước mắt cứ trào ra.

Hồi lâu chàng mới đưa tay ra thu dọn, thấy trong bọc có mấy thứ đồ dùng để hóa trang như râu giả, keo dán, liền nghĩ bụng:

– Nếu ta để nguyên chân tướng thì chỉ đi trong một ngày là đã gặp bọn ưng trảo của Phúc Khang An. Tuy ta chẳng sợ gì, nhưng nếu dọc đường cứ đánh nhau hoài thì biết bao giờ cho xong việc?

Chàng liền bôi thuốc dịch dung, dán râu vào, bỏ hai bình tro cốt vào bọc rồi đi ra khỏi tòa phá miếu.

Hồ Phỉ đi về hướng nam để truy trìm Thạch Vạn Sân.

Một hôm vào giữa trưa, chàng ghé vào một phạn điếm ở trấn Quan Đồn để ăn cơm. Chàng vừa ngồi xuống, bỗng nghe tiếng giày lẹt xẹt. Bốn tên võ quan triều đình đi vào. Người đi đầu thân thể cao nghệu, gầy nhom, chính là Tăng Thiết Âu ở Ưng Trảo Nhạn Hành môn.

Hồ Phỉ trong lòng hơi kinh ngạc, ngảnh mặt nhìn ra chỗ khác, bụng bảo dạ:

– Tuy ta đã cải trang, nhưng Tăng Thiết Âu là con người rất tinh minh, không khéo hắn khám phá ra chỗ sơ hở của mình.

Điếm tiểu nhị chạy lăng xăng hầu hạ bốn vị võ quan.

Hồ Phỉ lẩm bẩm:

– Bốn người này rời kinh thành xuống phía nam chắc quá nửa là vì việc có liên quan đến ta. Ta muốn nghe xem bọn chúng nói gì.

Nhưng bọn Tăng Thiết Âu bốn người toàn phường phong hoa tuyết nguyệt, nói toàn chuyện đâu đâu khiến chàng chán tai.

Giữa lúc ấy, ngoài cửa điếm, trên đường lát đá xanh, có một người mù chống gậy lọc cọc lần dò đi tới.

Người này vừa bước vào phạn điếm, Hồ Phỉ trong ngực đã đánh thình thịch. Mấy bữa nay chàng để ý dò la tông tích Thạch Vạn Sân mà thủy chung chẳng có manh mối gì. Chàng biết lão bị mù thì chưa thể đi xa được. Không ngờ bữa nay lại chạm trán lão trong phạn điếm ở tòa tiểu thị trấn này. Chàng thấy lão quần áo lam lũ, mặt mày tiều tụy. Tay trái vẫn lắc cái nhạc của thầy lang dạo.

Thạch Vạn Sân mò mẫm vào ngồi xuống cái ghế bên cái bàn vuông và cất tiếng gọi:

– Điếm gia! Hãy lấy một hồ rượu ra đây.

Điếm tiểu nhị thấy hình dáng lão như kẻ ăn xin cất tiếng khinh mạn hỏi:

– Lão cũng đòi uống rượu? Có tiền không đó?

Thạch Vạn Sân móc trong bọc ra một đĩnh bạc bỏ xuống bàn.

Điếm tiểu nhị cười nói:

– Vậy thì được? Ta đi lấy rượu cho lão.

Thạch Vạn Sân vừa vào phạn điếm, Tăng Thiết Âu liền nhìn ba đồng bọn giơ tay ra hiệu tiến lại bắt.

Nguyên hôm trước trong đại hội chưởng môn, Trình Linh Tố hút thuốc nhả khỏi độc, khiến mọi người bị đau bụng. Quần hào nghi ngờ Phúc Khang An hạ độc trong rượu, còn bọn Phúc Khang An lại cho đó là thủ đoạn của Độc Thủ Dược Vương. Phúc Khang An liền phái một số đông quan võ cùng vệ sĩ xuống phía nam giao cho ba việc khẩn yếu: Việc thứ nhất là truy nã bọn Trình Linh Tố, Hồ Phỉ, Mã Xuân Hoa cùng quần hào Hồng Hoa hội, đồng thời tìm hai đứa con của Phúc Khang An đem về. Việc thứ hai là tróc nã tên đầu sỏ Thạch Vạn Sân về tội đã làm tan vỡ đại hội. Việc thứ ba là tróc nã Thang Bái cùng ni cô Viên Tính vì hai nhân vật này biết rõ điều bí ẩn trọng đại của Phúc Khang An.

Lúc này, Tăng Thiết Âu thấy Thạch Vạn Sân đã mù mắt thì trong bụng mừng thầm, nhưng vẫn sợ lão giả vờ.

Hắn từ từ đứng dậy hỏi:

– Điếm gia! Sao trong điếm của ngươi thiếu nhiều bàn ghế vậy? Ta muốn tìm chỗ ngồi cũng không có!

Hắn vừa nói vừa ra hiệu cho điếm tiểu nhị đừng lên tiếng.

Một tên võ quan khác hỏi tiếp:

– Trương chưởng quỹ! Bữa nay buôn bán gì mà đến trấn Quan Đồn?

Tăng Thiết Âu lại hỏi:

– Có phải tải gạo đến không? Lý chưởng quỹ! Ông bạn làm ăn khá đấy chứ!

Tên võ quan khác đáp:

– Có gì mà khá! Cũng chỉ nhì nhằng giật gấu vá vai mà thôi.

Hai người nói thêm mấy câu vu vơ nữa, rồi Tăng Thiết Âu nói:

– Không có chỗ ngồi, chúng ta đành ngồi cùng bàn với vị đại phu đây vậy.

Hắn nói rồi ngồi ngang bên bàn Thạch Vạn Sân.

Thực ra trong điếm còn rất nhiều bàn trống, nhưng Thạch Vạn Sân không nghi ngờ gì, cứ để mặc cho họ ngồi vào.

Bây giờ Tăng Thiết Âu mới biết lão mù mắt thật, liền mạnh dạn lên nhiều.

Hắn nhìn hai tên võ quan ngồi ngoài, vẫy tay nói:

– Triệu chưởng quỹ! Vương chưởng quỹ! Sang ngồi cả đây uống vài chén rượu! Bữa nay để tiểu đệ làm chủ nhân cho.

Hai tên võ quan đáp:

– Vậy thì xin quấy quả đại ca một bữa.

Rồi chúng ngồi xuống bên Thạch Vạn Sân. Thạch Vạn Sân tuy mù mắt nhưng tai nghe rõ hết. Lão nhận ra bốn người đều nói giọng Bắc Kinh, chứ không phải khẩu âm địa phương này. Họ mới nói mấy câu về làm ăn buôn bán là đã lòi đuôi rồi.

Lão chỉ cần suy nghĩ một chút là đã đoán ra mấy phần, liền đứng dậy nói:

– Điếm gia! Bữa nay ta đây bụng không muốn ăn uống gì, vậy xin tạm biệt.

Tăng Thiết Âu ấn vai lão ngồi xuống, cười nói:

– Đại phu cần gì phải vội vàng! Hãy uống vài chung hẵng đi.

Thạch Vạn Sân biết là khó thoát thân, đành cười lạt ngồi xuống.

Tiểu nhị bưng rượu thịt vào.

Tăng Thiết Âu rót rượu ra chung nói:

– Đại phu! Tại hạ xin mời đại phu một chung.

Thạch Vạn Sân đáp:

– Hay lắm! Hay lắm!

Lão nâng chung lên uống cạn sạch rồi nói:

– Lão phu cũng xin mời lại các vị một chung!

Tay mặt lão cầm hồ rượu, tay trái sờ soạng tìm chung của bốn người, rồi rót cho mỗi người một chung. Lúc rót rượu, lão đã gẩy móng tay để bắn thuốc độc vào chung rượu của họ. Thủ pháp rất nhanh nhẹn chẳng một ai nhìn thấy.

Nhưng lão đã tự xưng là Độc Thủ Dược Vương, Tăng Thiết Âu tuy không nhìn thấy lão hạ độc, song làm sao hắn dám uống ly rượu do lão rót ra? Hắn nhẹ tay đổi chung rượu của mình với chung rượu trước mặt Thạch Vạn Sân.

Cử động của hắn ai cũng trông rõ. Chỉ có Thạch Vạn Sân mù mắt là chẳng thấy gì.

Hồ Phỉ than thầm:

– Lão đã mù mắt mà còn muốn hạ độc hại người. Đó là lão tự tác nghiệt, chết cũng đáng đời. Ta bất tất phải hạ thủ nữa.

Chàng đứng dậy tính tiền.

Bỗng nghe Thiết Âu cười nói:

– Nào, xin mời các vị. Chúng ta cùng cạn chung!

Bốn tên võ quan khóe miệng lộ ra nụ cười gian xảo, trong tay chúng chẳng có gì nhưng miệng cùng hô:

– Nào, cạn chung!

Thạch Vạn Sân bưng chung rượu đã bị hạ độc lên, khóe miệng lão mỉm cười giảo quyệt. Hồ Phỉ biết lão cho rằng chỉ trong nháy mắt bốn tên võ quan kia sẽ bị chất độc phát tác mà chết, nên không khỏi lộ vẻ đắc ý. Hồ Phỉ thấy tình cảnh Thạch Vạn Sân như vậy đột nhiên nảy sinh lòng lân mẫn, bèn rảo bước ra khỏi phạn điếm.

Mấy hôm sau Hồ Phỉ về đến phần mộ của song thân ở Thương Châu. Từ ngày còn nhỏ, cứ cách mấy năm Bình tứ thúc lại dẫn chàng đến tảo mộ. Cách đây ba năm chàng còn đến một lần. Mỗi chuyến về địa phương này, Hồ Phỉ lại ngồi ngẩn ngơ trước mộ song thân hằng mấy ngày, lòng suy nghĩ vẩn vơ đủ thứ. Giá như gia gia cùng má má lúc này còn sống… giá như hai vị lão nhân gia thấy ta đã trưởng thành như thế này… giá như gia gia thấy ta sử đao thì không biết lão nhân gia sẽ nói gì…

Hôm nay, lúc Hồ Phỉ tới mộ địa thì trời đã xế chiều. Từ xa chàng đã nhin thấy một nữ nhân mặc áo màu lam đứng yên bên mộ song thân. Gần khu mộ này chẳng có mồ mả nào khác.

Chàng tự hỏi:

– Chẳng lẽ nữ nhân này quen biết song thân ta?

Trong lòng rất lấy làm lạ, chàng từ từ cất buớc lại gần thì thấy người đó là một thiếu phụ trung niên, diện mạo vô cùng xinh đẹp. Có điều sắc mặt bà lợt lạt, không còn chút huyết sắc. Thiếu phụ thấy Hồ Phỉ đi tới cũng hơi kinh ngạc, ngửng đầu lên nhìn chàng.

Lúc này Hồ Phỉ cách thành Bắc Kinh đã xa rồi, dọc đường không gặp truy binh, nên cởi bỏ đồ hóa trang, để trở lại khuôn mặt thật. Có điều chàng dày dạn phong trần, mình đầy bùn đất.

Thiếu phụ thấy chàng là thiếu niên lạ mặt cũng không để ý, xoay đầu nhìn ra chỗ khác.

Lúc bà xoay mình, Hồ Phỉ liền nhận ra bà là vợ Miêu Nhân Phụng, người đã tư bôn với Điền Quy Nông năm xưa.

Ngày trước ở Thương gia bảo, con gái Miêu Nhân Phụng la gọi “má má”, và đưa hai tay đòi bế, nhưng bà ngoảnh đầu đi. Tướng mạo bà thì Hồ Phỉ không còn nhớ rõ, nhưng cái ngoảnh đầu tàn nhẫn đó thì Hồ Phỉ vĩnh viễn không quên.

Chàng lạnh lùng cất tiếng hỏi:

– Miêu phu nhân! Một mình phu nhân tới đây làm chi?

Thiếu phụ nghe đến ba chữ “Miêu phu nhân” thì toàn thân chấn động, từ từ quay đầu lại, sắc mặt càng lợt lạt hơn. Bà cất tiếng run run hỏi:

– Sao… tướng công lại biết ta?

Bà hỏi rồi cúi đầu xuống, không nói thêm nữa.

Hồ Phỉ đáp:

– Tại hạ ra đời được ba ngày thì song thân đã ngủ yên dưới lòng đất, thành ra suốt đời không biết đến lòng từ ái của cha mẹ. Nhưng so với cô con gái của phu nhân thì còn dễ chịu hơn nhiều. Ngày ở Thương gia bảo, phu nhân lòng dạ sắt đá không chịu bồng con gái, cứ để mặc cho nó gào khóc. Đúng thế thật! Tại hạ còn sung sướng hơn lệnh ái nhiều.

Miêu phu nhân tên gọi Nam Lan nghe nói, người lảo đảo muốn té, bà ngập ngừng hỏi:

– Tướng công… tướng công là ai?

Hồ Phỉ trỏ phần mộ đáp:

– Tại hạ đến trước ngôi mộ này để kêu những tiếng “gia gia” và “má má”, nhưng vì hai vị đã chết cả rồi, nên mới không trả lời và không bồng tại hạ được.

Nam Lan hỏi:

– Phải chăng tướng công là… lệnh lang của Hồ Nhất Đao?

Hồ Phỉ đáp:

– Đúng vậy! Tại hạ họ Hồ tên Phỉ. Tại hạ đã được gặp Kim Diện Phật Miêu đại hiệp và thấy cả con gái của lão nhân gia.

Nam Lan khẽ hỏi:

– Họ… họ mạnh giỏi cả chứ ?

Hồ Phỉ dõng dạc đáp:

– Không mạnh giỏi gì đâu!

Nam Lan tiến lên một bước, giọng cầu khẩn:

– Họ làm sao? Hồ tướng công! Ta cầu xin tướng công nói cho ta hay.

Hồ Phỉ đáp:

– Miêu đại hiệp bị gian nhân hãm hại mù cả hai mắt, Miêu cô nương lênh đênh cơ khổ lại chẳng có má má chiếu cố.

Nam Lan thất kinh ngập ngừng hỏi:

– Y… y có võ công cái thế, sao lại…

Hồ Phỉ cả giận lớn tiếng:

– Trước mặt tại hạ mà phu nhân còn giỏ trò giả gà giả vịt được nữa ư? Điền Quy Nông thi hành độc kế, chẳng lẽ không do gian mưu của phu nhân? Nếu nơi đây không phải là mộ an táng song thân thì tại hạ đã chém cho phu nhân một đao chết rồi. Thôi đi đi!

Nam Lan cất tiếng run run hỏi:

– Ta… ta quả tình không biết gì. Hồ tướng công, bây giờ y đã khỏi chưa?

Hồ Phỉ thấy mặt bà đầy vẻ thành khẩn khẻ không ra tuồng trá ngụy, nhưng nghĩ rằng người đàn bà này vốn tính lẳng lơ giảo hoạt, xảo trá đủ mọi đường, nên chàng không muốn nói nhiều nữa mà chỉ “hừ” một tiếng.

Chàng đằng hắng một tiếng rồi trở gót bước đi.

Nam Lan lẩm bẩm:

– Y bị mù mắt rồi! Lan nhi ơi! Lan nhi khốn khổ ơi!

Đột nhiên bà thấy trước mặt tối sầm rồi ngã lăn ra ngất đi.

Hồ Phỉ nghe đánh “huỵch” một tiếng, quay đầu nhìn lại, không khỏi giật mình kinh hãi. Chàng ngần ngừ một chút rồi đặt tay lên mũi bà, thấy hơi thở chỉ còn thoi thóp, mạch đập yếu ớt, mỗi lúc một chậm dần. Nếu không giải cứu tất bà bỏ mạng đến nơi. Chàng không ngờ con người vô tình bạc nghĩa này lại cảm xúc đến thế. Chàng vội ấn huyệt “Nhân trung”, nắn bóp dưới nách bà.

Hồi lâu Nam Lan dần dần hồi tỉnh. Bà thều thào hỏi:

– Hồ tướng công! Ta có chết cũng chẳng có gì tiếc nuối, chỉ cầu xin tướng công nói rõ thực tình. Y cùng Lan nhi hiện trạng ra sao?

Hồ Phỉ hỏi lại:

– Chẳng lẽ phụ nhân còn quan tâm đến họ nữa ư?

Nam Lan đáp:

– Ta có nói tướng công cũng chẳng tin nào. Mấy năm nay ta ngày đêm luôn tưởng nhớ tới hai người này. Ta tự biết chẳng còn sống được bao lâu nữa, chỉ mong thấy mặt họ một lần, nhưng ta còn mặt mũi nào nhìn lại cha con họ nữa? Hôm nay ta đến đây vì Miêu đại ca sau khi thành hôn với ta không lâu, có đưa ta tới đây để tế lệnh tôn và lệnh đường. Miêu đại ca bảo trong đời y chỉ khâm phục có hai người là vợ chồng Hồ đại hiệp. Ngày ấy ở trước ngôi mộ này, y nói chuyện với ta rất nhiều.

Hồ Phỉ thấy lời lẽ bà tha thiết, tình cảm lại rất chân thành, liền đáp:

– Thôi được! Tại hạ cho phu nhân hay hiện trạng của cha con Miêu đại hiệp!

Rồi chàng lược thuật vụ Miêu Nhân Phụng trúng độc mù mắt, còn chàng ở bên cạnh tương trợ thì chỉ thuật phớt qua.

Nam Lan còn hỏi han về việc ăn ở của Miêu Nhân Phụng và Miêu Nhược Lan, nhưng Hồ Phỉ đến Miêu gia vào lúc bất chợt, khi ra đi cũng hốt hoảng, nên chẳng biết mấy về tình trạng của tiểu cô nương kia.

Chàng nói đến lúc mặt trời đã lặn về tây, Nam Lan vẫn thấy chưa đủ, cứ hỏi không thôi. Hồ Phỉ nói đến khi không còn gì để trả lời nữa mà Nam Lan vẫn cứ hỏi chàng con gái bà ăn mặc ra sao, quần áo bằng lụa hay bằng vải, do phụ thân đến tiệm mua hay nhờ người khác may hộ, mặc vào xem có hợp không…

Hồ Phỉ thở dài nói:

– Tại hạ chẳng biết gì hơn nữa. Phu nhân… đã quan tâm như vậy thì sao ngày trước lại…

Chàng đứng lên nói tiếp:

– Tại hạ phải đi tìm chỗ trọ đây. Hôm nay định đến đây mai táng tro cốt của nghĩa muội, nhưng bây giờ đã muộn quá rồi, đành để đến ngày mai vậy.

Nam Lan đáp:

– Hay lắm! Ngày mai ta cũng đến nữa.

Hồ Phỉ nói:

– Không! Tại hạ chẳng còn điều chi để kể với phu nhân đâu.

Chàng dừng lại một chút rồi hỏi:

– Miêu phu nhân! Phải chăng gia gia và má má tại hạ chết về tay Miêu Nhân Phụng?

Nam Lan từ từ gật đầu đáp:

– Y có nói chuyện này với ta… chỉ vì…

Bà nói tới đây, bỗng nghe có tiếng người hô từ phía xa:

– A Lan! A Lan! … A Lan! Nàng ở đâu?

Hồ Phỉ và Nam Lan nghe tiếng gọi đều biến sắc. Thì ra đó là thanh âm của Điền Quy Nông.

Nam Lan nói:

– Hắn đã đến kiếm ta. Sáng sớm mai mời tướng công lại tới đây. Ta sẽ nói chuyện về lệnh tôn cùng lệnh đường.

Hồ Phỉ đáp:

– Được rồi! Sáng sớm mai chúng ta sẽ gặp nhau ở đây.

Chàng không muốn gặp Điền Quy Nông, liền ẩn vào phía sau phần mộ, bụng bảo dạ:

– Ngày mai ta sẽ hỏi cho rõ về cái chết của gia ga và má má. Nếu vụ này có liên quan đến tên gian tặc Điền Quy Nông thì không thể tha hắn được. Chắc Miêu phu nhân sẽ che giấu cho hắn, nhưng ta cứ điều tra cẩn thận cho ra manh mối. Có điều ta chưa hiểu Điền Quy Nông đến Thương Châu vì việc gì?

Nam Lan từ khu mộ địa bước chạy đi, nhưng không phải về phía phát ra tiếng gọi của Điền Quy Nông. Bà đi chừng mấy chục trượng, vẫn còn nghe tiếng Điền Quy Nông không ngớt hô hoán.

Nam Lan bỗng lên tiếng:

– Tiểu muội ở đây!

Điền Quy Nông “ủa” một tiếng rồi lần theo tiếng nói chạy tới.

Lại nghe Nam Lan nói:

– Tiểu muội đi đâu thì mặc tiểu muội, Điền ca đã hứa không được can thiệp rồi kia mà.

Bỗng nghe tiếng cười và tiếng nói của Điền Quy Nông văng vẳng vang lên:

– Ai mà dám can thiệp? Chỉ tại ta nhớ nàng lắm! Nơi đây rất hoang vu lạnh lẽo, nàng hãy cẩn thận, đừng có sợ nghe…

Rồi hai người sóng vai nhau đi mỗi lúc một xa, nói gì cũng không nghe được nữa.

Hồ Phỉ tự nhủ:

– Trời sắp tối rồi. Chi bằng ta ở đây với gia gia và má má một đêm.

Chàng lấy lương khô ra ăn, rồi ôm gối ngồi bên phần mộ mà trầm tư mặc tưởng một hồi lâu. Ngọn gió thu thổi tới, chàng cảm thấy giá lạnh. Lá vàng rơi lác đác trên mộ địa, rơi cả trên người Hồ Phỉ. Mãi đến lúc trăng lên đầu núi, chàng mới ngủ được. Hồ Phỉ thiu thiu ngủ đến khoảng nửa đêm, bỗng nghe tiếng vó ngựa từ phía xa vọng lại.

Hồ Phỉ giật mình thức giấc, nghĩ bụng:

– Đêm hôm khuya khoắc, sao còn có người chạy ngựa tới chốn hoang dã này?

Tiếng vó ngựa mỗi lúc một gần và chạy rất nhanh. Khi còn cách phần mộ chừng ba dặm, ngựa chậm lại, đi thong thả từng bước một. Dường như kỵ mã đã xuống ngựa dắt nó đi để tìm kiếm vật gì.

Hồ Phỉ nghe tiếng con ngựa kia đang đi về phía mình liền nhoài người trên đống cỏ để xem ai đến.

Dưới ánh trăng thượng tuần, một bóng người nhỏ nhắn dắt ngựa đi tới. Lúc còn cách phần mộ chừng mười trượng, Hồ Phỉ mới nhìn rõ người này mình mặc áo đen, đầu đội mũ tròn, chính là Viên Tính.

Hồ Phỉ trống ngực đánh thình thình, cảm thấy lưỡi khô môi ráo, muốn cất tiếng hô hoán nhưng chẳng hiểu tại sao không lên tiếng được. Trong khoảnh khắc, trong đầu chàng bao luồng tư tưởng cuộn lên như sóng trào, chàng tự hỏi:

– Nàng tới đây làm gì? Sao nàng biết ta ở đây? Nàng vô tình mà tới hay đến đây tìm ta?

Bỗng nghe Viên Tính lẩm nhẩm đọc hàng chữ trên bia mộ:

– Liêu Đông đại hiệp Hồ Nhất Đao phu phụ chi mộ.

Nàng buông tiếng thở dài u uẩn, miệng lẩm bẩm:

– Ở đây rồi!

Nàng cẩn thận nhìn bia mộ rồi tự nói như để cho chính mình nghe:

– Trước mộ chưa thấy tro giấy tiền. Vậy là y chưa đến tảo mộ.

Đột nhiên nàng nổi lên cơn ho kịch liệt, mỗi lúc một dữ dội không ngừng lại được.

Hồ Phỉ nghe tiếng nàng ho, kinh hãi nghĩ thầm:

– Nàng nhiễm bệnh rồi, mà dường như bệnh thế không phải là nhẹ.

Viên Tính ho một hồi lâu mới dần dần ngừng lại, buồn rầu nói:

– Giá như ngày trước ta không lập lời trọng thệ trước mặt sư phụ, thì có thể trọn đời theo y đến tận chân trời, hành hiệp trượng nghĩa, há chẳng hay ư? Hỡi ơi Hồ đại ca! Đại ca đau khổ, nhưng có biết chăng tiểu muội còn thương tâm gấp mười?

Hồ Phỉ gặp nàng nhiều lần, nhưng nàng như hữu tình mà tựa vô tình, chẳng bao giờ thực sự thổ lộ chân tâm tình ý. Nếu đây chẳng phải là nơi hoang vu không một bóng người thì nàng quyết chẳng để lộ niềm u uẩn trong lòng. Viên Tính nói mấy câu này rồi tâm thần dao động, ngồi tựa vào bia mộ, lại nổi một cơn ho nữa.

Hồ Phỉ không nhẫn nại được nữa, tung mình nhảy vọt ra cất giọng ôn nhủ nói:

– Cô nương bị phong hàn rồi chăng? Phải bảo trọng lấy thân mới được.

Viên Tính cả kinh, đứng lên lùi lại một bước, hai tay giao chéo nhau đưa lên bảo vệ trước ngực. Khi nàng nhìn rõ là Hồ Phỉ, bất giác mặt đỏ bừng lên. Một lúc sau, nàng mới ấp úng:

– Đại ca… đại ca là phường trẻ nít khinh bạc, sao lại ẩn núp ở đây để nghe lén câu chuyện của người ta?

Hồ Phỉ tâm tình xúc động, trong lòng tình cảm dạt dào, chẳng úy kỵ gì nữa, lớn tiếng nói:

– Viên cô nương! Tại hạ đối với có nương một dạ chân thành, cô nương quyết không phải là không biết. Cô nương hà tất phải tự làm khổ mình một cách oan uổng? Tại hạ cùng cô nương đến bẩm báo với tôn sư xin cho cô nương hoàn tục, chẳng làm ni cô nữa. Chúng ta vĩnh viễn bên nhau, há chẳng hay hơn ư?

Viên Tính vịn lấy bia mộ, gập người xuống ho rũ rượi, không đứng ngay lên được.

Hồ Phỉ trong lòng thương xót, tiến gần lại gần hai bước, cất giọng ôn nhu nói:

– Cô nương đâu cần phải phiền não…

Đột nhiên nàng ho một tiếng, rồi thổ ra một búng máu tươi.

Hồ Phỉ kinh hãi hỏi:

– Cô nương thụ thương ra sao?

Viên Tính đáp:

– Tiểu muội bị tên gian tặc Thang Bái đả thương.

Hồ Phỉ tức giận hỏi:

– Hắn ở đâu? Để tại hạ đi kiếm hắn!

Viên Tính đáp:

– Tiểu muội giết hắn rồi!

Hồ Phỉ cả mừng, nói:

– Cung hỷ cô nương đã tự tay giết chết kẻ đại thù.

Rồi chàng hỏi:

– Cô nương bị thương ở đâu? Hãy mau ngồi nghỉ đi.

Chàng đỡ cho nàng từ từ ngồi xuống, rồi nói tiếp:

– Cô nương đã bị thương, cần phải nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, không nên ngồi trên lưng ngựa mà bôn ba suốt đêm trường.

Viên Tính quay lại nhìn chàng nghĩ bụng:

– Làm gì ta chẳng biết mình cần nghỉ ngơi tĩnh dưỡng? Nếu không phải vì chàng thì việc gì ta phải bôn ba suốt đêm trên lưng ngựa?

Rồi nàng hỏi:

– Trình gia muội tử đâu? Sao không thấy y?

Hồ Phỉ nước mắt chảy quanh, cất tiếng run run đáp:

– Cô ấy… cô ấy… qua đời rồi!

Viên Tính thất kinh đứng nhỏm dậy, hỏi:

– Sao… sao lại… qua đời?

Hồ Phỉ đáp:

– Cô nương hãy ngồi xuống để tại hạ thong thả nói cho nghe.

Đoạn chàng đem chuyện mình bị trúng chất kịch độc của Thạch Vạn Sân, rồi Trình Linh Tố xả thân cứu mạng mình ra sao, kể hết lại đầu đuôi. Viên Tính buôn rầu sa lệ. Hai người nhìn nhau hồi lâu không nói gì và cũng tưởng nhớ đến Trình Linh Tố cốt cách nghĩa hiệp, lòng dạ hiền hòa, mình khó lòng sánh kịp.

Một trận gió thu thổi tới, khí lạnh thấm vào, Viên Tính khẽ run lên.

Hồ Phỉ cởi áo trường bào khoác cho nàng, khẽ nói:

– Cô nương… hãy ngủ đi một lát.

Viên Tính đáp:

– Không, tiểu muội không ngủ. Tiểu muội đến nói với đại ca một câu rồi… lại đi ngay.

Hồ Phỉ kinh hãi hỏi:

– Cô nương còn đi đâu?

Viên Tính đưa mắt đăm đăm nhìn chàng, khẽ đáp:

– Tá như sinh tử biệt, an đắc khổ trường bi!

Hồ Phỉ nghe hai câu này bất giác ngẩn người ra, lẩm nhẩm đọc lại:

– Tá như sinh tử biệt, an đắc khổ trường bi?

Viên Tính nói:

– Hồ đại ca! Chỗ này không thể ở lâu được, đại ca nên đi ngay. Dọc đường tiểu muội đã nghe tin nên chạy theo cho đại ca hay.

Hồ Phỉ hỏi:

– Tin tức gì?

Viên Tính đáp:

– Từ hôm chia tay với đại ca, tiểu muội vẫn theo dõi Thang Bái. Phải nói tên tặc tử đó giảo quyệt phi thường, không biết trốn biệt đi đâu. Tiểu muội tưởng gia quyến của hắn ở Hồ Bắc mà hắn đắc tội với Phúc Khang An, tất liên lụy tới toàn gia, nên chắc chắn hắn tìm cách báo cho trẻ già trong nhà hay để cấp tốc đào tẩu.

Hồ Phỉ gật gù:

– Cô nương tiên liệu rất đúng.

Viên Tính đáp:

– Tuy hắn mang ngoại hiệu “Cam Lâm Huệ thất tỉnh”, giao du rất rộng trên chốn giang hồ, nhưng tiểu muội nghĩ hạng người giảo quyệt như hắn tất đã kết giao được người bạn tốt nào. Bây giờ đại họa lâm đầu, chỉ có đưởng về nhà mà thôi. Tiểu muội liền theo hướng đông nam mà đuổi theo. Sau ba ngày, tiểu muội đuổi đến điếm Thanh Phong mới kịp hắn. Cuộc ác chiến xảy ra ở Cao Lương. Cuối cùng tiểu muội đánh chết tên tặc tử đó rồi. Nhưng mình cũng bị trọng thương.

Hồ Phỉ nghe nói, buông tiếng thở dài.

Viên Tính lại nói:

– Tiểu muội ở khách điếm dưỡng thương mấy ngày thấy liên tiếp hai bọn võ sĩ của Phúc Khang An đi qua, trong đó có cả Chu Thiết Tiêu ở Ưng Trảo Nhạn Hành môn. Tiểu muội liền gọi lại nói chuyện với hắn.

Hồ Phỉ cả kinh, hỏi:

– Cô nương đã bị trong thương mà không sợ hắn trả thù ư?

Viên Tính mỉm cười đáp:

– Tiểu muội cho hắn một dịp lập nên đại công, thì dù có thù hận gì với tiểu muội, hắn cũng đều bỏ qua. Tiểu muội chỉ cho hắn biết chỗ chôn Thang Bài để hắn cắt đầu lão đem về Bắc Kinh. Có phải là một kỳ công không nào? Quả nhiên hắn rất cảm kích tiểu muội.

Tiểu muội bảo hắn:

–  Chu đại gia! Nếu đại gia bắt bần ni thì dĩ nhiên cũng là một đại công có điều Hồ Phỉ đại ca không buông tha đại gia đâu, do đo bao nhiêu chuyện giấu giếm từ trước đến giờ sẽ bị lộ tẩy hết!

Chu Thiết Tiêu quả là tay xảo quyết. Hắn đáp:

– Con người của đại ca, tại hạ rất khâm phục, quyết không dám đắc tội với bạn hữu của y. Xin sư thái chuyến lời cho Hồ đại ca hay là Điền Quy Nông đã thống lãnh nhiều tay hảo thủ đến Thương Châu mai phục bên mộ phần gia nương Hồ đại ca để tróc nã y đó.

Hồ Phỉ giật mình kinh hãi hỏi:

– Bọn chúng mai phục ở đây ư?

Viên Tính đáp:

– Đúng thế! Tiểu muội nghe Chu Thiết Tiêu nói vậy, biết là đúng sư thật, nên trong lòng rất bồn chồn lo lắng, chỉ sợ đến chậm một bước. Chà! Tạ ơn Trời Phật, bọn loạn tử đó chưa thấy xuất hiện.

Hồ Phỉ thấy nàng dung nhan tiều tụy, bụng bảo dạ:

– Nàng chỉ vì cứu ta, chỉ e đã nhiều đêm không ngủ rồi.

Viên Tính lại nói:

– Tại sao Điền Quy Nông biết mộ phần lệnh tôn và lệnh đường táng ở đây? Tại sao hắn nhất định là đại ca sẽ về tảo mộ? … Hồ đại ca ơi! Hảo hán không thể địch lại nhiều người. Trước mắt chúng ta hãy lánh đi một bước rồi sẽ nói chuyện.

Hồ Phỉ đáp:

– Bữa nay tại hạ đã gặp Miêu phu nhân và ước hẹn ngày mai sẽ gặp nhau ở đây.

Viên Tính hỏi:

– Miêu phu nhân là ai?

Hồ Phỉ liền kể lại những chuyện đã qua.

Viên Tính vội nói:

– Người đàn bà đó đến cả chồng con cũng chẳng còn nghĩ đến thì làm gì giữ được tín nghĩa? Đại ca hãy nghe lời tiểu muội đi sớm đi!

Hồ Phỉ thấy thái độ Miêu phu nhân rất thành thực, vẻ mặt tựa hồ như thông có gì trá ngụy, hơn nữa chàng cũng mong mỏi biết rõ chân tướng việc song thân qua đời, nên rất muốn chờ gặp bà.

Viên Tính liền hỏi:

– Điền Quy Nông đã đến đây, khi nào Miêu phu nhân lại không nói cho hắn biết? Hồ đại ca, tại sao đại ca không nghe lời tiểu muội? Tiểu muội chạy suốt ngày suốt đêm đến báo tin cho đại ca lánh nạn, chẳng lẽ đại ca không để vào lòng một chút nào ư?

Hồ Phỉ trong lòng run lên, đáp:

– Cô nương nói phải lắm. Đúng là tại hạ sai lầm.

Viên Tính nói:

– Đâu cần đại ca phải nhận sai.

Hồ Phỉ cầm cương ngựa, nói tiếp:

– Được rồi! Cô nương hãy lên ngựa đi.

Viên Tính vừa toan lên ngựa, bỗng nghe tiếng còi từ bốn phương tám hướng nổi lên lanh lảnh. Địch nhân đã kéo đến bao vây phần mộ.

Hồ Phỉ nghiến răng nói:

– Mụ đàn bà kia quả nhiên đã lừa gạt tại hạ. Chúng ta hãy xông về phía tây.

Hồ Phỉ nghe tiếng còi, trong lòng không khỏi kinh hãi vì biết bên địch rất đông. Giá như Viên Tính chưa bị thương thì hai người đột phá trùng vây không phải là chuyện khó, nhưng cứ tình trạng như hiện nay thì chẳng dễ dàng gì.

Viên Tính nói:

– Chỉ cần Hồ đại ca nhắm phía tây mà xông ra, không cần phải lo cho tiểu muội. Tiểu muội tự có cách thoát thân.

Hồ Phỉ nghe bầu nhiệt huyết sôi trào lên ngực, lớn tiếng quát:

– Nếu vậy chúng ta cùng chết một chỗ. Cô nương nói vậy mà nghe được ư? Hãy đi theo tại hạ!

Viên Tính bị chàng nổi nóng lớn tiếng quát mắng, nhưng trong lòng lại thấy rất êm ái, ngọt ngào. Nàng tự biết mình bị trọng thương, chẳng thể sử dụng được cây nhuyễn tiên, liền quất roi cho ngựa chạy theo sau Hồ Phỉ.

Hồ Phỉ rút đao cầm tay, đi được mấy trượng thấy bóng năm người sánh vai đứng cản đường. Chàng nghĩ bụng:

– Bữa nay mà muốn thoát khỏi trùng vậy thì mỗi đao đều phải hạ sát thủ, chẳng thể nương tay được.

Chàng liền rảo bước xông thẳng. Dù phải ít người địch với số đông, nhưng chàng vẫn dùng yếu quyết “hậu phát chế nhân”, đưa vai bên trái đi trước, chưởng trái chênh chếch giơ ra, tay mặt cầm đao để rũ xuống bên đùi.

Hai võ sĩ của Phúc Khang An một tên tay cầm thiết tiên, một tên vung quỷ đầu đao đồng thanh hò hét, chia ra hai bên đánh vào đầu Hồ Phỉ.

Hồ Phỉ vừa thấy hai gã ra chiêu đã biết ngay võ công của chúng không phải tầm thường. Có điều trong khoảnh khắc mà không thắng nổi chúng thì bên địch tới vây càng đông, muốn thoát thân được quả là điều thiên nan vạn nan. Chàng vừa vọt người chênh chếch lên cao, nhằm tên đứng ở sát mé trái chém xuống một đao. Tên này vội đưa trường kiếm lên gạt. Hồ Phỉ người còn đang lơ lửng trên không đã vận nội kình vào thanh đao, hai chân vung ra đá trúng ngực tên vệ sĩ thứ nhất nhanh như điện chớp. Tên này bị hất tung đi, miệng hộc máu tươi.

Võ sĩ sử kiếm cảm thấy luồng kình lực trên binh khí truyền đến cánh tay, lại đè lên trước ngực, tưởng chừng như mấy rẽ xương sườn đều bị gãy hết. Gã chưa kịp kêu thì đã lăn ra chết giấc.

Bọn võ sĩ thấy đối phương mới ra hai chiêu đã đả thương hai đồng bạn thì đều chấn động tâm thần.

Tên võ sĩ sử quỷ đầu đao quát lớn:

– Hồ đại gia quả nhiên là hảo công phu. Tại hạ là Tư Đồ Lôi xin lãnh giáo.

Gã sử thiết tiên cũng hô:

– Tại hạ là Tạ Bất Đáng, xin lãnh giáo mấy cao chiêu.

Hồ Phỉ quát lớn:

– Được!

Chàng vung thanh đơn đao xoay quanh mình, đao phong rít lên veo véo trong ánh đao quang lấp lánh, đánh ra ba chiêu. Cả người chàng cũng xô tới.

Tư Đồ Lôi và Tạ Bất Đáng vội lùi lại hai bước.

Tên võ sĩ thứ ba la lên:

– Tại hạ là Đông Phương…

Gã mới nói được mấy tiếng thì sống đao của Hồ Phỉ đã chém xuống đầu, vỡ óc chết tươi, chưa kịp hiểu gã tên là Đông Phương gì nữa.

Tư Đồ Lôi và Tạ Bất Đáng phòng thủ môn hộ kín đáo, lùi lại hai bước, nhưng không để Hồ Phỉ xông qua. Chúng huýt lên một tiếng còi, thêm bốn tên vệ sĩ liền chạy đến, đứng sánh vai nhau phía sau Tư Đồ Lôi và Tạ Bất Đáng.

Tuy trong chớp mắt Hồ Phỉ đã liên tiếp đánh chết ba địch nhân, nhưng Tư Đồ Lôi và Tạ Bất Đáng khôn ngoan hơn, chúng không tiến lên tiếp chiến, mà lùi lại hai lần để cản đường rút lui của Hồ Phỉ.

Hồ Phỉ ngấm ngầm kêu khổ. Chàng sử chiêu “Dạ chiến bát phương tàng đao thức” đánh về phía trước, đặt chân trái xuống xoay một vòng là đã đếm xong số địch nhân: mặt tây có sáu người, mặt đông có tám người, hai mặt nam bắc đều có năm người. Không kể ba tên đã chết thì đối phương vẫn còn mười chín tên.

Bỗng có tiếng cười rộ, thanh âm nghe sang sảng, tiếp theo có tiếng người nói:

– Hồ huynh đệ! Hạnh hội! Hạnh hội! Mỗi lần gặp huynh đệ lại thấy bản lãnh tiến thêm một bậc. Xin lỗi nhé! Xin lỗi nhé!

Chính là thanh âm Điền Quy Nông từ phía nam vọng tới.

Hồ Phỉ không lý gì đến hắn, chăm chú nhìn sáu tên địch ở mé tây. Chàng nghe bốn tên xưng danh:

– Tại hạ là Trương Ninh!

– Tại hạ là Đinh Văn Hổ xin lãnh giáo!

– Tại hạ là Đinh Văn Thâm tham kiến Hồ đại gia!

– Hà hà! Lão phu là Trần Kính Phu!

Hồ Phỉ xông lên phía trước rồi đột nhiên chuyển qua hướng bắc. Chàng đưa ngón tay trái điểm vào trước ngực tên võ sĩ thứ hai. Tên này tay cầm cặp phán quan bút, chính là một tay hảo thủ về môn điểm huyệt.

Gã thấy đối phương vươn tay ra điểm tới, liền phóng cây phán quan bút ở tay phải ra điểm vào huyệt “Khuyết bồn” ở vai bên phải Hồ Phỉ. Chiêu chuyển từ thế thủ sang thế công này cực kỳ lợi hại. Hồ Phỉ tuy ra tay trước, nhưng phán quan bút của gã dài hơn hai thước hai tấc, thành ra ngón tay chàng chưa đụng vào huyệt đạo đối phương mà huyệt “Khuyết bồn” của mình đã bị điểm tới.

Không dè Hồ Phỉ tay trái lướt ngang chụp vào cây phán quan bút, rồi vận lực đẩy mạnh về phía trước. Người kia vừa “hự” lên một tiếng thì cán bút đã đâm sâu vào yết hầu.

Giữa lúc ấy lại nghe phía sau có tiếng hai người hô:

– Tại hạ là Hoàng Tiều!

– Tại hạ là Ngũ Công Quyền!

Tiếng hô chưa dứt, đao phong đã lướt tới lưng, Hồ Phỉ vội nhảy xổ về phía trước khiến hai thanh đơn đao đâm vào khoảng không. Hồ Phỉ thuận thế xoay đao lại, từ trên cao chém xuống cổ tay Hoàng Tiều.

Đây là một chiêu rất tinh diệu trong “Hồ gia đao pháp”, phải là người có võ công cao cường mới luyện nổi. Không ngờ Hoàng Tiều tinh thông cả mười tám đường đại cầm nã thủ, nên ứng biến rất thần tốc. Hắn thấy mũi đao chém tới cổ tay thế rất nguy cấp liền ném đơn đao đi, xoay tay lại chụp xuống sống đao của Hồ Phỉ.

Đừng thấy hắn râu chuột, mắt nhỏ ti hí, tướng mạo xấu xí mà coi thường. Hắn biến chiêu còn lẹ hơn cả Hồ Phỉ. Năm ngón tay hắn như năm móng chân gà, vừa vung ra đã chụp được sống đao của Hồ Phỉ.

Hồ Phỉ ỷ mình sức mạnh, vung đao phóng luôn về phía trước. Ngờ đâu tý lực của Hoàng Tiều cũng không phải tầm thường. Năm ngón tay hắn đã nắm được sống đao rồi, Hồ Phỉ không thể xoay trở đao để chém tới được nữa.

Hồ Phỉ vừa ngẩn người một chút thì phía sau lại có ba người đồng thời đánh tới.

Chàng liền tính toán tình thế, chờ cho ba người đánh tới, nhưng trong chớp mắt vẫn còn đủ thời giờ liệu lý Hoàng Tiều. Lúc này chàng đã hãm trong trùng vây, trước mắt lại là một tay kình địch, nếu đả thương được hắn là giảm bớt đi một phần uy hiếp. Hồ Phỉ đột nhiên buông đao, vung song chưởng đánh vào ngực Hoàng Tiều, nghe “binh” một tiếng. Hoàng Tiều sững sờ, tuy chưa té hẳn, nhưng phải buông năm ngón tay cho thanh đao rơi xuống.

Hồ Phỉ lại đưa tay nắm lấy chuôi đao, xoay mình lại gạt ba thứ binh khí.

Ba tên võ sĩ một là Ngũ Công Quyền, một là lão già Trần Kính Phu, còn một tên nữa thân hình khôi vĩ, cao hơn Hồ Phỉ đến nửa cái đầu. Tay hắn cầm cây đồng côn cực kỳ trầm trọng, ước chừng bốn mươi cân.

Hồ Phỉ đón đỡ xong một chiêu, nghe trước ngực chấn động. Chàng toan nhảy tạt ngang né tránh thì hai người ở hai bên đã đánh tới.

Viên Tính cưỡi ngựa theo sau, bọn võ sĩ mải vây đánh Hồ Phỉ nên nhất thời chưa để ý gì đến nàng. Viên Tính tuy bị trọng thương yếu sức, nhưng đã nhìn rõ Hồ Phỉ đả thương được năm tên qua từng chiêu từng thức. Nàng rất quan tâm đến sự an nguy của Hồ Phỉ, nên khi mắt thấy chàng bị năm người vây đánh rất cấp bách, liền giật cương phóng ngựa xông tới.

Nàng vung roi ngựa dùng làm nhuyễn tiên, ra chiêu “Dương quan chiết liễu” quấn lấy cổ gã đại hán to lớn. Hắn đang hô lớn báo danh “Tại hạ là Cao Nhất Lực, xin lãnh giáo…” thì đột nhiên cổ họng bị siết chặt không nói được nữa.

Tuy khí lực hắn mãnh liệt, nhưng một là đột nhiên bị nghẹt thở, hai là không địch nổi con ngựa đang chồm tới, khiến hắn chân đứng không vững bị ngựa kéo ngang ra, đụng vào Trương Ninh bên cạnh làm tên này cũng té theo.

Hồ Phỉ thấy đã bớt được hai địch nhân liền vung hai nhát đao chém Đinh Văn Hổ và Đinh Văn Thâm té xuống đất.

Đột nhiên Hồ Phỉ cảm thấy có tiếng gió rít lên sau lưng, có người đang chém tới. Chàng không kịp xoay mình, chỉ xoay tay ra chiêu “Đảo ngọa hổ quái mãng phiên thân” chém lại. Bỗng nghe đánh “choang” một tiếng, trên tay bỗng nhiên nhẹ bẫng. Thanh đao của chàng đã bị thành lợi đao của địch nhân chém cụt.

Địch nhân thừa thế phóng binh khí tới, Hồ Phỉ cả kinh, bèn dí chân trái xuống đất, vọt về phía trước ra xa hơn một trượng, nhưng cũng bị chậm mất một chút. Vai trái chàng bị đao quét trúng đau nhói lên. Chàng biết kẻ vừa đánh lén là Điền Quy Nông thì không khỏi thầm kinh hãi, vì võ công của Điền Quy Nông tuy chẳng có chi đáng kể, nhưng thanh lợi đao của hắn sắc bén tuyệt luân, thật khó lòng chống trả.

Hồ Phỉ vừa đứng chân phải xuống đất, tay trái liền phóng chưởng, tay mặt biến thành móc câu đoạt ngay thanh đơn đao của một tên võ sĩ, rồi xoay tay chém ngược lại. Chiêu “Không thủ đoạt bạch nhận” này cực kỳ linh hoạt, mà đòn phản công lại lợi hại vô tỷ.

Nên biết Điền Quy Nông tay cầm lợi đao bám theo sát gót, hễ chậm một chút hoặc chỉ né tránh sai lệch trong đường tơ kẽ tóc là chết dưới bảo đao của hắn ngay.

Hồ Phỉ không dám dùng đơn đao đối phó với đối phương, mà phải dùng khinh công nhảy nhót để tỷ đấu. Hồ Phỉ tránh được bảy tám chiêu thì mười mấy tên địch lại đến bao vây. Ngoài ra còn ba tên công kích Viên Tính.

Chàng chỉ mới phân tâm một chút vì Viên Tính, thì bỗng nghe “choang” một tiếng. Thanh đơn đao trong tay chàng lại bị bảo đao của Điền Quy Nông chém gãy. Thanh bảo đao của hắn quả cực kỳ lợi hại, chém sắt như chém bùn.

Điền Quy Nông quyết tâm dồn Hồ Phỉ vào chỗ chết. Ánh hào quang lấp loáng, thanh bảo đao trong tay hắn ra chiêu mỗi lúc một thêm ráo riết. Lúc bình thường thì hắn sử kiếm, dùng đao không thuận tay, có điều thanh đao này sắc bén tuyệt luân, nên chỉ cần vung đao múa tít là Hồ Phỉ quyết không dám đưa binh khí chạm vào. Hắn vung bảo đao xông thẳng tới.

Hồ Phỉ lại muốn cướp lấy một thứ khí giới để đỡ gạt nhưng chàng chẳng có lúc nào rảnh rỗi để xuất thủ. Bỗng “soạt” một tiếng, tay trái chàng bị trường kiếm của một võ sĩ vạch thành một vệt dài.

Bọn võ sĩ la ó ầm ĩ:

– Gã họ Hồ kia! Hãy đầu hàng đi!

– Ngươi là một trang hảo hán, sao lại để chết uổng ở nơi đây?

– Chúng ta đông người, ngươi quả bất địch chúng, dù chịu thua cũng không mất thể diện.

Điền Quy Nông chẳng nói năng gì, cứ lầm lì vung đao tấn công dữ dội. Vết thương sau vai Hồ Phỉ bỗng nổi lên đau đớn kịch liệt, cơ hồ mất mạng đến nơi.

Bỗng nghe thanh âm một phụ nữ la lên:

– Đại ca! Đừng hại mạng chàng thiếu niên đó.

Hồ Phỉ đang nghiến răng đánh vùi, chợt nghe rõ thanh âm của Miêu phu nhân, liền lớn tiếng quát:

– Ai mượn mụ giả nhân giả nghĩa?

Trong lúc hoang mang, chàng lại bị một cước đá trúng vào lưng.

Hồ Phỉ phẫn nộ đến cực điểm, tay phải vươn lẹ ra chụp được gót chân kẻ vừa đá. Chàng liền xách hắn lên quét chung quanh mình. Bọn võ sĩ sợ chém thương đồng bọn, nhất thời không dám đến gần.

Kẻ bị Hồ Phỉ chụp được chính là Trương Ninh. Hắn đánh vuột mất binh khí, lại bị Hồ Phỉ xoay quanh, đầu váng mắt hoa, cựa quậy cũng không sao thoát được.

Hồ Phỉ thấy Viên Tính ngồi trên ngựa né đông tránh tây mà con ngựa đã bị trúng mấy nhát đao, không ngớt hý lên những tiếng thê thảm. Chàng liền nhấc bổng Trương Ninh lên xông tới trước mặt Viên Tính miệng hô:

– Đi theo tại hạ!

Viên Tính nhảy xuống ngựa. Hai người chạy đến bên cạnh phần mộ Hồ Nhất Đao.

Bên mộ có một cây bách lớn. Hai người liền tựa vào vách cây cự địch, đối phương khó vây đánh hơn.

Hồ Phỉ nhấc Trương Ninh giơ lên quát:

– Các ngươi có muốn cho người anh em này sống nữa hay không?

Điền Quy Nông la lên:

– Cứ giết được tên phản tặc Hồ Phỉ là Phúc đại soái sẽ trọng thưởng.

Câu nói của hắn có ý nhắc nhở bọn thủ hạ: “Trương Ninh có sống hay chết cũng không quan trọng”. Hắn thấy mọi người ngần ngừ liền múa đao xông tới.

Hồ Phỉ cũng biết tuy mình bắt được Trương Ninh, nhưng không thể uy hiếp cho kẻ địch lùi lại. Chàng nghĩ Điền Quy Nông trong tay có bảo đao mà võ công lại cao cường, muốn bắt hắn không phải là việc dễ đàng. Hay hơn hết là bắt lấy Miêu phu nhân làm con tin, có điều bà đứng ở đằng xa ngoài mười trượng, bất luận thế nào cũng không thể xông tới được.

Chàng thấy Điền Quy Nông đang từng bước gần tới, liền sờ lưng Trương Ninh xem có đoản đao hay chủy thủ không, để còn chống cự được một lúc.

Bỗng chàng sờ đụng một túi cương tiêu rất nặng. Chàng liền dùng tay trái điểm huyệt hắn, tay mặt thò vào túi lấy một mũi cương tiêu. Hồ Phỉ nhấc thử lên thấy mũi cương tiêu khá nặng, liền vận kình lực ném thẳng vào bụng Điền Quy Nông.

Mũi cương tiêu thì nặng, kình lực phóng đi lại cực kỳ mãnh liệt. Điền Quy Nông cả kinh, thấy mũi tiêu chỉ còn cách bụng dưới không quá nửa thước, vội vung đao lên gạt. Tuy cây cương tiêu bị chặt đứt làm hai khúc nhưng đà đi của mũi tiêu chưa suy giảm, đâm vào cánh tay hắn thủng tới da thịt.

Giữa lúc ấy lại nghe tiếng rú “ối” thê thảm, một tên võ sĩ trúng tiêu vào cổ họng ngã ngửa về phía sau.

Điền Quy Nông tức giận thóa mạ:

– Tên tiểu tặc kia! Thử coi bữa nay ngươi còn trốn được nữa không?

Nhưng hắn không dám mạo hiểm xông vào, mà đứng chỉ huy bọn vệ sĩ vây kín hai người. Lần này bọn vệ sĩ trong phủ Phúc Khang An kéo đến đây, kể cả Điền Quy Nông là hai mươi bảy tên. Hồ Phỉ tuy giết chết chín tên, nhưng cũng bị thương không nhẹ. Mười tám tên còn lại bao quanh bốn phía.

Lúc này bọn chúng đã nắm chắc phần thắng. Có mấy người tiếc tài Hồ Phỉ liền gọi chàng đầu hàng.

Hồ Phỉ khẽ bảo Viên Tính:

– Tại hạ sẽ xông ra phía đông để kéo dãn vòng vây. Còn cô nương hãy mau chạy về phía tây. Con bạch mã đang cột dưới gốc tùng.

Viên Tính đáp:

– Con bạch mã đó là của đại ca, chứ có phải của tiểu muội đâu?

Hồ Phỉ gắt:

– Lúc này là lúc nào mà cô nương còn “của đại ca, của tiểu muội” nữa? Tại hạ không thể chiếu cố cho cô nương được nữa, cô nương chỉ cần đột phá trùng vây mà chạy thoát.

Viên Tính nói:

– Tiểu muội đâu cần đại ca chiếu cố. Đại ca cứ chạy theo hướng đó đi.

Theo kế hoạch của Hồ Phỉ thì Viên Tính sẽ cưỡi con bạch mã lao đi thật nhanh, còn chàng dùng dũng lực đối phó. Cách này may ra có thể thoát thân được. Nhưng Viên Tính không chịu, mà trong thâm tâm Hồ Phỉ cũng không muốn. Hai người quyết không chịu rời nhau trong giây phút quyết định tử sinh. Cũng có thể cả hai đều cảm thấy cảnh ngộ đời mình quá trớ trêu đau khổ nên chỉ muốn chết cho xong.

Hồ Phỉ nắm tay Viên Tính nói:

– Thôi được! Viên cô nương! Chúng ta đành cùng chết ở đây. Tại… tại hạ thấy trong lòng rất đỗi hoan hỷ.

Viên Tính khẽ hất tay chàng ra, vừa thở vừa nói:

– Tiểu muội …đã là người xuất gia. Đại ca dừng kêu bằng Viên cô nương nữa. Tiểu muội cũng không phải họ Viên.

Hồ Phỉ thấy trong lòng rất đỗi thê lương, nghĩ thầm:

– Hai người sắp chết đến nơi mà nàng vẫn kiên cường, chẳng mềm lòng chút nào.

Bỗng thấy một tên võ sĩ múa đao thành một vùng bạch quang, đang từng bước tiến lại gần. Hồ Phỉ lượm một viên đá ném vào giữa vùng bạch quang. Tên võ sĩ vung đao lên gạt rơi xuống. Hồ Phỉ liền nhân chỗ sơ hở phóng cương tiêu trúng vào trước ngực hắn. Tên vệ sĩ ngã ra tắt thở chết ngay.

Điền Quy Nông hô lớn:

– Tên tiểu tặc này hung hăng quá mức! Chúng ta cùng xông cả vào chẳng lẽ gã có ba đầu sáu tay hay sao?

Hồ Phỉ ngẩng đầu nhìn lên các vì sao đang lấp lánh, thầm nghĩ:

– Lát nữa thôi sẽ diễn một trường kịch đấu. Ta giết thêm được vài tên địch nữa, rồi thì nào trăng sao, nào hoa cỏ, nào điền dã mênh mông xin ngàn đời vĩnh biệt.

Điền Quy Nông hò hét chỉ huy, không còn úy kỵ gì nữa. Hắn ra lệnh cho tất cả bọn vệ sĩ đồng thời bốn mặt giáp công để dùng loạn đao phanh thây kẻ địch. Bọn vệ sĩ dạ ran.

Điền Quy Nông lại quát to:

– Hắn không có binh khí. Lần này mà không băm hắn thành một khối thịt không xong!

Miêu phu nhân đột nhiên chạy lại gần thêm mấy bước, nói:

– Điền đại ca! Hãy khoan! Tiểu muội có mấy câu muốn nói với thiếu niên này.

Điền Quy Nông chau mày đáp:

– A Lan! Chớ lại gần đấy. Coi chừng tên tiểu tặc phát điên rồi làm thương tổn đến nàng đó.

Miêu phu nhân vẫn khư khư nói:

– Y sắp chết rồi. Tiểu muội nói với y một câu thì có can gì?

Điền Quy Nông không biết làm sao, đành giục:

– Thôi được! Nàng nói lẹ đi.

Miêu phu nhân hỏi:

– Hồ tướng công! Tướng công chưa chôn bình tro cốt, nếu chết đi thì sao?

Hồ Phỉ ngang nhiên đáp:

– Cái đó không quan hệ gì đến bà! Tại hạ không muốn nhục mạ nữ nhân. Bà nên tránh xa ra là hơn.

Miêu phu nhân hỏi:

– Ta đã hứa lời cho tướng công hay về lệnh tôn. Tướng Công sắp chết đến nơi rồi mà cũng không muốn nghe ư?

Điền Quy Nông quát:

– A Lan! Sao nàng lại rắc rối ghê thế? Chính nàng cũng không hiểu chuyện đó kia mà!

Miêu phu nhân không lý gì đến hắn, mà nhìn Hồ Phỉ nói:

– Ta chỉ nói với tướng công ba câu có liên quan đến lệnh tôn. Tướng công có muốn nghe không?

Hồ Phỉ đáp:

– Phải rồi! Tại hạ chẳng thể ôm mối nghi ngờ trong lòng mà chết. Vậy phu nhân nói đi!

Miêu phu nhân nói:

– Câu chuyện này ta chỉ có thể nói với một mình tướng công nghe thôi. Nhưng tướng công không được bắt ta làm con tin. Nếu tướng công chẳng ưng thuận thì ta không nói nữa.

Hồ Phỉ đáp:

– Trước khi tại hạ chết mà cởi bỏ được mối nghi ngờ trong lòng, lẽ dĩ nhiên phải đa tạ phu nhân, khi nào lại hãm hại? Trong thiên hạ, nam tử hán, đại trượng phu nhiều lắm. Phu nhân tưởng ai cũng đê hèn ty bỉ như Điền Quy Nông chăng?

Điền Quy Nông sa sầm nét mặt lại. Hắn chẳng hiểu Miêu phu nhân muốn nói gì với Hồ Phỉ, nhưng xưa nay hắn chưa hề làm nàng phật ý, biết rằng muốn cản cũng không được, đành tự nhủ:

– Bất luận nàng nói gì cũng không có lợi đến thanh danh ta. Chi bằng đừng để người khác nghe thấy thì hơn.

Miêu phu nhân từ từ bước tới, ghé miệng vào tai Hồ Phỉ khẽ nói:

– Tướng công ra phía sau bia mộ ba thước, đào sâu xuống để chôn bình tro cốt là được một thanh bảo đao.

Nàng nói mấy câu này xong, liền lảng ra xa, lớn tiếng nói:

– Việc đó có liên quan đến Kim Diện Phật Miêu Nhân Phụng. Tướng công đã khám phá ra vụ bí mật này thì chết cũng không còn chi đáng tiếc nữa. Vậy tướng công mau đào lỗ mà chôn bình tro cốt đi, để người quá cố được yên tâm nằm dưới lòng đất. Tướng công đã giải tỏa được tâm sự, có chết cũng yên lòng.

Hồ Phỉ rất đỗi hoang mang, không hiểu ba câu của Miêu phu nhân có ngụ ý gì mà xem chừng không phải bà cố ý trêu chọc mình. Chàng tự nhủ:

– Dù sao đi nữa, cũng nên an táng xong tro cốt của nhị muội rồi sẽ tính.

Chàng liền nhằm đúng phía sau tấm bia mộ xa chừng ba thước, vận kình lực vào ngón tay để móc đất.

Điền Quy Nông thấy vậy thầm nghĩ:

– Té ra A Lan cho gã hay là phụ thân gã chết về tay Miêu Nhân Phụng.

Trong lòng hắn cảm thấy được an ủi, liền quay lại nhìn A Lan mỉm cười. Hắn nghe A Lan bảo Hồ Phỉ đào đất chôn bình tro cốt, cũng không huy động bọn vệ sĩ ngăn trở. Hắn nghĩ Hồ Phỉ đằng nào cũng chết, chỉ là sớm hay muộn mà thôi.

Mười sáu tên võ sĩ lăm lăm binh khí trong tay, đứng cách Hồ Phỉ chừng hơn một trượng, nhưng mắt vẫn giám thị chàng không chớp.

Viên Tính thấy Hồ Phỉ khoét lỗ chôn tro cốt Trình Linh Tố, nàng nghĩ tới chính mình cùng Hồ Phỉ cũng sắp đi vào lòng đất, liền rón rén quỳ xuống, chắp hai tay trước ngực để làm lễ, miệng lâm râm niệm kinh.

Sau lưng và bả vai Hồ Phỉ mỗi lúc càng thêm đau đớn kịch liệt. Hai tay chàng vẫn tiếp tục đào sâu xuống. Chàng nhìn thấy Viên Tính chắp tay quỳ, thần sắc trang nghiêm, thì trong lòng như được an ủi, tự nhủ:

– Nàng đã toàn tâm quy Phật, sao ta cứ miễn cưỡng bắt nàng hoàn tục? May mà nàng chẳng chịu, nếu không thì đến lúc lâm tử, lòng nàng cũng chẳng được bình yên.

Đột nhiên cả hai tay chàng cùng chạm vào một vật cứng rắn, lạnh toát. Trong đầu Hồ Phỉ thoáng hiện lên câu nói của Miêu phu nhân về thanh bảo đao. Chàng lẩm bẩm:

– Quả có thanh bảo đao thật!

Song Hồ Phỉ vẫn giữ nét mặt thản nhiên, đưa hai tay sờ hai bên. Quả nhiên là một thanh đơn đao còn cả vỏ. Chàng đưa tay nắm chuôi đao khẽ rút ra chừng hơn một tấc, thanh đao vẫn còn nguyên chưa han rỉ.

Hồ Phỉ tự hỏi:

– Miêu phu nhân vừa nói: “Vụ này liên quan đến Kim Diện Phật Miêu Nhân Phụng”, chẳng lẽ thanh đao này do Miêu đại hiệp chôn xuống đây? Hay là Miêu đại hiệp vì kỷ niệm với tiên phụ mà chôn thanh đao này trong mộ?

Chàng chỉ phỏng đoán thôi nhưng lại đúng. Có điều chàng không hay sở dĩ Miêu Nhân Phụng quen biết Miêu phu nhân rồi thành thân cũng nhờ thanh “Lãnh nguyệt bảo đao” này, mà lương duyên tan vỡ cũng vì nó. Bởi vậy Miêu Nhân Phụng mới đem thanh bảo đao này chôn theo Hồ Nhất Đao.

Trên cõi đời này, ngoài Miêu Nhân Phụng và Miêu phu nhân ra chẳng một ai hay chuyện đó.

Hồ Phỉ thấy đao rồi ngửng đầu nhìn về phía Miêu phu nhân, bỗng nghe bà buồn rầu nói:

– Muốn hiểu lòng người khác, sao mà khó vậy!

Bà buông tiếng thở dài, từ từ cất bước lảng ra xa.

Điền Quy Nông quát lớn:

– A Lan, nàng hãy về khách điếm chờ ta. Đợi ta giết xong tên tiểu tặc này, chúng ta sẽ uống rượu ăn mừng.

Miêu phu nhân không đáp, cứ lầm lũi đi giữa cánh đồng hoang mỗi lúc một xa.

Điền Quy Nông quay lại giuc:

– Tên tiểu tặc kia! Chôn mau đi! Chúng ta không chờ nữa

Hồ Phỉ đáp:

– Được lắm! Cũng không cần phải chờ nữa!

Chàng rút thanh đao ra, ánh thanh quang lấp lánh, khí lạnh ghê người. Ánh sáng từ thanh đao trong tay chàng cứ lung linh như nước chảy, dưới ánh trăng lạnh lại càng lưu chuyển bất định.

Điền Quy Nông cùng bọn võ sĩ đều kinh hoảng, Hồ Phỉ thừa cơ bọn chúng chưa kịp định thần, vung đao nhảy tới chém liền. Những tiếng choang choảng vang lên không ngớt, ba cây binh khí trong tay ba tên võ sĩ bị chặt gãy. Hai tên bị cụt tay.

Điền Quy Nông hoành đao chém tới. Hồ Phỉ giơ đao lên gạt đánh “choang” một tiếng, âm hưởng ngân nga hồi lâu không dứt.

Hai người cùng nhảy lùi ra xa ba bước, dười ánh trăng sáng nhìn lại thanh đao vẫn còn nguyên vẹn. Hai thanh bảo đao này quả là kỳ phùng địch thủ.

Hồ Phỉ thấy thanh đao của mình lợi hại chắng kém gì bảo đao của Điền Quy Nông thì chẳng khác nào như hổ thêm cánh. Chàng thi triển “Hồ gia đao pháp” chỉ trong chớp mắt lại đả thương thêm ba tên võ sĩ nữa.

Bảo đao của Điền Quy Nông tuy chẳng kém gì bảo đao trong tay Hồ Phỉ, nhưng đao pháp thì hắn còn thua chàng xa. Hắn sử trường kiếm đấu với Hồ Phỉ còn không nổi, huống chi bây giờ lại dùng cái sở đoản của mình để đối phó với sở trường của địch?

Mới trao đổi được ba bốn chiêu Điền Quy Nông đã tiến tiếp trúng đao vào cánh tay và bắp chân. Nếu hắn không được bốn vệ sĩ giải cứu thì đã táng mạng dưới lưỡi đao của Hồ Phỉ rồi. Lúc này bọn vệ sĩ chưa bị thương thì chỉ còn lèo tèo vài tên, mà bất kỳ binh khí gì đụng vào đao của Hồ Phỉ đều lập tức bị chặt gãy.

Hồ Phỉ cũng không muốn truy tận sát tuyệt, liền la lên:

– Ta thấy các vị cũng đều là hảo hán, hà tất phải liều mạng làm chi?

Điền Quy Nông thấy tình thế nguy ngập liền co giò chạy trốn. Bọn võ sĩ đỡ đồng bọn bị thương hoặc thu nhặt xác người chết, chịu đại bại mà bỏ đi.

Mãi mấy năm sau, mọi người suy nghĩ đến nát óc, bàn luận đủ điều mà vẫn không thể lần ra manh mối thanh bảo đao từ đâu lại lọt vào tay Hồ Phỉ. Vì chàng hành động xuất quỷ nhập thần, không ai lường được, nên ngoại hiệu “Phi Hồ” cũng từ đó mà truyền đi.

Hồ Phỉ cầm đao, cất lên tiếng hú lanh lảnh, trong lòng cảm khái muôn vàn.

Chàng tra đao vào vỏ, đặt xuống huyệt mộ để nó vĩnh viễn làm bạn với phụ thân dưới lòng đất lạnh.

Chàng lại đặt bình tro cốt của Trình Linh Tố xuống huyệt mộ, rồi lấp lại.

Viên Tính chắp tay niệm Phật kệ:

Nhất thiết ân oán hội

Vô thường nan đắc cửu.

Sinh thế đa ưu sự

Mệnh nguy ư thần lộ.

Do ái cố sinh bố

Do ái cố sinh bố.

Nhược ly ư ái giả

Vô ưu hựu vô bố

(Mọi ân oán đời này

Đều vô thường chóng phai

Cõi thế nhiều khổ não

Đời người như sương mai

Do ái sinh sợ hãi

Do ái sinh ưu phiền

Kẻ nào lìa chữ ái

Tâm mới được an nhiên)

Niệm xong, nàng lẳng lặng lên ngựa thong thả đi về phía tây.

Hồ Phỉ dắt con bạch mã của Lạc Băng tặng, chạy theo nói:

– Cô nương hãy cưỡi con ngựa này. Cô nương người đang bị thương, hay là… hay là….

Viên Tính lắc dầu, cứ thúc ngựa đi. Hồ Phỉ nhìn theo bóng nàng, tám câu Phật kệ vẫn còn văng vẳng bên tai.

Con bạch mã đứng bên cạnh chàng nhìn theo bóng Viên Tính đi mỗi lúc một xa, bỗng nhiên hý lên một tiếng bi thương. Nó không hiểu vì sao vị chủ nhân cũ của nó lại lặng lẽ bỏ đi mà không hề ngoảnh đầu nhìn lại.


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.

 Bình luận