Phi hồ ngoại truyện

Chương 14: Tay Áo Tía Rung, Đèn Lồng Lay Động

trước
tiếp

Đột nhiên Hồ Phỉ cảm thấy sau lưng có làn đao phong mát rượi, rồi thanh âm trong trẻo quát lên:

– Thủ hạ lưu nhân!

Tiếng quát chưa dứt, mũi đao đã đâm vào gáy chàng. Lúc ấy, Hồ Phỉ không thể vung chưởng đánh xuống mà phải nghiêng đầu để tránh mũi đao từ sau đâm tới. Chàng xoay tay lại như móc câu, chụp cổ tay địch nhân. Người kia thân thủ cũng mau lẹ phi thường, đâm một nhát không trúng lập tức biến chiêu, đâm tiếp hai nhát vào hai cạnh sườn của Hồ Phỉ. Hồ Phỉ không thể xoay người lại được, chỉ còn cách tung người ra khỏi vai Phụng Thiên Nam rồi lạng người tới trước. Người kia như bóng theo hình, tiến đánh ráo riết. Chàng quay đầu nhìn lại thấy người kia tay cầm chủy thủ mình mặc áo tía da trắng như tuyết, đầu bịt khăn xanh, chính là Viên Tử Y.

Hồ Phỉ tức giận hỏi:

– Viên cô nương! Tại sao cô nương chuyên làm khó dễ tại hạ?

Dưới bóng trăng, chàng thấy nàng như nửa giận nửa cười. Viên Tử Y cất tiếng:

– Tiểu muội muốn lãnh giáo công phu “Không thủ nhập bạch nhận” của Hồ đại ca.

Hồ Phỉ hỏi:

– Ngày tháng còn dài, hà tất cô nương phải vội vàng trong lúc này.

Lúc chàng lạng người về phía Phụng Thiên Nam. Viên Tử Y cũng uốn mình nhảy lên, mũi chủy thủ chĩa vào cổ họng chàng. Hồ Phỉ chẳng thể không tự cứu, đành hạ thấp khuỷu tay đánh chênh chếch vào vai nàng. Trong khoảnh khắc, hai người đã qua lại mười mấy chiêu nhanh như chớp. Đao quang lấp loáng, bóng chưởng bay múa, chiêu nào cũng khiến người ta phải kinh tâm động phách.

Chu Thiết Tiêu, Tăng Thiết Âu và Vương thị huynh đệ chưa biết Viên Tử Y, đột nhiên thấy nàng xuất hiện giải cứu Phụng Thiên Nam trong lúc nguy cấp, mà võ công lại rất cao cường, không ai là không kinh ngạc.

Hai người này ra tay cực kỳ mau lẹ, quần hào trông hoa cả mắt. Bỗng nghe Hồ Phỉ quát lên một tiếng, hai người cùng nhảy lên đầu tường rồi vọt ra ngoài. Viên Tử Y múa tít lưỡi chủy thủ phóng những chiêu tàn độc nhằm vào yếu huyệt trên người Hồ Phỉ, tưởng chừng như cuộc đấu liều mạng. Hồ Phỉ không dám lơ là phải ngưng thần tiếp chiêu, tai nghe Phụng Thiên Nam vừa cười vừa la lớn:

– Hồ gia tiểu huynh đệ! Lão ca ca xin thất lễ. Hẹn ngày tái ngộ.

Hồ Phỉ tức giận đến cực điểm, muốn tung mình rượt theo, nhưng bị Viên Tử Y bám riết không sao thoát được. Trong lòng oán hận, chàng quát hỏi:

– Viên cô nương. Giữa tại hạ và cô nương không thù không oán…

Chàng nói chưa dứt lời bỗng thấy bạch quang lấp loáng, lưỡi chủy đâm tới bên mình. Những cao thủ tỷ đấu, sống chết chỉ trong chớp mắt nên vạn lần không thể nóng nảy được. Võ công của Hồ Phỉ chỉ hơn Viên Tử Y một chút, nhưng một người tay không và một người cầm đao thì rơi vào thế ngang ngửa nhau.

Hồ Phỉ giương mắt lên nhìn cừu nhân chạy đi, không khỏi một chút phân tâm liền bị đao đâm trúng vai. Nghe “roạc” một tiếng, vai áo đã bị mũi chủy thủ vạch một đường. Lúc này Viên Tử Y thuận thế cho tay phải thấp xuống thì chàng lập tức bị tổn thương đến gân cốt. Ngờ đâu cổ tay nàng lại lật chếch lên.

Hồ Phỉ thấy trên vai mát lạnh mà không bị thương chút nào, không khỏi sửng sốt, tự hỏi:

– Sao cô ta hạ thủ còn lưu tình?

Viên Tử Y cười khanh khách rất tươi rồi xoay ngược chuôi chủy thủ ném về phía Hồ Phỉ. Đồng thời nàng rút cây nhuyễn tiên cuốn bên hông, cười nói;

– Hồ đại ca! Chúng ta tỷ đấu bằng khí giới một phen.

Hồ Phỉ toan vươn tay đón lấy chủy thủ, bỗng nghe Trình Linh Tố đứng trên đầu tường hô lớn:

– Dùng đơn đao đi!

Rồi cô ném đao xuống về phía Hồ Phỉ. Nguyên Trình Linh Tố thấy Hồ Phỉ đấu bằng tay sợ chàng thất lợi, nên chạy vào phòng lấy khí giới ra cho chàng.

Viên Tử Y hô lớn:

– Hảo muội tử!

Đột nhiên nàng vung nhuyễn tiên quét lên tường. Trình Linh Tố vội tung người nhảy vào trong. Viên Tử Y áp đầu roi vào tường, lấy đà nhảy vọt lên như con chim khổng lồ tiến vào. Dưới ánh trăng, tà áo nàng phất phới như tiên tử bay giữa không trung. Người nàng chưa hạ xuống đất đã vung tiên nhằm quất xuống Trình Linh Tố, đánh vút một tiếng, miệng hô:

– Trình gia muội tử! Hãy tiếp nhận ba chiêu.

Trình Linh Tố cúi đầu né tránh. Nhưng tiên pháp của Viên Tử Y biến chiêu cực kỳ mau lẹ, lướt từ mé trái cuốn qua mé phải, lập tức bóng roi trùm cả lên người cô. Hồ Phỉ biết Trình Linh Tố không phải là địch thủ của Viên Tử Y. Lúc này nếu chàng rượt theo Phụng Thiên Nam lại sợ Viên Tử Y hạ sát thủ nên dù phải bỏ mất cơ hội cũng đành chịu.

Chàng nhảy vào trong vườn, vung đao lên hô:

– Cô nương muốn tỷ thí thì tỷ thí!

Viên Tử Y la lên:

– Hảo đại ca ngoan quá!

Nàng cuốn roi toan quấn lấy mũi đao của Hồ Phỉ. Bây giờ hai người trong tay đều có binh khí, cuộc chiến đấu khác hẳn lúc trước. Hồ Phỉ thi triển đao pháp gia truyền trong cương có nhu, trong nhu có cương, lúc mau lẹ như sấm dậy điện chớp, lúc trầm ổn như núi cao sừng sững. Tiên pháp của Viên Tử Y cũng tung hoành linh động, đúng phong phạm của một cao thủ. Chỉ trong khoảnh khắc hai người đã chiết giải ngoài ba chục chiêu. Roi vung như linh xà lượn múa, đao chém như mãnh hổ vồ mồi.

Bọn Tần Nại Chi, Chu Thiết Tiêu, Vương thị huynh đệ đứng xem đều kinh hãi, nghĩ bụng:

– Hai nhân vật này còn nhỏ tuổi mà không hiểu võ công sao lại cao thâm đến thế!

Thực ra hai người lúc tỷ đấu bằng khí giới, chỉ mới phát huy sáu, bảy phần công phu. Hồ Phỉ thấy Viên Tử Y gặp những cơ hội khẩn yếu vẫn không cố ý hạ sát thủ nên chàng cũng nhường nhịn mấy phần. Chàng vừa chiến đấu vừa nghĩ thầm:

– Nàng đối với ta như vậy, rốt cuộc không hiểu có dụng ý gì?

Vừa rồi Chu Thiết Tiêu, Tăng Thiết Âu, Tần Nại Chi ba người đã ra tay đối phó với Hồ Phỉ đều kém thế, họ biết nếu đơn đả độc đấu thì không phải là đối thủ của chàng. Chúng thấy Viên Tử Y bám riết Hồ Phỉ chính là cơ hội tốt để hạ thủ, liền đưa mắt ra hiệu, giả vờ ngưng thần quan chiến, đồng thời tản ra xung quanh rồi từ từ tiến lại gần để hợp kích Hồ Phỉ.

Đã là những tay cao thủ võ học thì lúc động thủ đều mắt nhìn bốn mặt, tai nghe tám phương. Thái độ của bọn Chu Thiết Tiêu không lọt ra ngoài tầm mắt của Hồ Phỉ. Chàng nghĩ thầm:

– Bọn này mà xông cả vào thì ta muốn thoát thân cũng chẳng khó gì, nhưng không thể chìa tay để chiếu cố cho nhị muội được.

Chàng liếc mắt thấy Trình Linh Tố đứng một bên, vẻ mặt thản nhiên, liền bụng bảo dạ:

– Bây giờ chỉ có cách đánh lui Viên cô nương rồi sẽ đối phó với bọn kia.

Nghĩ tới đây, chàng vung đao đánh veo véo liền ba chiêu, đều là những gia số lợi hại trong Hồ gia đao pháp. Viên Tử Y vừa né tránh vừa đỡ gạt, miệng khen ngợi:

– Hảo đao pháp!

Đột nhiên nàng thu cây trường tiên về, không đỡ gạt mũi đao của Hồ Phỉ đang đâm tới bên hông, mà lại ra chiêu “Phụng hoàng tam điểm đầu” đánh tới trước mặt ba người Tăng Thiết Âu, Chu Thiết Tiêu và Tần Nại Chi. Chiêu này đánh quá sức đột ngột, ba người vội nhảy lùi lại phía sau. Tăng Thiết Âu chậm một chút bị ngọn roi quét trúng cổ, lằn lên một vết máu tím bầm.

Lúc này mũi đao của Hồ Phỉ chỉ còn cách hông Viên Tử Y không đầy một thước. Chàng thấy nàng đột nhiên xoay roi đánh lui địch nhân giúp mình liền dừng tay lại ngay tức khắc. Thanh đơn đao không phóng tới cũng không lùi lại, mà đứng nguyên bất động mới thật là tuyệt diệu. Thế đao đang đi gấp mà dừng được ngay lại, như đóng đinh giữa khoảng không, còn khó hơn phóng tới đâm địch nhân gấp mười lần.

Viên Tử Y giương cặp mắt xinh đẹp lên nhìn Hồ Phỉ, nói:

– Sao đại ca không đâm tới?

Bỗng nghe Tăng Thiết Âu la lên:

– Cả ca ca lẫn muội muội đều ngoan quá!

Viên Tử Y sa sầm nét mặt, thu roi về quấn vào lưng rồi nhìn Hồ Phỉ hỏi:

– Hồ đại ca, đại ca hãy giới thiệu cho tiểu muội biết những vị anh hùng hảo hán này.

Hồ Phỉ đáp:

– Được! Vị này là Tần Nại Chi đại gia, chưởng môn “Bát Cực quyền”, vị kia là Chu Thiết Tiêu đại gia, chưởng môn Ưng trảo nhạn hành môn.

Tiếp theo chàng giới thiệu bọn Vương Kiếm Anh, Vương Kiếm Kiệt và bọn Tăng Thiết Âu, Uông Thiết Ngạc. Lúc này Ân Trọng Tường được Vương Kiếm Anh cứu tỉnh. Hắn không ngớt thóa mạ Phụng Thiên Nam nào là “loại người đê hèn vô sỉ như vậy thì anh em ta không thể giao du được”. Cuối cùng, Hồ Phỉ nói:

– Vị này là Viên cô nương.

Chàng động tâm sực nhớ điều gì, liền nói tiếp:

– Viên cô nương là tổng chưởng môn của Vi Đà môn thuộc phái Thiếu Lâm, Bát Tiên kiếm ở Quảng Tây, Cửu Long tiên ở Dịch Gia loan tỉnh Hồ Nam.

Mọi người nghe nói không khỏi động tâm, tuy họ biết Hồ Phỉ không nói dối, nhưng vẫn lộ vẻ không tin.

Viên Tử Y mỉm cười, đáp:

– Hồ đại ca chưa nói hết. Côn Luân đao ở phủ Hàm Đan, Thiên Cương kiếm ở phủ Chương Đức, Na Tra quyền ở phủ Bảo Định, cả ba phái này cũng mời tại hạ làm chưởng môn nhân.

Hồ Phi nói:

– Chà, té ra cô nương dọc đường lại được vinh dự nhận chưởng môn ba nhà. Cung hỷ! Cung hỷ!

Viên Tử Y cười đáp:

– Đa tạ! Chuyến này tiểu muội đến Bắc Kinh có ý định làm tổng chưởng môn mười nhà, nhưng không đánh nổi Vô Thanh lão đạo trưởng trên núi Võ Đang tỉnh Hồ Bắc, lại không dám khiêu chiến với Đại Trí thiền sư ở chùa Thiếu Lâm tỉnh Hà Nam. Thật may lại gặp ba vị chưởng môn ở đây. Này! Chử lão sư, chưởng môn của Tái Bắc Lôi điện môn là Ma lão phu tử có đến Bắc Kinh không?

Người sử lôi chấn đáng là võ sư Chử Oanh, nghe nàng hỏi tới sư phụ, liền đáp:

– Trước nay gia sư chưa từng vào vùng Trung nguyên. Nếu có việc gì đều giao cho bọn đệ tử xử lý.

Viên Tử Y nói:

– Hay lắm! Chử đại gia là đại sư huynh cũng kể như là nửa vị chưởng môn. Vậy đêm nay tại hạ muốn đoạt ba chức chưởng môn rưỡi của các vị. Làm tổng chưởng môn của mười nhà không được thì chín nhà rưỡi cũng được vậy.

Nàng vừa nói câu này, bọn Chu Thiết Tiêu đều biến sắc. Tần Nại Chi ôm quyền, cười khanh khách hỏi:

– Chưởng môn Vi Đà Môn phái Thiếu Lâm là Vạn Hạc Thành đại ca có mối giao tình mấy chục năm với tại hạ, không hiểu tại sao y lại truyền ngôi chưởng môn cho cô nương?

Viên Tử Y đáp:

– Vạn đại gia chết rồi. Sư đệ y là Lưu Hạc Chân đánh không nổi tại hạ. Ba tên đồ đệ lại càng vô dụng. Sau khi phân cao thấp bằng đao thương quyền cước, dù họ chẳng muốn nhường chưởng môn thì cũng phải nhường. Tần lão sư, bây giờ tại hạ xin lĩnh giáo công phu “Bát Cực quyền” của lão sư trước rồi sẽ chiết chiêu cùng ba vị Chu lão sư, Vương lão sư, Chử lão sư. Tại hạ có làm được tổng chưởng môn mười nhà thì đến dự cuộc đại hội các chưởng môn nhân trong thiên hạ mới thật vẻ vang.

Nàng nói mấy câu này là coi bọn Chu, Tần, Vương, Chử không vào đâu. Nghe nàng khiêu chiến kiểu đó, bọn Chu Thiết Tiêu, Vương Kiếm Anh đều là những cao thủ võ học nổi danh khắp thiên hạ thì dù có bỏ mạng tại đương trường cũng không thể lùi bước.

Chu Thiết Tiêu lên tiếng:

– Trong Ưng trảo nhạn hành môn tiên sư đã tạ thế, còn bọn đồ đệ thì không ra gì, chưa học nổi một phần mười công phu của tiên sư. Nếu cô nương chịu tứ giáo thì tệ phái từ trên xuống dưới đều lấy làm vinh hạnh. Có điều bọn sư huynh đệ của tại hạ đều là những kẻ xuẩn tài, chỉ luyện công phu của tiên sư nên không luyện võ công của phái khác.

Viên Tử Y cười đáp:

– Cái đó đã hẳn. Nếu tại hạ không hiểu võ công của Ưng trảo nhạn hành môn thì đòi làm chưởng môn phái này thế nào được? Xin Chu lão sư cứ yên tâm.

Chu Thiết Tiêu và Tăng Thiết Âu giận xám mặt, lại đưa mắt nhìn nhau nghĩ bụng:

– Dù là những tay cao thủ cũng chưa một ai coi thường Ưng trảo nhạn hành môn. Con nha đầu này ỷ vào ai mà dám đến kinh thành ngang ngược như vậy?

Bọn họ đã nhận trọng lễ của Phụng Thiên Nam để đứng ra dàn xếp vụ này. Nếu không thành chẳng qua cũng chỉ một phen cụt hứng, rốt cuộc cũng chẳng có chi đáng bận tâm. Chỉ vì vị cô nương này dám ngang ngược đến đòi giành chức chưởng môn, thì sao không đối phó cho được?

Tần Nại Chi biết rằng đêm nay không động thủ không xong. Lão vừa được coi võ công của Viên Tử Y cũng tương đương với Hồ Phỉ, mà lão lại bại dưới tay Hồ Phỉ nên thấy cần tìm cách nhường nàng đấu trước với bọn Chu, Vương cho hao tổn khí lực, rồi lão mới xuất thủ để chiếm phần tiện nghi. Lão tính xong bèn lên tiếng:

– Chu lão sư, Vương lão sư, bản lãnh của hai vị cao thâm hơn tiểu đệ nhiều. Tiểu đệ xin ẩn ở phía sau!

Viên Tử Y cười nói:

– Tần đại gia không nói tại hạ cũng biết là võ công của đại gia không bằng hai vị kia, vì thế mà tại hạ cũng cần lựa người yếu đánh trước để dành sức đối phó với kẻ mạnh. Bên ngoài đất cỏ trơn trợt lắm, chúng ta vào trong lương đình tỷ đấu. Nào! Mời đại gia!

Thân hình thấp thoáng, nàng đã vọt vào trong đình, hai chân đứng vững rồi hạ thấp vai xuống, năm ngón tay chĩa ra, chưởng tâm hướng ra ngoài như đỡ hờ phía trước bụng dưới. Đó là khởi thủ thức để bắt đầu khai diễn “Bát Cực quyền” tên gọi là “Hoài trung bảo nguyệt”.

Tần Nại Chi giật mình, thầm tự hỏi:

– Võ công của bản phái xưa nay không lưu truyền rộng rãi ra ngoài, nhưng chiêu “Hoài trung bão nguyệt” này, vai trái hạ thấp, vai phải nhô cao, tả quyền chênh chếch, hữu quyền ngay ngắn, đúng là công phu chân truyền của bản phái, không hiểu thị học ở đâu ra?

Lão liếc nhìn Hồ Phỉ một cái rồi nghĩ tiếp:

– Hôm trước ta cùng gã này động thủ, rõ ràng là không dùng khởi thủ thức, rồi sau đó cùng gã này đàm luận về quyền pháp cùng không hề nhắc đến chiêu này. Như vậy là gã không truyền cho cô nương này được rồi.

Trong lòng lão rất đỗi kinh nghi, nhưng ngoài mặt vẫn điềm nhiên, lão nói:

– Đã thế thì đợi tiểu lão khuân dọn bàn ghế để cho khỏi vướng chân tay.

Viên Tử Y đáp:

– Tần lão sư nói thế là sai. Quyền pháp của bản môn gồm có bát cực là “Phiên Thủ”, “Điệp Uyển”, “Thốn Khẩn””, “Đẩu Chuyển” và tám thức là “Lâu, Đả, Đằng, Phong, Thích, Đàm, Tảo, Quái” biến hóa thành “Thiểm, Trường, Dược, Đóa, Ảo, Thiết, Bế, Bát” gọi là Bát pháp. Bốn mươi chín đường “Bát Cực quyền” diệu ở chỗ lấn lướt. Nếu còn ngại bàn ghế làm vướng chân tay thì gặp lúc chiến đấu sinh tử với địch nhân, chẳng lẽ cũng xin họ khuân dọn bàn ghế trước hay sao?

Nàng thuyết một phen giống như giọng lưỡi của chưởng môn giáo huấn đồ đệ, mà các pháp quyết trong “Bát cực quyền” lại không sai một chữ nào. Tần Nại Chi đỏ mặt lên, lẳng lặng khom lưng nhảy vào lương đình, ra chiêu “Thôi sơn thức”, vung tả quyền đánh tới.

Viên Tử Y lắc đầu, nói:

– Chiêu này không đúng!

Nàng không đỡ gạt, chỉ bước qua bên trái một bước. Trước mặt Tần Nại Chi là một cái bàn cản trở, phát chưởng của lão không đánh được tới người nàng. Nhưng lão biến chiêu rất thần tốc, phóng ra liền ba tuyệt chiêu là “Trừu bộ phiên diện chùy”, “Diêu tử phiên thân”, “Phách quái chưởng”. Viên Tử Y khẽ nhớm chân phải lên, tay trái đặt chéo trên tay phải đánh xoáy tới thành dương quyền, rồi trong chớp mắt lại biến thành âm quyền đánh ra. Đó chính là thức thứ bốn mươi tư trong “Bát cực quyền” có tên là “Song đả kỳ môn”. Nguyên đây là chiêu số rất đắc ý của Tần Nại Chi, có điều Viên Tử Y xuất chiêu thần tốc, khiến Tần Nại Chi không kịp đề phòng, phải lập tức nghiêng mình để tránh.

“Binh” một tiếng, người lão đụng vào bàn, khiến cho các chung trà trên bàn đảo qua đảo lại mấy lần.

Viên Tử Y cười nói:

– Coi chừng!

Nàng liền tấn công ráo riết cả hai bên tả hữu, song quyền vung ra không ngớt như mưa, một bước thành ba vòng, ba bước thành chín lần biền đổi đều là những chiêu số của “Bát cực quyền”. Tần Nại Chi gắng sức chống đỡ. Lão thấy chiêu số của nàng đúng là quyền pháp của bản môn, có điều nàng sử dụng chậm, lúc nghiêng trái lúc nghiêng phải, không giống công phu bản môn.

Viên Tử Y hỏi:

– Sao lão sư chỉ đón đỡ chứ không trả đòn? Lão sư đang sử dụng “Bát cực quyền chứ đâu phải là “Ai thấu quyền”!

Tần Nại Chi giận quá, bèn thóa mạ:

– Con tiểu tiện nhân!

Lão ra chiêu “Thanh long xuất thủy”, tay trái làm thành hình móc câu, tay phải nắm thành quyền đánh ra. Viên Tử Y đối phó bằng chiêu “Tỏa thủ toản quyền”. Đột nhiên khuỷu tay phải lắc một cái rồi xoay tay nắm lấy cổ tay phải của Tần Nại Chi, bẻ quặt ra sau lưng đồng thời tay trái móc lên, bốn ngón đưa ra trước, ngón cái để sau chụp trúng vào huyệt “Kiên trinh” của lão, thuận đà đẩy mạnh tới phía trước, đè lão xuống mặt bàn, đặt miệng lão vào chung trà. Nàng quát:

– Uống trà đi!

Nàng sử dụng “Phân cân thác cốt thủ” một cách bình thường chẳng có chi kỳ lạ, tưởng chừng như mọi người trong bất cứ môn phái nào cũng luyện được. Có điều nàng ra tay cực kỳ thần tốc, tay nàng vừa đụng vào cổ tay Tần Nại Chi đã làm cho toàn thân lão bị kiềm chế. Lão vừa kinh hãi vừa tức giận, không tự chủ được, lại cất tiếng thóa mạ:

– Con tiểu tiện nhân!

Hai tay Viên Tử Y tăng gia kình lực. Bỗng nghe một tiếng lách cách. Xương bả vai Tần Nại Chi liền bị trật khớp. Nàng buông cổ tay lão ra, ngồi xuống ghế tròn tủm tỉm cười lạt, hỏi:

– Lão có nhường ngôi chưởng môn hay không?

Tần Nại Chi đau điếng người, trán toát mồ hôi lạnh, không nói nửa lời, rảo bước ra khỏi đình. Vương Kiếm Anh bước tới, một tay đỡ cánh tay phải cho lão còn một tay đỡ cổ. Hắn kéo ra rồi đưa vào để nắn lại khớp xương.

Vương Kiếm Anh quay lại nói:

– Công phu “Bát Cực quyền” của Viên cô nương quả nhiên thần diệu. Bây giờ tại hạ xin lãnh giáo môn “Bát Quái chưởng” của cô.

Dứt lời hắn tiến vào trong đình.

Viên Tử Y thấy bộ pháp của hắn ngưng trọng vững vàng, thì biết ngay là kình địch. Phàm những người luyện “Du thân bát quái chưởng” tất nhiên bộ pháp nhẹ nhàng phiêu dật, bước đi tựa hồ không chấm đất, nhưng cước bộ của Vương Kiếm Anh lại cực kỳ trầm trọng làm cho cát bụi tung bay, đó chính là căn cơ lợi hại vô tỷ, gọi là “Tự trọng chính tự khinh, chí khinh phản trọng”, luyện tập bộ pháp từ lúc còn nặng nề cho đến khi chân bước nhẹ nhàng, rồi sau đó lại khổ luyện cho bộ pháp lại nặng nề như lúc ban đầu. Viên Tử Y biết lão đã luyện mấy chục năm công lực, nàng chẳng thể bì kịp.

Hồ Phỉ tiến vào trong đình bưng lấy chung trà nhấp một hớp, khẽ nói:

– Tay này lợi hại lắm, cô nương chớ khinh địch.

Viên Tử Y cúi mặt nhìn xuống, khẽ đáp:

– Tiểu muội đã nhiều phen làm hỏng đại sự của đại ca, mà đại ca không giận tiểu muội ư?

Nàng hỏi câu này, Hồ Phỉ khó trả lời. Nếu bảo rằng không giận là không đúng, vì nàng đã liên tiếp ba lần cứu thoát Phụng Thiên Nam khỏi bàn tay chàng. Còn bảo rằng giận thì nhìn đôi mắt lóng lánh như sóng hồ thu dường như vô tình mà lại tựa hữu tình của nàng, thì ai mà oán trách được?

Viên Tử Y thấy Hồ Phỉ tiến vào đình dặn mình đề phòng, khiến nàng được an ủi rất nhiều. Nàng đang lo ngại không thắng nổi vị cao thủ Bát Quái môn, đến lúc này bỗng thấy tinh thần phấn khởi, dũng khí tăng lên, liền khẽ đáp:

– Đại ca yên tâm!

Viên Tử Y dí đầu ngón chân xuống nhảy lên mặt cái ghế tròn, nói:

– Vương lão sư! Võ công của Bát Quái môn chủ yếu chân đạp phương vị Bát quái: Càn, Khôn, Tốn, Khám, Chấn, Đoài, Ly, Cấn. Chúng ta chiết chiêu ở ngay trên những cái ghế này.

Vương Kiếm Anh đáp:

– Hay lắm!

Lão từ từ bước lên ghế tròn, hai tay vòng lại, một chưởng cong về phía trước, một chưởng vòng lại sau lưng. Hồ Phỉ đưa mắt ra hiệu cho Viên Tử Y rồi lui ra khỏi lương đình.

Viên Tử Y hỏi:

– Thường nghe Vương thị huynh đệ ở Bát Quái môn nổi danh anh kiệt ngang nhau. Lát nữa Vương lão sư mà thất bại rồi, lệnh đệ còn đánh nữa hay thôi?

Vương Kiếm Anh bản tính trầm tĩnh nhưng nghe mấy câu này cũng không nhịn được. Theo lời nàng thì dù chưa động thủ, nhất định hắn sẽ thất bại. Hắn đã không khéo nói, lại đang cơn thịnh nộ, miệng cứ lắp bắp không nên lời.

Vương Kiếm Kiệt tức giận quát:

– Con tiểu nha đầu đừng nói nhăng nói càn, chỉ cần ngươi đỡ nổi một trăm chiêu của đại ca ta là anh em ta từ nay không sử “Bát Quái chưởng” nữa.

Nên biết Vương thị huynh đệ là hạng danh cao vọng trọng trong võ lâm, hạng võ sư tầm thường không đỡ nổi mười chiêu của họ. Vương Kiếm Kiệt đã nói tới một trăm chiêu là không dám coi thường Viên Tử Y.

Viên Tử Y đưa mắt nhìn xéo, lạnh lùng hỏi:

– Sau khi ta đánh bại lệnh huynh thì có được coi là chưởng môn của Bát Quái môn không? Ngươi còn đấu nữa hay thôi?

Vương Kiếm Kiệt đáp:

– Ngươi khoác lác gì thế? Hãy thắng được ca ca ta đã rồi hãy nói cũng chưa muộn.

Viên Tử Y nói:

– Ta muốn hỏi cho rõ ràng đã.

Vương Kiếm Kiệt chưa kịp trả lời, Vương Kiếm Anh hỏi:

– Tôn sư là ai?

Viên Tử Y hỏi lại:

– Ngươi hỏi sư phụ ta làm chi?

Nàng đảo cặp mất đen láy ra chiều hiểu ý, rồi nói tiếp:

– Chà! Vương lão sư đã động nộ muốn hạ sát thủ nên mới hỏi sư phụ ta trước. Oai danh sư phụ ta rất lớn, nói ra chỉ làm cho lão phải bở vía. Ta không nêu tên sư phụ ra đâu, lão cứ việc giở hết những tuyệt kỹ của Bát Quái môn ra đi. Người ta thường nói đã không biết là không có tội. Dù lão đánh chết ta, gia sư cũng không trách lão đâu.

Nàng nói mấy câu này trúng tâm sự Vương Kiếm Anh. Lão thấy nàng đã tỷ đấu với Hồ Phỉ, lại kiềm chế Tần Nại Chi, xuất thủ không phải tầm thường thì nhất định có một lai lịch rất lớn. Nếu lão nặng tay đả thương nàng thì sau này sư phụ nàng tính đến tất khó bề đối phó. Lão nghe nàng nói vậy liền bảo:

– Xin các vị nơi đây làm chứng cho!

Lão vung chưởng đánh vút ra, chưởng lực chưa đến mà thân hình đi theo chưởng tiến tới, hai chân di động phương vị, bước từ cung Khôn sang cung Ly. Thân hình lão to lớn mà khi thi triển khinh công của Bát Quái môn thì cước bộ nhẹ nhàng như chim én lướt sóng. Viên Tử Y phóng chưởng đánh chênh chếch ngăn lại, đi từ cung Cấn đuổi qua cung Chấn. Tay nàng sử dụng Bát Quái chưởng, còn chân bước theo phương vị Bát quái. Vương Kiếm Anh đánh liền mấy chưởng đều bị nàng hất đi. Hai người đi quanh cái bàn tròn, di chuyển trên mười hai cái ghế đá chẳng khác gì bọn trẻ con chơi trò trốn tìm nhưng cước lực mỗi lúc một nhanh, khiến quần áo phát ra tiếng gió phần phật.

Vương Kiếm Anh nghĩ thầm:

– Con tiểu nha đầu này tâm tư rất linh xảo, đã dụ được ta đấu chưởng trên ghế đá cách một cái bàn. Chưởng lực của thị vốn không bì kịp ta, nhưng cái bàn tròn cản trở ở giữa thì thị không còn sợ chưởng lực trầm trọng của ta nữa.

Lão lại tự nhủ:

– Võ công con nha đầu này thật là phức tạp. Thị sử được môn Bát Quái chưởng của nhà ta rất chính xác, hà tất ta phải dùng chưởng pháp thông thường để dây dưa với thị?

Đột nhiên lão hú lên một tiếng, chân bước loạn xạ, thủ chưởng xiêu vẹo. Lão thi triển môn tuyệt kỹ gia truyền “Bát trận Bát Quái chưởng” oai chấn của phụ thân Hà Sóc Vương Duy Dương. Chưởng pháp này Vương Duy Dương chỉ dạy cho hai con, còn đệ tử khác họ như Thương Kiếm Minh đều không được truyền thụ. Đó là môn Bát Quái chưởng kèm theo Bát trận đồ. Thiên trận lấy cung Càn làm Thiên môn. Địa trận lấy cung Khôn làm Địa môn, Phong trận lấy cung Tốn làm Phong môn, Vân trận lấy cung Chấn làm Vân môn, Phi long lấy cung Khảm làm Phi Long môn, Võ Dực lấy cung Đoài làm Võ Dực môn, Điểu Tường lấy cùng Ly làm Điểu Tường môn, Uyên Bàn lấy cung Cấn làm Uyên Bàn môn. Thiên Địa Phong Vân là bốn chính môn, Long Hổ Điểu Uyên là bốn kỳ môn, Càn Khôn Cấn Tốn là hạp môn, Khám Ly Chấn Đoài là khai môn. Bốn chính môn cùng bốn kỳ môn và bốn hợp môn cùng bốn khai môn, khi áp dụng vào võ học chỉ trong khoảnh khắc đã biến hóa kỳ ảo vô cùng. Tuy ở trong lương đình nhỏ xíu cũng đủ để bài bố trận chiến đấu.

Môn “Bát trận Bát Quái chưởng” này chẳng những Viên Tử Y chưa học mà còn chưa được nghe qua. Chỉ vì đây là môn tuyệt kỹ mật truyền của Vương Duy Dương, nên dù sư phụ nàng là người uyên bác vô song về võ học cũng có chỗ chưa biết đến. Nàng mới tiếp được mấy chưởng đã hoa mắt lên, bất giác ngấm ngầm kêu khổ.

Hồ Phỉ đứng ngoài lược trận biết là tình thế không ổn, nhưng Viên Tử Y lúc trước đã khoác lác đòi đoạt chức chưởng môn, nên chàng không thể ra tay tương trợ. Chàng thấy Vương Kiếm Anh mỗi lúc một chiếm thượng phong mà không biết làm sao được.

Bỗng thấy Viên Tử Y dí chân trái xuống, nhảy lên mặt bàn, nói:

– Đứng trên ghế thi triển bản lĩnh không hay. Chúng ta lên bàn tỷ đấu. Vương lão sư không được đạp bể các chén trà cùng các đĩa trái cây đâu nhé!

Vương Kiếm Anh chẳng nói chẳng rằng, cũng nhẩy lên bàn. Lúc này hai người cách rất gần nhau, Viên Tử Y không thể dùng sự khéo léo được nữa. Quyền chưởng của đối phương phóng ra nàng phải trực tiếp đón đỡ, nhưng dưới chân lại chiếm phần tiện nghi. Nguyên trên bàn có mười hai chén trà, cùng bốn đĩa trái cây để rải rác lộn xộn chẳng khác gì “Mai hoa thung” hay  “Thanh trúc trận“ nên bước chân đặt xuống phải theo quy luật.

“Bát trận Bát Quái chưởng” của Vương Kiếm Anh mà thi triển dưới đất thì uy lực mãnh liệt phi thường, nhưng ở trên “Mai hoa thung” thì sự biến hóa liền bị hạn chế, khiến uy lực phải sút giảm theo. Lúc này ở trên bàn lão chỉ sợ lỡ đạp bể chén trà hay đĩa trái cây làm cho con nha đầu điêu ngoa kia chê cười. Lão cố giữ vị thế để khỏi phải di chuyển bước chân lúc huy động chưởng lực. Lão tự lượng không thể ỷ vào cước bộ hay chưởng pháp linh diệu, mà chỉ trông vào nội công thâm hậu để dùng đôi nhục chưởng đánh hạ nàng

Chưởng phong rít lên vù vù. Những bông hoa ở bên lương đình bị chưởng phong chấn động làm cho cánh hoa tung bay lả tả. Lúc Viên Tử Y nhảy lên mặt bàn nàng đã tính những điều lợi hại. Nàng thấy đối phương phóng những phát chưởng như cuồng phong sậu vũ, đành di chuyển thân hình không ngớt, lúc tránh tới trước khi lùi lại sau, chứ tuyệt nhiên không dám đối chưởng với Vương Kiếm Anh. Nàng biết chưởng lực của đối phương rất hùng hậu, chỉ cần song chưởng hai bên chạm nhau là nàng khó bề thoát thân.

Bỗng thấy Vương Kiếm Anh vung hờ hữu chưởng, tả chưởng đưa xéo lên, lúc này hữu chưởng mới đánh ra, Viên Tử Y khẽ khều chân hất một chén trà bắn vào mặt lão. Vương Kiếm Anh giật mình kinh hãi lạng mình né tránh nhưng Viên Tử Y đã lượng trước phương vị này, hai chân nàng liên tiếp móc hất các chung trà liên tiếp bắn tới. Vương Kiếm Anh tránh được ba cái, nhưng cái thứ tư, thứ năm đánh trúng đầu và vai lão kêu bốp bốp. Lão vung chưởng gạt chén trà thứ bảy thứ tám làm nước và xác trà trong chén văng tung tóe vào mặt, còn chén thứ chín thứ mười thì bắn trúng vào ngực lão, bật lên những tiếng chát chát. Nước trà bắn tung tóe đầy mặt mũi đầu tóc lão.

Vương Kiếm Anh và Vương Kiếm Kiệt tức giận gầm lên như sấm. Bọn người đứng xem là Uông Thiết Ngạc, Ân Trọng Tường, Chử Oanh không nhịn được cũng bật tiếng la hoảng.

Lại thấy hai cái chung trà sau cùng bắn thẳng vào hai mắt Vương Kiếm Anh. Lão phẫn nộ đến cực điểm đánh ra một chưởng thật mạnh. Viên Tử Y đá chung trà lên cốt để làm cho địch rối loạn và chờ lão phóng chưởng ra. Nàng đã gập cơ hội không thể bỏ lỡ, liền lạng mình lại vươn trảo ra chụp lấy cổ tay Vương Kiếm Anh, tay trái nắm huyệt “Khúc trì” của lão, vặn một vòng rồi đẩy mạnh ra nghe “rắc” một tiếng.

Vương Kiếm Kiệt la hoảng:

– Nguy rồi!

Xương tay Vương Kiếm Anh đã bị trật khớp. Đây vẫn là công phu “Phân cân thác cốt” tầm thường, về điểm kỳ diệu của gia số thì chẳng có chi đáng kể, nhưng Viên Tử Y ra tay nhanh như điện chớp, Vương Kiếm Anh không né tránh kịp mà phải lãnh cái nhục chung thân.

Vương Kiếm Kiệt vỗ hai tay một cái, đồng thời nhảy tới phía sau Viên Tử Y. Hồ Phỉ đánh ra một chưởng khiến gã bị chấn động phải lùi lại ba bước.

Chàng nói:

– Vương huynh hãy thong thả! Vừa nói là lấy một chọi một kia mà?

Vương Kiếm Anh sắc mặt trắng nhợt, nằm sõng soài trên bàn như xác chết. Viên Tử Y bụng bảo dạ:

– Nếu ta tha hắn một cách khinh suất, để cả hai anh em hắn quay lại khiêu chiến thì ta sao địch nổi?

Nàng liền hạ thủ chẳng nể nang gì. Nhân lúc Vương Kiếm Anh không còn sức kháng cự, nàng lại vặn trật khớp xương cánh tay trái hắn nghe lách cách, đoạn đưa ngón tay điểm vào huyệt “Thái dương”, quát hỏi:

– Ngôi chưởng môn Bát Quái môn lão có chịu nhường hay không?

Vương Kiếm Anh nhắm mắt chờ chết, không nói gì nữa Vương Kiếm Kiệt gào lên:

– Tha ngay huynh trưởng ta rồi ngươi muốn làm chưởng môn thì làm.

Viên Tử Y hỏi:

– Lão nói có chắc không?

Vương Kiếm Kiệt đáp:

– Chắc lắm! Chắc lắm!

Viên Tử Y mỉm cười nhảy xuống bàn. Vương Kiếm Kiệt đỡ người huynh trưởng ráo bước đi ngay, không ngoảnh cổ lại nữa.

Chu Thiết Tiêu nói:

– Cô nương liền một lúc đoạt ngôi chưởng môn của hai nhà, quả là bậc thông mình lanh lợi. Không hiểu cô còn lưu diệu kế gì để đối phó với Chu mỗ?

Hắn nói câu này hiển nhiên ám chỉ Viên Tử Y đã dùng ngụy kế để thắng chứ không có bản lĩnh chân thực.

Viên Tử Y đáp:

– Đối phó với Ưng trảo nhạn hành môn thì cần chi dùng đến trí kế? Bên lão ba vị sư huynh sư đệ xông vào cả một lúc, hay chỉ một mình Chu lão sư đấu với ta?

Chu Thiết Tiêu cười thản nhiên, hỏi lại:

– Viên cô nương nói vậy là nhìn người qua khe cửa, coi tất cả võ sư ở thành Bắc Kinh chẳng ra gì. Từ ngày Chu mỗ mới mười ba tuổi đến giờ vẫn đơn đả độc đấu.

Viên Tử Y nói:

– Ô! Vậy trước khi Chu lão sư được mười ba tuổi chắc không phải là anh hùng hảo hán, chuyên chơi trò hai người đánh một?

Chu Thiết Tiêu đáp:

– Hà hà, đến năm mười ba tuổi, Chu mỗ mới bắt đầu học nghệ.

Viên Tử Y nói:

– Những trang anh hùng hảo hán khi sinh ra đã là anh hùng hảo hán. Lắm tay võ nghệ cao cường mà thủy chung chỉ vẫn là đồ vất đi. Chu lão sư! Ta nói vậy không phải ám chỉ lão sư đâu nhé.

Chẳng hiểu tại sao đối với Vương Kiếm Anh, Vương Kiếm Kiệt nàng ba phần bội phục, mà đối với Chu Thiết Tiêu đầy vẻ cao ngạo nàng lại buông những lời khinh miệt. Chu Thiết Tiêu chưa từng bị nhục đến thế, trong lòng tức giận như muốn phát điên, mà ngoài miệng chỉ “hừ” một tiếng.

Uông Thiết Ngạc quát lên:

– Con tiểu nha đầu kia, nói năng với đại sư ca ta phải lịch sự một chút.

Viên Tử Y thấy lão này là người khù khờ, nàng không lý gì đến hắn, mà nhìn Chu Thiết Tiêu giục:

– Lấy ra đi! Đặt lên bàn.

Chu Thiết Tiêu ngạc nhiên hỏi:

– Cái gì?

Viên Tử Y đáp:

– Đồng ưng thiết nhạn bài!

Chu Thiết Tiêu nghe đến năm chữ “Đồng ưng thiết nhạn bài” thì dù công phu hàm dưỡng cao thâm đến đâu cũng chẳng thể giữ vẻ điềm nhiên được nữa, hắn lớn tiếng:

– Chà chà! Những chuyện của bản môn ta, ngươi hiểu biết khá nhiều đấy.

Hắn cởi cái túi gấm ở đai lưng đặt lên bàn, rồi quát lớn:

– “Đồng ưng thiết nhạn bài” ở trong này. Bữa nay ngươi cứ giết Chu mỗ đi rồi hãy lấy tấm bài này.

Viên Tử Y đáp:

– Lão sư hãy lấy ra cho ta coi đã, ai mà biết được tấm đồng bài là chân hay giả?

Chu Thiết Tiêu hai tay run lên mở túi gấm, lấy ra một tấm kim bài dài bốn tấc, rộng hai tấc. Trên mặt bài có khảm một con chim ưng bằng đồng đang vươn móng và một con nhạn bằng sắt đang bay. Đây là tấm tín bài của chưởng môn truyền đời ở Ưng trảo nhạn hành môn. Bọn đệ tử bản môn nhìn thấy tấm kim bài này cũng như nhìn thấy chính chưởng môn vậy.

Nguyên Ưng trảo nhạn hành môn là một môn phái lớn trong võ lâm về cuối đời nhà Minh, khoảng giữa hai triều đại Thiên Khải và Sùng Trinh. Chưởng môn mấy đời ở phái này đều là những tay võ công trác tuyệt, môn quy cũng rất nghiêm ngặt. Nhưng truyền đến đời Chu Thiết Tiêu, Tăng Thiết Âu thì quần đệ tử đều để bọn quyền quý nhà Mãn Thanh thu dụng. Chúng nhiễm phải tính xa hoa ở kinh thành, võ công kém hẳn tiền nhân. Về sau, đến đời Gia Khánh, Ưng trảo nhạn hành món mới nảy ra được mấy nhân vật sắc sảo và bắt đầu công cuộc trùng hưng môn phái.

Viên Tứ Y nói:

– Nhìn thì rất giống của thật nhưng cũng chưa chắc.

Nguyên nàng vừa một phen kịch chiến với Vương Kiếm Anh, tuy may mà chuyển bại thành thắng, nhưng nội lực đã hao tổn rất nhiều. Bây giờ cố ý kéo dài câu chuyện, một là để chọc giận Chu Thiết Tiêu, hai là để dưỡng chân khí.

Chu Thiết Tiêu là người biết nhiều hiểu rộng làm gì chẳng rõ tâm ý của nàng? Hắn không cần nói nhiều, chỉ vung hai tay, đột nhiên nhảy vọt lên mái lương đình, nói:

– Chúng ta càng đánh càng lên cao. Chu mỗ lên nóc quán để lãnh giáo cao chiêu.

Nên biết môn phái hắn mang danh Ưng trảo nhạn hành vì một là chuyên về môn Ưng trảo cầm nã, hai là chuyên về môn Nhạn hành khinh công. Chu Thiết Tiêu nhảy lên nóc quán là cố ý giữ hiểm địa để thuận tiện thi triển khinh công, quyết cùng đối thủ một phen chiến đấu sinh tử, đồng thời khiến Viên Tử Y không còn cách nào thi triển ngụy kế, mà lúc nàng gặp nguy cấp, Hồ Phỉ cũng khó bề ra tay tương trợ. Trong lòng hắn cho rằng Viên Tử Y bản lãnh có cao thâm cũng chỉ là hạng nữ lưu, còn Hồ Phỉ mới thực sự là kình địch. Chu Thiết Tiêu có ngờ đâu cầm nã và khinh công lại chính là hai môn tuyệt kỹ sở trường của Viên Tử Y. Giả tỷ hắn được chứng kiến nàng đã thi triển môn khinh công kinh thế hãi tục để tỷ đấu bằng trường tiên với Dịch Cát trên ngọn cột buồm cao ngất, tất hắn không dám nhảy lên nóc lương đình thách đấu.

Hồ Phỉ thấy hắn tung người nhảy lên, thân pháp tuy mau lẹ nhưng chưa thể bì kịp với Viên Tử Y, nên chàng thấy yên tâm. Chàng quay lại nhìn Viên Tử Y, hai người mỉm cười với nhau. Viên Tử Y giả vờ miễn cưỡng nhảy lên nóc quán, hô lớn:

– Coi chiêu đây!

Mười ngón tay theo tư thế Ưng trảo đánh xéo tới. Nguyên trảo pháp trong quyền thuật, về cơ bản trong lộ số chia làm ba loại là Long trảo, Hổ trảo và Ưng trảo. Long trảo thì bốn ngón khép lại, ngón cái choãi ra, những đầu ngón tay quay vào lòng bàn tay. Hồ trảo thì năm ngón tay xa nhau, ngón thứ nhì và ngón thứ ba uốn cong lại hướng vào lòng bàn tay. Ưng trảo thì bốn ngón co lại, ngón cái mở rộng ra, các ngón hai và ba cũng gấp lại hướng vào lòng bàn tay. Ba loại trảo pháp này đều có chỗ sở trường, nhưng Long trảo công thì thâm ảo nhưng khó luyện hơn hết.

Chu Thiết Tiêu thấy Viên Tử Y quả nhiên dùng gia số của bản môn liền tự nhủ:

– Nếu ả dùng võ công cổ quái nào thì ta còn có phân uý kỵ, đằng này ả lại sử dụng Ưng trảo nhạn hành công là tự tìm đường chết rồi.

Hắn vươn tay thành thế Ưng trảo, lật tay như hình móc câu đánh ra. Quần hào ngửng đầu lên nhìn thấy hai người nhảy nhót nhẹ nhàng, sáp vào nhau thi triển mấy chiêu cầm nã rồi lui ra ngay. Trong bốn trận kịch đấu đêm nay thì trận này ngoạn mục hơn hết nhưng cũng là một trường hung hiểm nhất. Dưới ánh trăng, hai người chẳng khác đôi chim khổng lồ bay qua bay lại đánh nhau trên lương đình.

Đột nhiên hai người giáp lại gần nhau, rồi nghe mấy tiếng lắc rắc. Viên Tử Y quát lớn một tiếng, Chu Thiết Tiêu rú lên một tiếng thật dài, ngã xuống khỏi lương đình. Vì thủ cước hai người lẹ quá, quần hào đứng xem chỉ có Hồ Phỉ và Tăng Thiết Âu là nhìn rõ Chu Thiết Tiêu đã ngã xuống ra sao.

Trong lúc kịch đấu, Chu Thiết Tiêu dùng tuyệt chiêu “Tứ nhạn nam phi”, tung chân đá đối phương bốn ngọn cước theo thế liên hoàn. Đến ngọn cước thứ hai thì hắn bị Viên Tử Y dùng phép “Phân cân thác cốt thủ” bẻ trật khớp xương chân trái. Theo thế liên hoàn cước của hắn khi chân này vung ra đá thì chân kia hạ xuống, nhưng đến nửa đường không có cách gì thu lại được, nên chân trái đã bị thương nhưng chân phải vẫn phải đá ra, Viên Tử Y tính toán thật chính xác bèn tung chân đá vào đầu gối hắn, làm chân phải hắn bị thương trầm trọng hơn cả chân trái nữa.

Mọi người đứng xem chỉ thấy Chu Thiết Tiêu lúc té xuống, vai và lưng chạm đất rồi không dậy được nữa. Quán lương đình này không cao mấy. Căn cứ vào bản lĩnh khinh công của Chu Thiết Tiêu, đã vào hàng trác tuyệt thì dù địch không nổi Viên Tử Y, khi nhảy xuống cũng quyết không thể không dậy được. Chẳng lẽ hắn lại bị trọng thương trí mạng?

Uông Thiết Ngạc xưa nay vốn một lòng kính ái đại sư huynh, hốt hoảng la lớn:

– Sư ca!

Hắn chạy xông tới, thanh âm trong tiếng la nghe như người sắp khóc. Hắn cúi xuống đỡ Chu Thiết Tiêu đứng lên, nhưng hai đầu gối họ Chu đã trật khớp còn đứng làm sao được? Uông Thiết Ngạc vừa buông tay, Chu Thiết Tiêu rên lên một tiếng rồi lại ngã lăn ra.

Tăng Thiết Âu khẽ mắng:

– Đồ ngu!

Rồi chạy lại đỡ lên. Tăng Thiết Âu cũng là một tay hảo thủ hạng nhất trong Ưng trảo nhạn hành môn nhưng không hiểu thuật tiếp cốt, liền ôm Chu Thiết Tiêu cứ thế chạy đi. Chu Thiết Tiêu quát:

– Thu lấy Ưng nhạn bài!

Tăng Thiết Âu chợt nhớ ra, chạy vào lương đình. Lúc hắn vươn tay định lấy tấm kim bài trên cái bàn tròn thì đột nhiên có tiếng gió vút vào đầu. Tăng Thiết Âu tay mặt ôm sư huynh, tay trái chưa kịp lấy kim bài đành xoay chưởng lên nghinh đón, nào ngờ đánh vào quãng không. Bỗng trước mặt thấy bóng đen thấp thoáng, một người từ trên nóc quán nhảy xuống chộp lấy tấm kim bài trên bàn, quát lớn:

– Đánh thua rồi muốn trở mặt chăng?

Đó chính là Viên Tử Y.

Tăng Thiết Âu vừa sợ vừa tức, cứ ôm Chu Thiết Tiêu đứng ngẩn người trong quán. Hắn không biết nên liều mạng với Viên Tử Y hay là mời người cứu trị đại sư huynh.

Hồ Phỉ tiến lên một bước nói:

– Hai chân Chu huynh bị trật khớp, nếu không nắn lại ngay e rằng sẽ tổn thương đến gân cốt.

Chàng không chờ hai lão Chu, Tăng trả lời đã đưa tay ra nắm lấy chân trái Chu Thiết Tiêu kéo ra một cái rồi đẩy vào lại đánh “cộp” một tiếng là tiếp cốt xong. Chàng lại tiếp cốt chân phải và giải khai huyệt đạo cho Chu Thiết Tiêu. Hắn thấy cơn đau lập tức giảm đi rất nhiều.

Hồ Phỉ nhìn Viên Tử Y, chìa tay ra, cười nói:

– Tấm “Đồng ưng thiết nhạn bài” đó cũng chẳng có chi đẹp đẽ, cô nương nên trả lại cho Chu đại ca đi!

Viên Tử Y nghe chàng nói đến câu “cũng chẳng có chi đẹp đẽ”, nhoẻn miệng cười, cầm tấm kim bài đặt vào trong lòng bàn tay Hồ Phỉ. Hồ Phỉ hai tay nâng kim bài kính cẩn đưa tới trước mặt Chu Thiết Tiêu. Chu Thiết Tiêu vươn tay ra chụp lấy, nói:

– Lòng tốt của hai vị, Chu mỗ còn một hơi thở cũng có ngày báo đáp.

Hắn nói rồi đưa mắt nhìn Viên Tử Y và Hồ Phỉ, đoạn bám vai Tăng Thiết Âu trở gót đi ngay. Hắn nhìn Viên Tử Y bằng cặp mắt đầy vẻ oán độc, mà khi nhìn Hồ Phỉ thì ánh mắt lại biểu hiện lòng cảm kích. Viên Tử Y chẳng để ý gì.

Nàng giương cặp lông mày xinh đẹp lên nhìn người sử lôi chấn đáng là Chử Oanh hỏi:

– Chử đại gia! Nửa chức chưởng môn của đại gia có cần tỷ đấu nữa hay thôi?

Đến nước này thì Chử Oanh dù có đần độn đến đâu cũng hiểu rằng mấy môn công phu tầm thường của mình chẳng thể nào địch nổi Viên Tử Y. Hắn liền chấp tay đáp:

– Tệ phái là Lôi điện môn do gia sư chấp chưởng, tại hạ làm gì dám đại diện chưởng môn? Nếu cô nương muốn tứ giáo thì xin mời đến Tái Bắc, nhất định gia sư rất hoan nghênh.

Hắn nói câu này không kiêu ngạo cũng chẳng hèn nhát, đổ hết trách nhiệm lên đầu sư phụ.

Viên Tử Y cười hà hà vẫy tay mấy cái hỏi:

– Còn vị nào muốn tứ giáo nữa chăng?

Bọn Ân Trọng Tường chắp tay nói:

– Hồ đại gia! Hẹn ngày tái ngộ.

Đoạn trở gót ra ngoài. Ai nấy đều lòng đầy ngờ vực, không hiểu cô gái võ công cao cường đó lai lịch ra sao. Hồ Phỉ đưa chân họ đến tận cửa ngoài rồi mới quay về vườn hoa.

Bỗng nghe trên không sấm nổ, chàng ngửng đầu trông thấy mây đen kéo mù mịt đây trời che khuất cả vầng trăng.

Viên Tử Y nói:

– Đúng là trời làm phong vân bất ngờ, người có họa phúc khôn lường. Ai mà biết được Hồ đại ca hành hiệp phong trần, chỉ một chuyến đến kinh sư bỗng trở nên đại phú ông.

Nàng nhắc tới vụ này bất giác khiến cho Hồ Phỉ tức lộn ruột. Chàng đáp:

– Viên cô nương! Tòa trạch đệ này là sản nghiệp của tên gian nhân họ Phụng, tại hạ ở trong nhà thêm một khắc nào là điếm nhục thêm khắc ấy. Xin cáo từ.

Chàng quay lại bảo Trình Linh Tố:

– Nhị muội! Chúng ta đi thôi!

Viên Tử Y hỏi:

– Đang lúc nửa đêm các vị còn đi đâu? Đại ca không thấy trời sắp chuyển mưa lớn rồi ư?

Nàng vừa dứt lời thì những hạt mưa lớn bằng hạt đậu trút xuống ào ào. Hồ Phỉ tức giận đáp:

– Dù có phải ngủ nơi đầu đường xó chợ cũng còn hơn trú mưa dưới thềm nhà của tên gian tặc.

Chàng nói rồi không ngoảnh đầu lại, rảo bước ra cửa. Trình Linh Tố bước theo sau.

Bỗng nghe Viên Tử Y ở phía sau hằn học nói:

– Phụng Thiên Nam là tên gian tặc có chết đi cũng chưa đáng tội. Tiểu muội hận chẳng được chính tay mình đâm hắn mấy đao!

Hồ Phỉ nghe nói bỗng dừng bước, quay lại tức giận hỏi:

– Lúc này sao cô nương lại nói được mấy điều mát mẻ thế?

Viên Tử Y đáp:

– Trong lòng tiểu muội còn oán hận Phụng Thiên Nam gấp trăm lần đại ca.

Nàng dừng lại một chút, nghiến răng nói tiếp:

– Đại ca bất quá mới căm hờn hắn trong mấy tháng, còn tiểu muội oán hận hắn suốt đời!

Mấy tiếng sau cùng giọng nói bỗng nghẹn ngào. Hồ Phỉ nghe nàng ra giọng bi thiết chứ không có ý trá ngụy, rất lấy làm lạ, hỏi:

– Đã vậy tại hạ ba lần bốn lượt giết hắn, mà sao lần nào cô nương cũng giải cứu?

Viên Tử Y đáp:

– Chỉ có ba lần thôi. Quyết không có lần thứ tư nữa đâu!

Hồ Phỉ nói:

– Phải, chỉ có ba lần. Mà sao lại như thế?

Lúc hai người nói chuyện, trời mưa như trút nước, khiến cả ba người áo quần ướt đẫm.

Viên Tử Y hỏi:

– Chẳng lẽ đại ca bắt tiểu muội đứng giữa trời mưa để giải thích tỉ mỉ chăng? Đại ca không sợ mưa đã đành, nhưng lệnh muội tử yếu ớt thế kia chẳng lẽ cũng không sợ?

Hồ Phỉ đáp:

– Được rồi, chúng ta vào nhà nói chuyện.

Ba người liền vào thư phòng. Tên thư đồng thắp nến lên, dâng trà thơm lại rồi lui ra.

Trong căn phòng này cách trần thiết rất tinh tế và thanh nhã. Vách bên đông đóng hai giá sách, chứa đầy sách vở. Mé tây là cánh cửa sổ lớn, lấp lánh bóng trúc xanh, lại nghe thoang thoảng mùi hoa quế. Trên tường mé nam có treo một bức họa của Đổng Kỳ Xương, một bức đối viết theo lối hành thư của Chúc Chi Sơn, ghi hai câu thơ của Bạch Lạc Thiên:

Hồng lạp chúc di, đào diệp khởi

Tử la sam động, giá chi lai

(Lá đào trổ tựa đèn hồng lạp

Cành giá lay như áo tử la)

Hồ Phỉ trong lòng mãi ngẫm nghĩ về mấy câu nói kỳ quái của Viên Tử Y nên chẳng để tâm gì đến thư họa. Huống chi chàng lại là người ít đọc sách nên nếu có nhìn cũng chẳng hiểu gì.

Trình Linh Tố lẩm nhẩm đọc hai câu đối, mắt nhìn cây đèn hồng lạp trên bàn, rồi lại nhìn tấm áo tử la trên mình Viên Tử Y, thầm nhủ:

– Hai câu đối này tựa hồ viết ra là để tả cảnh đang bày trước mắt. Ta lẫn lộn vào đây thật chẳng ra làm sao cả.

Cả ba người đều lẳng lặng không nói, mỗi người đều có tâm sự riêng. Ngoài cửa sổ, những hạt mưa vẫn đập xuống lá trúc lộp độp, sáp nến từ từ chảy xuống. Trình Linh Tố cầm chiếc đũa bạc nhỏ bên cây đèn để khêu ngọn nến. Trong nhà yên lặng như tờ.

Hồ Phỉ phiêu bạt giang hồ từ thuở nhỏ, nay chàng ngồi yên lặng để bầu bạn với hai thiếu nữ diễm lệ chốn thư trai là lần thứ nhất trong đời. Sau một lúc lâu, Viên Tử Y nhìn những hạt mưa rơi ngoài cửa sổ, chậm rãi kể:

– Mười chín năm trước, cũng dưới trận mưa lúc đêm khuya, tại Phật Sơn trấn tỉnh Quảng Đông, một người thiếu phụ ôm một đứa con gái nhỏ đội mưa chạy trên đường. Thiếu phụ kia không biết phải đi về phương nào, vì bị người ta truy đuổi tới đường cùng. Bao nhiêu thân nhân của thiếu phụ đều bị giết chết cả rồi. Thiếu phụ đã bị người ta làm nhục không chịu nổi. Nếu trong lòng không ôm một đứa con nhỏ thì cô đã nhảy xuống sông tự tử rồi. Thiếu phụ họ Viên tên là Ngân Cô. Cái tên nghe có vẻ quê mùa, vì cô vốn là một cô gái chốn hương thôn khá đẹp, tuy nước da ngăm ngăm đen nhưng mặt mày thanh tú. Những thanh niên ở trấn Phật Sơn đặt cho cô ngoại hiệu là “Hắc mẫu đơn”. Cô sinh trưởng ở một gia đình chài lưới. Mỗi buổi sáng sớm, cô gánh cá vào bán cho các hàng cá ở trấn Phật Sơn.

Một hôm, nhà đại tài chủ Phụng Thiên Nam bày tiệc làm rượu mời khách. Thế là trời nổi phong vân bất trắc, người gặp họa phúc khôn lường. Vị cô nương đẹp như bông hoa tươi bị Phụng Thiên Nam nhìn thấy. Tên họ Phụng trong nhà đây thê thiếp nhưng lão vẫn chưa thỏa mãn, còn cưỡng bách làm nhục cô. Ngân Cô tâm thần hoảng loạn, quên cả lấy tiền cá, bỏ chạy ra khỏi Phụng phủ. Ngờ đâu cuộc nghiệt duyên này làm cho cô mang thai. Phụ thân cô hỏi rõ đầu đuôi, rồi đến phân trần tại Phụng phủ. Phụng lão gia nổi trận lôi đình sai người đánh phụ thân cô một trận, bảo rằng ông ăn nói nhăng cuội, bịa chuyện hồ đồ. Phụ thân của Ngân Cô ôm mối căm hờn về nhà, bị bệnh liệt giuờng mấy tháng rồi qua đời. Các bậc chú bác của Ngân Cô lại bảo cô đã làm chết phụ thân, không cho cô mặc hiếu phục, cũng không cho phục lạy trước quan tài. Họ còn bảo cần phải bỏ cô vào lồng heo quẳng xuống sông cho chết đi. Ngân Cô chạy suốt đêm trốn khỏi trấn Phật Sơn.

Mấy tháng sau, cô sinh được một đứa con. Hai mẹ con không có kế gì để sinh sống. Phải quay về thị trấn xin ăn. Những người ở thị trấn thương xót cô nên đều chu cấp tử tế. Ai cũng xì xầm bàn tán Phụng lão gia là kẻ ác nghiệt hại người, chỉ vì sợ thế lực quá lớn nên không ai dám nói thẳng vụ này. Trong bọn hàng cá ở thị trấn có một người thường nói chuyện với Ngân Cô, lòng y ngấm ngầm thương yêu cô. Y liền nhờ người mối lái lấy cô làm vợ, đồng thời tình nguyện nhận cả đứa con cô làm con mình. Ngân Cô rất đỗi vui mừng, hai người bèn làm lễ bái đường thành thân. Ngờ đâu một tên thủ hạ của Phụng lão gia biết việc này liền bẩm báo cho lão.

Phụng lão gia nổi giận đùng đùng, quát hỏi:

– Tên hàng cá nào lớn mật đám lấy cả người đàn bà đã qua tay ta?

Lão liền phái mười mấy tên đồ đệ đến nhà hàng cá kia, đuổi sạch những người khách tới uống rượu mừng, rồi đập phá đồ đạc tan tành. Chúng còn đuổi người hàng cá ra khỏi trấn Phật Sơn không cho trở về nữa.

Hồ Phỉ nghe tới đây đập tay xuống bàn đánh “binh” một tiếng, khiến ngọn nến trên bàn bị chấn động suýt tắt. Chàng quát lớn:

– Tên gian tặc này độc ác đến thế là cùng!

Viên Tử Y không đưa mắt nhìn chàng, mặt đầy ngấn lệ nhìn ra ngoài cửa sổ, như đắm chìm theo câu chuyện. Nàng nhẹ buông tiếng thở dài, rồi kể tiếp;

– Ngân Cô liền ôm con gái đuổi theo, ra ngoài trấn Phật Sơn. Đêm hôm ấy trời mưa tầm tã, hai mẹ con toàn thân ướt đẫm. Ngân Cô chạy dưới trời mưa, vừa chạy vừa trượt chân té ngã suốt mười mấy dặm thì thấy trên đường lớn có người nằm dưới đất. Cô tưởng là kẻ say rượu, vì lòng hảo tâm muốn đỡ y dậy. Ngờ đâu cô cúi xuống nhìn thấy người này mặt đầy máu, chết từ lâu rồi và chính là anh hàng cá đã cùng nàng bái đường thành thân.

Nguyên Phụng lão gia sai người chờ ở ngoài thị trấn để hạ thủ giết anh ta. Ngân Cô lòng đau như cắt, không muốn sống nữa. Cô lấy tay móc đất thành cái huyệt chôn vùi trượng phu rồi toan nhảy xuống sông tự tử. Nhưng đứa con nhỏ trong lòng bỗng bật tiếng khóc rất đáng thương, cô làm sao nhẫn tâm làm chết đứa con do mình rút ruột sinh ra? Nếu bỏ nó bên đường thì giữa cơn mưa này, đứa bé làm sao sống nổi? Ngân Cô suy đi nghĩ lại đành nghiến răng bồng đứa nhỏ chạy về phía trước, định bụng hãy nuôi cho khôn lớn rồi sẽ liệu.

Trình Linh Tố nghe tới đây không khỏi ngậm ngùi sa lệ. Cô thấy Viên Tử Y dừng lại không nói nữa liền hỏi:

– Viên tỷ tỷ! Về sau thế nào?

Viên Tử Y lấy khăn lau nước mắt, mỉm cười đáp:

– Cô đã kêu ta bằng tỷ tỷ thì lấy thuốc giải cho ta uống được không?

Trình Linh Tố sắc mặt đang tái nhợt bỗng đỏ lên, khẽ nói:

– Té ra tỷ tỷ đã biết rồi.

Cô rót một chung trà, rồi dùng móng tay búng ra một chút thuốc màu vàng lợt bỏ vào trong chung trà.

Viên Tử Y nói:

– Muội tử lòng dạ rất tốt, đã chuẩn bị sẵn thuốc giải trong móng tay, thật là thần không biết, quỷ không hay.

Nàng nói rồi bưng chung trà lên uống một hơi cạn sạch.

Trình Linh Tố nói:

– Tỷ tỷ không trúng phải loại thuốc độc trí mạng, mà nó chỉ khiến cho tỷ tỷ mắc bệnh mấy tháng, để khi Hồ đại ca giết Phụng Thiên Nam, tỷ tỷ không thể ra tay cứu hắn được.

Viên Tử Y cười mát, hỏi:

– Ta đã biết là trúng phải độc thủ của muội rồi, có điều muội hạ độc bằng cách nào thì thủy chung ta vẫn không nghĩ ra được. Sau khi vào nhà, ta không uống một hớp nước hay ăn một chút gì.

Hồ Phỉ trong lòng kinh hãi, nghĩ thầm:

– Té ra Viên cô nương đã hết sức đề phòng, rốt cuộc cũng không thoát khỏi tay nhị muội.

Lại nghe Trình Linh Tố hỏi:

– Lúc tỷ tỷ cùng Hồ đại ca giao đấu ở ngoài tường, tiểu muội đã ném thanh đơn đao cho đại ca. Trên lưỡi đao này có rắc một lớp độc phấn rất mỏng. Cây nhuyễn tiên của tỷ tỷ bị dính độc phấn rồi dây vào tay tỷ tỷ. Chờ lát nữa phải đem đơn đao và nhuyễn tiên rửa vào chậu nước trong.

Viên Tử Y và Hồ Phỉ đưa mắt nhìn nhau, cùng nghĩ:

– Cách hạ độc như vậy, thật khiến người ta chẳng biết đằng nào mà đề phòng.

Trình Linh Tố đứng lên khép nép thi lễ, nói:

– Viên tỷ tỷ! Tiểu muội xin lỗi tỷ tỷ. Thực tình tiểu muội không biết bên trong còn những điều ngoắt ngoéo như vậy.

Viên Tử Y cũng đứng lên đáp lễ, nói:

– Muội muội bất tất phải khách khí. Ta cảm ơn muội muội hạ thủ còn lưu tình, chưa dùng đến độc dược chết người.

Hai người nhìn nhau cười, rồi lại nhìn xuống. Hồ Phỉ ngập ngừng hỏi:

– Nếu vậy thì ra Phụng Thiên Nam là… là…

Viên Tử Y đáp:

– Phải, Ngân Cô là má má của tiểu muội còn Phụng Thiên Nam là gia phụ. Tuy lão đưa mẹ con tiểu muội vào tình trạng thê thảm như vậy, nhưng sư phụ dạy rằng “Con người không cha mẹ, làm sao có được thân này?” Lúc tiểu muội bái biệt sư phụ để xuôi về đông xuống Trung nguyên, gia sư có dặn:

– Phụ thân ngươi làm ác đã nhiều, kiếp này y tất bị thảm tử. Ngươi cứu mạng y ba lần cho hết mối tình phụ tử. Sau đó y đi đằng y, ngươi đi đằng ngươi, không liên can gì đến nhau nữa.

Hồ đại ca! Ở miếu Bắc Đế trấn Phật Sơn, tiểu muội đã cứu lão một lần. Đêm tại miếu Tương Phi, lại cứu lão lần thứ hai. Đêm nay giải cứu lão lần nữa. Về sau nếu còn gặp lại lão, tiểu muội cũng hạ sát lão để báo cừu thù tuyết hận cho người mẹ đau khổ đã quá cố.

Nàng nói dứt lời nét mặt nghiêm trọng, khóe mắt đầy vẻ phẫn hận.

Trình Linh Tố hỏi:

– Lệnh đường đã qua đời rồi ư?

Viên Tử Y đáp:

– Má má của tỷ tỷ trốn ra khỏi trấn Phật Sơn, đi ngược về phía bắc ăn xin. Má má cho là rời khỏi trấn Phật Sơn càng xa càng tốt, vĩnh viễn khỏi nhìn thấy lại mặt Phụng lão gia, vĩnh viễn không phải nghe đến tên lão nữa. Má má lưu lạc trên đường suốt mấy tháng ròng, sau tới được phủ Nam Xương tỉnh Giang Tây, vào nhà họ Thang làm tôi tớ…

Hồ Phỉ “ủa” lên một tiếng, ngắt lời:

– Thang gia ở phủ Nam Xương tỉnh Giang Tây có mối liên can gì với Thang đại hiệp ở Cam Lâm Huệ thất tỉnh không?

Viên Tử Y nghe nói đến Thang đại hiệp ở Cam Lâm Huệ thất tỉnh, nàng máy môi đáp:

– Má má chết ở phủ Thang… Thang đại hiệp. Sau khi má má qua đời được ba ngày, gia sư liền đón tiểu muội đưa về Hồi Cương, tới nay đã mười tám năm rồi mới về lại Trung nguyên.

Hồ Phỉ hỏi:

– Không hiểu tôn sư danh hiệu là gì? Viên cô nương hiểu biết được hết võ công của các nhà các phái một cách tinh thâm, thì tôn sư tất là một bậc kỳ nhân hiếm có trên đời. Cả đến Miêu đại hiệp mang ngoại hiệu là “Đả biến thiên hạ vô địch thủ” cũng không được bản lĩnh như thế.

Viên Tử Y đáp:

– Danh húy của gia sư tạm thời chưa thể nói cho Hồ đại ca hay, vì chưa được lão nhân gia ưng thuận. Xin đại ca lượng thứ cho. Hơn nữa tên của tiểu muội cũng không phải là tên thật. Chẳng bao lâu nữa Hồ đại ca và tiểu muội tử sẽ rõ. Còn như vị Miêu đại hiệp nào đó thì khi tiểu muội ở Hồi Cương cũng đã nghe danh. Lúc bấy giờ, Vô Trần đạo trưởng trong Hồng Hoa hội không chịu phục, định tới Trung nguyên để tỷ thí với lão, nhưng Triệu Bán Sơn Triệu tam thúc…

Nàng nói tới ba chữ “Triệu tam thúc”, liền nhìn Hồ Phỉ nhoẻn miệng cười, như muốn bảo chàng:

– Đã cho đại ca chiếm phần tiện nghi rồi đó!

Nàng nói tiếp:

– Triệu Bán Sơn biết rõ nội tình bên trong, bảo rằng Miêu đại hiệp dùng ngoại hiệu này chẳng phải là cuồng ngạo tự đại mà vì một nỗi khổ tâm khác. Nghe nói lão vì lão muốn trả thù cha mà cố ý khiêu khích một tay cao thủ ở Liêu Đông phải nhập quan đến kiếm lão. Về sau trên chốn giang hồ người ta đồn đại râm ran rằng lão trả được thù cha rồi, đã mấy lần tuyên bố không dám dùng ngoại hiệu kia nữa. Lão nói:

– Cái gì mà “Đả biến thiên hạ vô địch thủ”, danh hiệu đó nghe thối lắm, chẳng lọt tai chút nào. Võ công của đại hiệp Hồ Nhất Đao so với ta còn cao hơn nhiều!

Hồ Phỉ nghe lòng run lên, hỏi:

– Miêu Nhân Phụng quả đã nói câu đó ư?

Viên Tử Y đáp:

– Dĩ nhiên không phải chính tiểu muội được nghe lão nói mà là Triệu…Triệu Bán Sơn kể lại. Vô Trần đạo trưởng nghe nói vậy liền phấn khởi hùng tâm, lại muốn tìm đến tỷ thí với vị Hồ Nhất Đao nào đó, nhưng sau không biết được Hồ đại hiệp ở nơi nào nên mới chịu bỏ qua. Năm trước Triệu Bán Sơn xuống Trung nguyên gặp Hồ đại ca. Y trở về Hồi Cương ca ngợi đại ca anh hùng không tiếc lời. Nhưng khi ấy tiểu muội còn nhỏ tuổi, bọn họ nói gì cũng không hiểu. Lần này tiểu muội xuôi về đông, Văn tứ thẩm bảo tiểu muội cưỡi con ngựa trắng của bà mà đi. Bà cũng dặn: “Nếu gặp chàng thiếu niên hào kiệt họ Hồ thì tặng con ngựa này cho y”.

Hồ Phỉ hỏi:

– Vị Văn tứ thẩm đó là ai? Bà ta chưa từng quen biết tại hạ sao lại trịnh trọng tặng ngựa? .

Viên Tử Y đáp:

– Văn tứ thẩm ngày trước là một nhân vật danh vọng rất lớn trên chốn giang hồ. Bà là vợ của Bôn lôi thủ Văn Thái Lai Văn tứ thúc, tên là Lạc Băng, người ta cũng gọi là “Uyên ương đao”. Văn tứ thẩm nghe Triệu Bán Sơn thuật chuyện đại ca phá tòa thiết sảnh ở Thương gia bảo, lại nghe nói đại ca thích con ngựa trắng này, tứ thẩm liền oán trách y mà nói:

– Tam ca! Đã có nhân vật như vậy sao tam ca không tặng ngựa cho y? Chẳng lẽ tam ca kết bạn với người thiếu niên anh hùng như vậy, mà Lạc Băng này lại không kết giao được ư?

Hồ Phỉ nghe xong mới biết rõ ngày ấy Viên Tử Y để thiếp lại trong khách điếm nói “Ngựa về chủ cũ” là vì thế. Chàng sinh lòng cảm kích Lạc Băng tự nhủ:

– Con bảo mã này ngàn vàng khó kiếm. Văn tứ nương cùng ta cách xa hàng muôn dặm, chỉ nghe người ca ngợi, đã đem vật yêu quý tặng cho ta thật là tình cao nghĩa trọng. Hồ Phỉ ta thật khó mà báo đáp được.

Chàng nói:

– Chắc Triệu tam ca vẫn bình yên. Sau khi xong mọi việc ở đây, tại hạ muốn đến Hồi Cương một chuyến, một là để bái phỏng Triệu tam ca, hai là bái kiến các vị anh hùng tiên bối.

Viên Tử Y đáp:

– Cái đó không cần. Họ sắp đến đây cả rồi.

Hồ Phỉ nghe nói vui mừng khôn xiết, bất giác vỗ bàn một cái rồi đứng phắt dậy, trong lòng bồn chồn thấp thỏm. Trình Linh Tố hiểu ý chàng liền nói:

– Tiểu muội đi lấy rượu cho đại ca.

Cô ra khỏi phòng dặn thư đồng đưa vào bảy, tám bình rượu. Hồ Phỉ uống hết hai bình, nghĩ chẳng bao lâu nữa sẽ được cùng các vị anh hùng xa tương kiến, cảm thấy hào khí nổi lên, bèn hỏi ngay:

– Bao giờ bọn Triệu tam ca sẽ tới đây?

Viên Tử Y vẻ mặt trịnh trọng, đáp:

– Hồ đại ca! Còn bốn ngày nữa là tiết trung thu và cũng là ngày đại hội chưởng môn nhân trong thiên hạ. Phúc Khang An đứng ra triệu tập cuộc đại hội này. Y làm đến chức Binh bộ thượng thư, cai quản tất cả đại thần ở nội vụ phủ, chấp chưởng đại quyền coi giữ binh mã cả nước. Những vị hoàng thân quốc thích cũng thuộc quyền cai quản của y. Không hiểu sao y lại muốn kết giao với hào khách giang hồ?

Hồ Phỉ đáp:

– Tại hạ cũng đang suy nghĩ về vụ này. Chắc là hắn định quăng mẻ lưới quét hết anh hùng hảo hán trong thiên hạ cho Thanh đình sai sử, cùng như Hoàng đế dùng các khoa thi trạng nguyên tiến sĩ để lung lạc bọn đọc sách vậy thôi.

Viên Tử Y nói:

– Không sai! Ngày trước Đường Thái Tông thấy sĩ tử kéo nhau đến trường đã vui mừng nói: “Bao nhiêu anh hùng thiên hạ đều chui vào trong “rọ” của ta rồi”.

Nàng lại hỏi:

– Phúc Khang An mở cuộc đại hội này dĩ nhiên cũng dùng công danh lợi lộc đế nhử anh hùng thiên hạ. Nhưng hắn còn cái đau khác mà người ngoài không thể biết được. Phúc Khang An từng bị nhóm Triệu Bán Sơn, Văn tứ thúc, Vô Trần đạo trưởng đày đọa một phen. Đại ca có biết vụ này không?

Hồ Phỉ vừa kinh ngạc vừa mừng thầm, ngửa cổ lên uống cạn một bát rượu lớn rồi đáp:

– Thú quá! Thú quá! Tại hạ chưa từng được nghe qua. Vô Trần đạo trưởng, Văn tứ gia anh hùng như vậy thật khiến cho người ta phải nghiêng người bái phục.

Viên Tử Y nhoẻn miệng cười nói:

– Cổ nhân dùng Hán thư để nhắm rượu, còn đại ca lại lấy việc khoan khoái của anh hùng hào kiệt mà nhắm rượu. Nếu nói đến những việc làm của nhóm Văn tứ thúc thì đại ca có uống cả ngàn chung cũng không say, nhưng chắc khiến đại ca phải nằm li bì ba ngày.

Hồ Phỉ rót rượu ra bát, nói:

– Xin cô nương nói đi.

Viên Tử Y đáp:

– Vụ này nói ra thì dài dòng, không thể một lúc mà kể hết được. Đại khái nhóm Văn tứ thúc biết rằng Phúc Khang An được đương kim hoàng đế là Càn Long sủng ái nên mới bắt hắn để bức bách hoàng đế trùng tu chùa Thiếu Lâm ở Phúc Kiến, và hứa lời không được gia hại anh em trong Hồng Hoa hội ở rải rác các tỉnh mới buông tha hắn.

Hồ Phỉ vỗ đùi, nói:

– Phúc Khang An tất nhiên xem đó là điều đại sỉ đại nhục nên mới chiêu tập các chưởng môn các nhà các phái võ lâm trong thiên hạ, chắc là để quyết một trận thư hùng với nhóm Văn tứ gia phải không?

Viên Tử Y đáp:

– Đúng thế! Vụ này đại ca đoán đúng quá nửa. Cuối mùa thu năm nay, Phúc Khang An tiên liệu nhóm Văn tứ thúc về đến Bắc Kinh, nên hắn triệu tập những cao thủ võ lâm các tỉnh về trước. Mười năm qua, sau khi bị một vố đau khổ nhục nhã, hắn mới biết rằng binh mã thủ hạ của mình tuy nhiều nhưng không đủ để đối địch với hào kiệt võ lâm.

Hồ Phỉ vỗ tay cười, nói:

– Cô nương đoạt chức chưởng môn của chín nhà rưỡi té ra là để dằn mặt, làm hắn mất cả oai phong.

Viên Tử Y lại nói:

– Sư phụ của tiểu muội có mối giao tình rất sâu xa với nhóm Văn tứ thúc. Còn tiểu muội chuyến này trở về Trung nguyên là vì việc riêng của mình. Tiểu muội đến trấn Phật Sơn ở Quảng Đông trước tiên để xem Phụng lão gia là nhân vật thế nào? Không ngờ cơ duyên xảo hợp, không những cứu được cái mạng lão mà còn dò hỏi được tin tức về cuộc đại hội chưởng môn nhân trong thiên hạ. Tiểu muội còn có việc chưa xong nên chẳng thể trở về Hồi Cương báo tin. Thế rồi chẳng sợ Hồ đại ca chê cười, suốt đường từ nam lên bắc tiểu muội đã gây náo loạn cho tới Bắc Kinh, để Phúc Khang An hiểu rằng cuộc đại hội chưởng môn của hắn vị tất đã nên trò trống gì.

Hồ Phỉ chợt động tâm nghĩ thầm:

– Chắc là Triệu tam ca đã khoa trương ta thái quá trước mặt mọi người khiến cô này không phục, rồi dọc đường luôn tìm cách sinh sự với ta.

Chàng trợn mắt lên nhìn Viên Tử Y nói:

– Còn nữa, cô muốn cho Triệu Bán Sơn biết rằng gã thiếu niên họ Hồ vị tất đã có bản lãnh gì.

Viên Tử Y cười khanh khách hỏi:

– Chúng ta đã tỷ đấu từ Quảng Đông cho tới Bắc Kinh, tiểu muội không thể nào chiếm được thượng phong. Hồ đại ca! Mai đây tiểu muội gặp Triệu Bán Sơn, đại ca thử đoán coi tiểu muội sẽ nói gì với y?

Hồ Phỉ lắc đầu, đáp:

– Tại hạ không biết.

Viên Tử Y vẻ mặt nghiêm chỉnh, nói:

– Tiểu muội sẽ bảo: “Triệu tam thúc, nghĩa đệ thiếu niên của tam thúc quả nhiên danh bất hư truyền, quả là một trang anh hùng hảo hán”.

Điều này hoàn toàn nằm ngoài sự tiên liệu của Hồ Phỉ, chàng không ngờ vị cô nương luôn gây khó dễ cho mình đột nhiên lại tán dương ngay trước mặt mình, bất giác chàng thẹn đỏ mặt lên ra vẻ lúng túng, nhưng trong lòng khoan khoái vô cùng. Từ Quảng Đông đến Bắc Kinh, rong ruổi phong trần, dù đường xa ngàn dặm chẳng lúc nào đầu óc chàng rời xa được hình ảnh của Viên Tử Y. Có điều mỗi khi nhớ tới con người vừa mỹ lệ lại vừa rất điêu ngoa cổ quái này, lòng chàng bảy phần hoan hỷ, nhưng vẫn còn hai phần ngờ vực và một phần tức giận. Cuộc đàm thoại đêm nay khiến chàng trút bỏ hết được mọi nỗi hiềm khích. Chàng đã biết rõ những uẩn khúc bên trong thì trong lòng sao lại chẳng say vì rượu lại ngây vì tình?

Lúc này ngoài cửa sổ, tiếng mưa đã nhỏ dần, ngọn nến sắp tàn. Hồ Phỉ lại uống một bát rượu lớn, rồi hỏi:

– Viên cô nương, cô bảo trong mình còn có việc chưa xong, chẳng hiểu cô có chỗ nào dùng được tại hạ không?

Viên Tử Y lắc đầu đáp:

– Đại ca! Tiểu muội không muốn đại ca phải bận lòng.

Nàng thấy Hồ Phỉ lộ vẻ thất vọng, liền nói:

– Nếu tiểu muội không lo xong, dĩ nhiên phải cầu cứu đại ca cùng Trình gia muội tử. Hồ đại ca! Còn bốn ngày nữa là tới ngày đại hội chưởng môn nhân. Ba người chúng ta đến quấy phá cho tơi bời hoa lá, diễn thành vở tuồng “Tam anh đại náo Bắc Kinh thành”, đại ca bảo có thích không?

Hồ Phỉ hào khí bồng bột, reo lên:

– Tuyệt diệu! Tuyệt diệu! Nếu không phá rối được cuộc đại hội chưởng môn nhân này thì Triệu tam ca, Văn tứ gia, Văn tứ nương kết giao với gã tiểu tử Hồ Phỉ phỏng được ích gì?

Trình Linh Tố đứng một bên, lặng nghe không nói gì, bây giờ mới xen vào:

– “Song anh náo Bắc Kinh” cũng đủ, còn kéo cả hạng người vô dụng như tiểu muội vào làm chi?

Viên Tử Y đặt tay lên bờ vai gầy guộc của cô, đáp:

– Trình gia muội tử, đừng nói thế. Bản lãnh của tiểu muội hơn ta gấp mười. Ta phải cầu cạnh tiểu muội chứ khi nào dám đắc tội.

Trình Linh Tố lấy trong túi ra đôi ngọc phụng, nói:

– Viên tỷ tỷ, giữa tỷ tỷ và đại ca có chỗ hiểu lầm, nay nói rõ ra rồi. Con ngọc phụng này trao lại cho tỷ tỷ. Không thế thì cả đôi phụng hoàng đều đưa hết cho đại ca của tiểu muội.

Viên Tử Y sửng sốt một chút, cúi đầu nhắc lại:

– Nếu không thế thì cả đôi phụng hoàng đều đưa hết cho đại ca của tiểu muội!

Trình Linh Tố nói câu này nguyên chẳng có ý gì khác. Cô thấy Viên Tử Y võ công cũng như dung mạo đều hơn người. Vả lại dọc đường, qua lời nói, cô nhận thấy tình cảm của Hồ Phỉ đã nghiêng hẳn về nàng, chỉ vì nàng mấy lần giải cứu Phụng Thiên Nam, chàng mới sinh dạ e dè. Nay chẳng những nỗi hiềm khích đã được cởi bỏ, mà hai người lại có một quan hệ sâu xa, thì còn gì trở ngại nữa? Nhưng cô nghe Viên Tử Y nhắc lại câu nói của mình tựa hồ muốn ngụ ý hai gái thờ chung một chồng, bất giác cô đỏ mặt lên, vội đáp:

– Không không! Tiểu muội không có ý ấy.

Viên Tử Y hỏi:

– Tiểu muội không có ý gì?

Trình Linh Tố làm sao giải thích được. Cô bối rối cơ hồ sa lệ.

Viên Tử Y hỏi:

– Trình gia muội tử! Tại sao trên thanh đơn đao kia tiểu muội lại không bôi chất kịch độc trí mạng?

Trình Linh Tố nước mắt chảy quanh, hằn học nói:

– Tiểu muội tuy là đệ tử của Độc Thủ Dược Vương nhưng bình sinh chưa giết một người nào, chẳng lẽ tự nhiên lại gia hại tỷ tỷ? Huống chi… huống chi tỷ tỷ là ý trung nhân của đại ca. Suốt ngày đêm ngoài lúc ăn ngủ, bao giờ y cũng nhớ đến tỷ tỷ thì tiểu muội gia hại tỷ tỷ thế nào được?

Cô nói tới đây không nhịn được nữa, hai hàng nước mắt trào ra. Viên Tử Y ngạc nhiên đứng dậy, liếc mắt thật nhanh nhìn Hồ Phỉ, thấy mặt chàng ra chiều bẽn lẽn. Hồ Phi thấy Trình Linh Tố nói một hồi, đột nhiên thổ lộ tâm sự của mình là một điều chàng không ngờ tới nên không khỏi bối rối, nhưng trong ánh mắt lại chan chứa nhu tình.

Viên Tử Y mím môi, nhìn Trình Linh Tố, dịu dàng nói:

– Tiểu muội cứ yên tâm! Không thể đưa cả hai con phụng hoàng cho y được

Đột nhiên nàng đưa tay quạt tắt nến, rồi xuyên qua cửa sổ ra ngoài, tung mình vọt lên nóc nhà đi mất. Hồ Phỉ và Trình Linh Tố cả kinh, chạy đến bên cửa sổ nhìn ra, chỉ thấy trời đã tạnh mưa, ánh ngân quang lấp loáng trên mặt đất, nhưng chẳng thấy Viên Tử Y đâu. Trong đầu óc hai người đều bị ám ảnh bởi câu nói của Viên Tử Y lúc bỏ đi:

– Tiểu muội cứ yên tâm! Không thể đưa cả hai con phụng hoàng cho y được!


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.

 Bình luận