Phi hồ ngoại truyện

Chương 13: Đám Võ Quan Chốn Bắc Kinh

trước
tiếp

Hai người đi sâu vào trong rừng, Hồ Phỉ thấy bốn mặt vắng người đã tưởng lão sắp nói rồi. Không ngờ lão nhảy lên cây, nhìn chàng vẫy tay. Hồ Phỉ liền nhảy lên ngồi trên cành cây. Lão già nói:

– Chúng ta ở trên này nói chuyện tĩnh mịch hơn.

Hồ Phỉ nói:

– Phải rồi.

Lão già mỉm cười nói tiếp:

– Trước đây tại hạ nghe các hạ báo tôn tính đại danh họ Hồ tên Phỉ. Không hiểu cái tên này là chữ “Phỉ” trong “Phỉ nhiên thành chương” hay chữ “Phỉ” trong “Nhất phi xung thiên” hay là chữ “Phi” trong “Thị phi phân minh” ?

Hồ Phỉ nghe lão nói văn chương liền đáp:

– Phỉ đây là chữ “Phỉ” trong “Thảo tự chi phỉ”, gồm có chữ “Văn” ở trên chữ “Phi”.

Lão già cười ha hả nói:

– Tại hạ là Tần Nại Chi, một đời bôn tẩu giang hồ, đã gặp không ít các bậc đại anh hùng, đại hào kiệt nhưng nhỏ tuổi như các hạ mà võ công đã đạt cảnh giới như thế này, quả thực tại hạ chưa hề gặp.

Lão dừng lại một chút rồi nói tiếp:

– Các hạ lòng dạ trung hậu, kiến thức bất phàm, trong võ lâm thật cực kỳ hiếm có. Tiểu huynh đệ, lão hán khâm phục lắm!

Hồ Phỉ nói:

– Tần gia! Vãn bối có điều muốn thỉnh giáo.

Tần Nại Chi đáp:

– Tiểu huynh đệ bất tất phải khiêm nhượng thái quá. Tần mỗ lớn hơn một chút, gọi các hạ là tiểu huynh đệ, thì tiểu huynh đệ gọi tại hạ bằng Tần đại ca là được rồi. Tiểu huynh đệ đã dung tình giữ trọn vẹn thể diện cho ta, thì tiểu huynh đệ hỏi gì ta cũng nói.

Hồ Phỉ vội nói:

– Không dám! Không dám! Tiểu đệ thấy Tần đại ca có một chiêu hơi ưỡn người về phía sau, cố cho thấy thượng bàn không ổn, tay trái đặt lên tay phải rồi hai bàn tay cứ giao thoa luân đổi, chuyển thành dương quyền, sau đó hai tay lại biến thành âm quyền đánh ra. Chiêu này biến hóa cực kỳ tinh diệu. Suýt nữa tiểu đệ đỡ không nổi, thật lòng ngưỡng mộ.

Tần Nại Chi trong lòng rất hoan hỷ, về quyền cước lão đã thua rồi nên y lời hứa tưởng phải kể rõ ngọn nguồn sự việc cho Hồ Phỉ nghe, ngờ đâu chàng lại thỉnh giáo môn võ công đắc ý của phái lão. Chỗ Hồ Phỉ hỏi chính là một đại tuyệt chiêu nổi danh trong “Bát Cực quyền” giúp lão thành danh. Lão liền mỉm cười đáp:

– Đó là chiêu rất đắc dụng của tệ phái, gọi là “Song đả kỳ môn”.

Rồi lão giải thích những chỗ vi ảo, tinh diệu trong chiêu thức này. Hồ Phỉ bản tính hiếu võ nghe lão giảng rất thú vị, bèn hỏi thêm những chỗ chưa hiểu rõ. Trong võ lâm, bất luận môn phái nào cũng đều phải có những thành tựu độc đáo thì mới thành một nhà riêng. “Bát Cực quyền” có từ khoảng giữa các triều đại Ung Chính và Càn Long đời nhà Thanh, uy danh vang dội trong võ lâm chẳng kém gì “Thái Cực môn” hay “Bát Quái môn”.

Lúc Hồ Phỉ chiết chiêu cùng Tần Nại Chi, chàng lưu tâm đến quyền chiêu chưởng pháp của lão. Bây giờ chàng hỏi toàn những chỗ cao diệu trong “Bát Cực quyền”. Tần Nại Chi ban đầu còn e ngại việc tiết lộ chỗ bí diệu của bản môn, mười phần chỉ giảng có bảy, nhưng những câu hỏi của đối phương toàn gãi đúng chỗ ngứa mà thái độ lại vô cùng cung kính khiến lão không nhịn được, cứ nói hết ra không giấu giếm điều gì.

Lão nghĩ thầm:

– Võ công của vị tiểu huynh đệ này thực sự cao hơn ta, dẫu y có học được quyền pháp này thì bất quá cũng hơn được thêm ta một chút nữa, vậy thì có gì mà phải ngại?

Về phần Hồ Phỉ, đối với những chỗ uyên áo của “Bát Cực quyền” thì sở đắc lại càng thâm diệu như trên gấm thêm hoa.

Hai người đàm luận võ công đến quá nửa canh giờ. Quần đạo đứng xa trông thấy Tần Nại Chi hai tay chỉ trỏ sử dụng những quyền chiêu đắc ý của lão. Hồ Phỉ cũng có lúc ra tay tiến chiêu. Hai người cười nói cực kỳ thân mật, hiển nhiên là đang nghiên cứu quyền thuật võ công. Mọi người chờ hằng nửa ngày trời mà chẳng nghe thấy hai người đang nói gì, dù lấy làm lạ nhưng rồi cũng không xem nữa.

Tần Nại Chi bảo:

– Hồ huynh đệ! Quyền chiêu về “Bát Cực quyền” có nhiều chỗ tuyệt diệu, đáng tiếc là Tần mỗ không học được đến nơi đến chốn nên bị thua dưới tay tiểu huynh đệ.

Hồ Phỉ nói:

– Sao Tần đại ca lại nói vậy? Chúng ta nếu đấu lại thì cũng chưa biết ai thắng ai bại. Tiểu đệ rất khâm phục võ công của quý phái. Bữa nay, trời tối, trong lúc nhất thời tiểu đệ chưa thỉnh giáo được nhiều. Ngày sau đến Bắc Kinh, tiểu đệ nhất định sẽ thật lòng bái phỏng, cùng nhau đàm đạo mấy ngày. Bây giờ xin cáo biệt.

Dứt lời chàng chấp tay thi lễ rồi toan nhảy xuống.

Tần Nại Chi sửng sốt nghĩ bụng:

– Ta đã có ước hẹn trước, lẽ ra ta phải kể rõ đầu đuôi về vụ này, nhưng y chỉ đàm luận võ công với ta rồi cáo từ liền. Trong thiên hạ làm gì có cái lý đó? Phải rồi! Chàng thiếu niên này đã giữ thể diện cho ta, lại có mối giao tình thì ta há có thể không nói được ư?

Lão liền gọi giật lại:

– Tiểu huynh đệ, hãy khoan! Anh em mình không đánh nhau thì không thành quen biết. Bây giờ tại hạ nói rõ đầu đuôi vụ đó cho xong mới được.

Hồ Phỉ đáp:

– Đúng rồi! Tiểu đệ có quen biết Thương Bảo Chấn, không ngờ Mã cô nương lại đột nhiên ra tay báo thù cho chồng.

Chàng liền đem những chuyện quen biết Thương Bảo Chấn và Mã Xuân Hoa tại Thương gia bảo thuật sơ lại một lượt.

Tần Nại Chi bụng bảo dạ:

 – Hay lắm, ta chưa kịp nói y đã thuật chuyện rồi. Chàng thiếu niên này hành động chỗ nào cũng khiến cho người ta phải khâm phục.

Lão liền nói:

– Cố nhân mang ơn một bữa cơm mà đem ngàn vàng báo đáp. Mã cô nương đã có ơn năn nỉ cho Hồ huynh đệ. Huynh đệ không quên ơn cũ chính là bản sắc của bậc đại trượng phu. Huynh đệ không hiểu vì sao Mã cô nương đâm chết Thương Bảo Chấn chẳng chút lưu tình, lại tưởng hai đứa con nhỏ kia là con của Thương Bảo Chấn sinh ra phải không?

Hồ Phỉ gãi đầu, đáp:

– Lúc Từ Tranh lâm tử, tiểu đệ còn nghe y nói hai thằng nhỏ đó không phải con y.

Tần Nại Chi vỗ đùi, nói:

– Té ra hắn không phải là thằng ngốc.

Hồ Phỉ như người lạc vào trong mây mù.

Tần Nại Chi nói:

– Tiểu huynh đệ, lúc ở Thương gia bảo, tiểu huynh đệ có từng thấy một vị công tử quyền quý hay không?

Hồ Phỉ vừa nghe, chợt như người đang ngủ sực tỉnh chiêm bao. Ngày đó, chàng tận mắt trông thấy Thương Bảo Chấn và Mã Xuân Hoa nắm tay nhau dưới gốc cây, liền cho là hai người có tình ý với nhau. Còn vụ Mã Xuân Hoa và vị công tử quyền quý kia vừa gặp đã say đắm nhau, và trong cơn si luyến đã gây nên một trường tình duyên oan nghiệt thì chàng hoàn toàn không hay biết.

Ngày đó, sau khi Thương gia bảo bị hỏa thiêu, chàng đã thấy Mã Xuân Hoa cùng vị công tử quyền quý âu yếm chuyện trò ở ngoài đồng vắng, ánh mắt nhìn nhau chan chứa tình thâm, chàng lúc đó còn nhỏ nên dù thấy cũng không hiểu được ẩn ý bên trong, vì thế thủy chung vẫn không nghĩ tới vị công tử quyền quý nọ. Bây giờ nghe Tần Nại Chi nhắc nhở, chàng mới tỉnh ngộ nói:

– Vương thị huynh đệ ở Bát Quái môn…

Tần Nại Chi ngắt lời:

– Phải rồi! Khi đó Vương thị huynh đệ ở Bát Quái môn tháp tùng Phúc công tử đến Thương gia bảo.

Hình ảnh Phúc công tử ra sao, Hồ Phỉ chỉ nhớ lờ mờ, nhưng “Bát Quái đao” và “Bát Quái chưởng” của Vương thị huynh đệ thì chàng còn nhớ rõ như in. Chàng nói:

– Phúc công tử! Phúc công tử! À phải rồi! Vị Phúc công tử này tướng mạo thanh nhã, hao hao giống hai thằng nhỏ.

Tần Nại Chi thở dài đáp:

– Phúc công tử hưởng thụ vinh hoa phú quý. Về quyền thế, sau Hoàng thượng là đến y. Về của cải, y muốn lấy cái gì Hoàng thượng cho cái đó. Chỉ có một điều y đã đến tuổi trung niên vẫn còn một điều bất túc, đó là chưa có con để vui vầy dưới gối.

Hồ Phỉ nghe nói uy thế Phúc công tử như vậy không khỏi chấn động tầm thần, liền hỏi:

– Phúc công tử phải chăng là Phúc Khang An?

Tần Nại Chi đáp:

– Không phải y thì còn ai nữa? Đó chính là Bình Kim Xuyên đại soái. Y đã làm Chính Bạch Kỳ Mãn Châu đô thống, Thịnh Kinh tướng quân, Vân Quý tổng đốc, Tứ Xuyên tổng đốc, bây giờ làm đến Thái Tử Thái Bảo, Binh Bộ Thượng Thư, cai quản hết các bậc đại thần trong Nội vụ phủ!

Hồ Phỉ hỏi:

– Ủa, hai thằng nhỏ đó đã là cốt nhục của Phúc công tử, nên y sai người đón về phải không?

Tần Nại Chi đáp:

– Hiện giờ Phúc đại soái chưa biết mình có hai đứa con này. Vừa rồi bọn ta nghe Mã cô nương nói mới hay ra.

Hồ Phỉ gật đầu nghĩ bụng:

– Té ra lúc Mã cô nương nói chuyện với Tần Nại Chi mặt đỏ lên là vì chuyện này. Sở dĩ nàng phải thổ lộ chân tình là để bọn họ không làm tổn thương đến hai đứa nhỏ. Nàng thương con mình, nên tuy vụ này chẳng hay ho gì cũng phải nói ra.

Tần Nại Chi lại nói tiếp:

– Phúc đại soái chỉ sai bọn Tần mỗ đi coi tình hình của Mã cô nương nhưng bọn ta đoán rằng ý đại soái muốn đón tiếp cô về kinh. Bây giờ trượng phu của Mã cô nương đã qua đời, cô chẳng còn nơi nương tựa, sao không chịu đến Bắc Kinh để cùng Phúc đại soái tương tụ? Hai đứa nhỏ đó được dịp phụ tử trùng phùng, từ đây rộng mở đường mây, đại phú đại quý, chẳng hơn là lăn lóc ở trong cái tiêu cục hèn mọn kia ư? Hồ huynh đệ! Huynh đệ thử khuyên Mã cô nương coi?

Hồ Phỉ trong lòng rối bời, nghe lão bảo vậy cũng có lý, nhưng cảm thấy bên trong có điều rất bất ổn, còn bất ổn chỗ nào thì nhất thời chàng không sao nói ra được. Chàng trầm ngâm một lúc rồi nói:

– Còn Thương Bảo Chấn thì sao? Y cũng theo các vị đến đây ư?

Tần Nại Chi đáp:

– Thương Bảo Chấn được anh em họ Vương tiến cử, cũng làm đương sai trong phủ Phúc đại soái. Vì gã biết Mã cô nương nên cũng đi theo.

Hồ Phỉ sa sầm nét mặt, hỏi:

– Nói như vậy thì y đánh chết Từ Tranh đại ca là do Phúc công tử bảo hay sao?

Tần Nại Chi đáp:

– Không phải thế đâu. Phúc đại soái là người cao quý lại bận rộn công việc, làm gì biết Mã cô nương đã thành hôn với gã họ Từ? Đại soái chỉ nao lòng nhớ lại mối tình xưa mà phái mấy tên đương sai xuống phương Nam dò la tin tức. Lúc này đã có hai vị huynh đệ phi ngựa về kinh báo tin mừng. Phúc đại soái biết mình có hai vị công tử thì không nói cũng đủ biết y cao hứng đến cỡ nào?

Thế là bao nhiêu mối nghi ngờ trong đầu óc Hồ Phỉ đều được giải đáp. Chàng nhận thấy vụ này không thể oán trách Mã Xuân Hoa, mà cũng không thể oán trách Phúc Khang An. Thương Bảo Chấn giết Từ Tranh cố nhiên là không đúng, nhưng lúc này gã đã đền mạng thì chẳng còn điều gì để nói nữa.

Chàng nghĩ tới Từ Tranh là người trung hậu thật thà, biết rõ hai đứa con không phải cốt huyết của mình, mà thủy chung vẫn cứ ẩn nhẫn không nói ra rốt cuộc lại đi đến kết quả thảm khốc, thì quá đỗi đau lòng, không khỏi buông tiếng thở dài. Chàng nói:

– Tần đại ca! Vụ này đã phân tích rõ ràng, tiểu đệ can thiệp vào quả là đa sự.

Rồi chàng nhẹ nhàng nhảy xuống.

Lúc Hồ Phỉ nhảy xuống đất, Tần Nại Chi không hề có cảm giác cành cây lay động chút nào, hoàn toàn không tựa vào sức của cây, nếu không để ý thật kỹ thì không nhận ra. Lão nghĩ thầm:

– Khinh công của y quả thật cao thâm khôn lường, ta dẫu có luyện thêm chục năm nữa cũng không thể đạt đến cảnh giới đó. Không hiểu y còn nhỏ tuổi mà bản lĩnh sao lại luyện đến trình độ kinh người như vậy?

Tần Nại Chi vừa kinh dị, vừa chán nản. Lúc lão hạ mình xuống đất thì Hồ Phỉ đã vào thạch thất từ lâu rồi.

Trình Linh Tố đứng trước cửa sổ chờ lâu không thấy Hồ Phỉ trở về, trong lòng nóng nảy vô cùng. Khó khăn lắm mới thấy chàng về mà mặt buồn rượi, dường như có điều gì khó xử, nên cô cũng không hỏi, chỉ nói vài lời chuyện phiếm. Sau một lúc, Uông Thiết Ngạc đem đến một nồi cơm lớn và một chảo thịt quay, lại có thêm ba bình rượu đã hâm nóng. Hồ Phỉ rót rượu ra bát uống cạn.

Trình Linh Tố cầm cây ngâm châm toan thử rượu thịt xem có độc không thì chàng bảo:

– Đã có Mã cô nương ở đây, bọn chúng sao dám hạ độc?

Mã Xuân Hoa đỏ mặt lên, không lại ăn cơm. Hồ Phỉ cũng không mời, chàng uống hết sạch ba bình rượu để giải muộn và ăn hết một bát thịt lớn. Chàng chưa kịp ăn cơm thì đã say túy lúy, tựa vào bàn mà ngủ.

Sáng sớm hôm sau, Hồ Phỉ tỉnh dậy thấy trên lưng mình có khoác một tấm trường bào, chàng biết là Trình Linh Tố đêm qua đã đắp lên cho mình. Cô đứng bên cửa sổ, ngọn gió ban mai thổi làn tóc mây bay phơ phất. Hồ Phỉ nhìn bóng sau lưng mảnh dẻ của cô, trong lòng vừa bối rối vừa cảm kích, lại vừa thương mến. Chàng cất tiếng hỏi:

– Nhị muội!

Trình Linh Tố “ồ” một tiếng rồi quay lại. Hồ Phỉ thấy mắt cô có vẻ ngái ngủ ra chiều nhọc mệt, liền hỏi:

– Đêm qua Nhị muội không ngủ được hay sao? À, tiểu huynh quên không nói cho Nhị muội hay là có Mã cô nương ở đây, bọn họ không dám làm gì chúng ta đâu.

Trình Linh Tố đáp:

– Mã cô nương nửa đêm lén ra đi, đến giờ cũng chưa về. Cô rón rén cất bước chỉ sợ làm kinh động đại ca tỉnh giấc. Tiểu muội cũng giả vờ ngủ.

Hồ Phỉ giật mình quay đầu nhìn lại thấy chỗ Mã Xuân Hoa chỉ còn là cái ghế trống không. Hai người mở cửa đi ra. Trong rừng cây lặng lẽ không một bóng người. Cả mấy chục người ngựa đã đi hết chẳng còn một ai. Gốc cây chỉ còn buộc hai con ngựa, dường như dành cho Hồ Phỉ và Trình Linh Tố. Hai người đi thêm mấy trượng, thấy trong rừng có đắp hai nấm mộ, dù không còn tấm bia nhưng cũng biết một ngôi mộ của Từ Tranh, còn cái kia là của Thương Bảo Chấn.

Hồ Phỉ nghĩ bụng:

– Tuy một người là chồng, một người là kẻ giết chồng nhưng e rằng Mã cô nương coi hai người này không khác nhau mấy, cả hai đâu phải là người cô yêu, mà chỉ là những kẻ bất hạnh vì cô mà mất mạng.

Chàng nghĩ tới đây bất giác buông tiếng thở dài, rồi đem câu chuyện nghe được ở Tần Nại Chi thuật lại cho Trình Linh Tố hay. Trình Linh Tố nghe xong, thở dài buồn bã.

Một lúc sau cô nói:

– Té ra lão già gầy ốm đó là Tần Nại Chi, chưởng môn phái “Bát Cực quyền”. Lão mang ngoại hiệu là “Bát tý Na Tra”. Lão làm chó săn dưới trướng kẻ quyền quý, phẩm cách đê hèn, từ nay chúng ta đừng lý gì đến lão nữa.

Hồ Phỉ đáp:

– Phải rồi.

Trình Linh Tố nói:

– Mã cô nương trong lòng chỉ yêu Phúc công tử. Từ Tranh còn sống thì chỉ càng tăng thêm phần đau khổ. Hắn là một tiêu sư tầm thường thì bì thế nào được với Binh bộ thượng thư, Thống binh đại nguyên soái?

Hồ Phỉ đáp:

– Đúng thế. Y chết còn yên thân hơn.

Nói xong, chàng đến trước hai ngôi mộ lạy mấy lạy, khấn vái:

– Từ đại ca! Thương công tử! Lúc sinh tiền bất luận hai vị có ơn oán gì với tiểu đệ, thì sau khi chết rồi cũng là xóa hết. Mã cô nương từ đây phú quý vô tận, hai vị dù đã chết không biết gì cũng đừng nhớ đến cô nữa.

Hai người dắt ngựa đi bộ, từ từ ra khỏi khu rừng. Trình Linh Tố hỏi:

– Chúng ta đi đâu bây giờ?

Hồ Phỉ đáp:

– Trước hết hãy tìm vào khách điếm để nhị muội ngủ nửa ngày cho lại sức rồi hẵng tính đến chuyện khác, đừng để muội tử của tiểu huynh phải vất vả.

Trình Linh Tố thấy chàng gọi mình là “muội tử của tiểu huynh” thì trong lòng vô cùng hoan hỷ, cô quay lại nhìn chàng mỉm cười rất đỗi ngọt ngào.

Trình Linh Tố ngủ trong khách điếm đến quá trưa mới tỉnh giấc. Cô một mình ra khỏi điếm, nói là đi mua mấy vật cần dùng. Lúc trở về, tay cầm hai bao giấy lớn, giơ ra cười hỏi:

– Đại ca! Đại ca thử đoán coi tiểu muội mua những gì nào?

Hồ Phỉ thấy trên giấy in nhãn hiệu “Lão cửu phúc y trang” liền hỏi lại:

– Chúng ta lại dùng râu giả để hóa trang chăng?

Trình Linh Tố mở bao giấy trắng ra, trong mỗi bao đựng một bộ quần áo mới một nam, một nữ. Bộ nam trang màu xanh nhạt, bộ nữ trang màu vàng nhạt, đều rất thanh nhã.

Ăn cơm tối xong, Trình Linh Tố bảo Hồ Phỉ mặc thử, thấy tay áo dài hơn hai tấc, chỗ nách cũng lùng thùng. Cô liền lấy kéo và kim chỉ ra, ngồi dưới đèn sửa lại.

Hồ Phỉ nói:

– Nhị muội! Chúng ta đến Bắc Kinh xem một chuyến.

Trình Linh Tố bĩu môi cười, đáp:

– Tiểu muội biết đại ca thế nào cũng muốn đi Bắc Kinh mà, nên mua hai bộ quần áo mới, không thì cô gái quê lên chốn kinh đô không khỏi bị người ta cười cho.

Hồ Phỉ cười đáp:

– Nhị muội thật chu đáo. Hai kẻ nhà quê chúng ta lên kinh thành đẻ gặp gỡ những nhân vật dưới chân thiên tử, và để coi trong đại hội các chưởng môn nhân của Phúc đại soái rốt cuộc có vị anh hùng hào kiệt nào không?

Chàng nói hai câu với vẻ hờ hững nhưng trong giọng nói lại tràn đầy hào khí. Trình Linh Tố vừa khâu áo vừa hỏi:

– Đại ca có biết Phúc đại soái mở cuộc đại hội chưởng môn trong thiên hạ vì mục đích gì không?

Hồ Phỉ đáp:

– Hắn muốn thu tóm nhân tài, khiến bao nhiêu anh hùng thiên hạ đều chui hết vào trong lưới của hắn. Nhưng bậc anh hùng đại hào kiệt chưa chắc tới dự.

Trình Linh Tố mỉm cười nói:

– Những thiếu niên anh hùng như đại ca chắc cũng không tham dự.

Hồ Phỉ đáp:

– Tiểu huynh đã có gì để đáng là anh hùng? Ta muốn nói những nhân vật thành danh như Miêu Nhân Phụng chẳng hạn.

Chàng thở dài nói tiếp:

– Nếu như gia gia của đại ca còn sống thì chắc sẽ đến phá cuộc đại hội chưởng môn này cho đến trời long đất lở mới khiến cho mọi người thống khoái.

Trình Linh Tố hỏi:

– Đại ca đi quấy phá Phúc đại soái cũng chẳng hay sao? Tiểu muội đoán chừng còn một người nữa nhất định cũng đi.

Hồ Phỉ hỏi:

– Ai vậy?

Trình Linh Tố tủm tỉm cười, đáp:

– Đã biết mà còn giả vờ hỏi. Đại ca cứ ung dung nói thẳng ra là xong.

Hồ Phỉ đã sớm biết tâm ý cô, thấy không cần vờ vịt nữa, liền nói:

– Chưa chắc y đã tới.

Chàng dừng một chút, rồi tiếp:

– Viên cô nương đó là bạn hay là thù, tiểu huynh vẫn chưa rõ.

Trình Linh Tố đáp:

– Nếu mỗi kẻ thù đều tặng tiểu muội một con ngọc phụng, thì tiểu muội mong rằng khắp thiên hạ đều là kẻ thù hết.

Giữa lúc ấy, bỗng nghe ngoài cửa số có thanh âm một cô gái cất lên:

– Hay lắm! Ta cũng tặng cô một con.

Tiếng nói vừa dứt đã nghe đánh “vèo” một cái, một vật xuyên thủng qua lần giấy cửa sổ bay về phía Trình Linh Tố. Hồ Phỉ cầm cây thước gỗ đo quần áo trên bàn đập vào vật kia cho rớt xuống mặt bàn, thuận tay chàng quạt một cái để tắt đèn đi. Tiếp theo lại nghe tiếng người ngoài cửa sổ nói:

– Khêu đèn đàm đạo ban đêm, thật là tuyệt hảo!

Hồ Phỉ nghe giọng nói phảng phất giống thanh âm của Viên Tử Y, ngực chàng nóng lên, liền xông ra cửa, hỏi:

– Có phải Viên cô nương đó không?

Lại nghe tiếng bước chân lạo xạo, trong khoảnh khắc đã mất hút, Hồ Phỉ thắp đèn lên, thấy Trình Linh Tố mặt mày tái nhợt, ngồi lặng thinh không lên tiếng.

Hồ Phỉ nói:

– Chúng ta ra xem là ai.

Trình Linh Tố đáp:

– Đại ca cứ ra xem đi.

Hồ Phỉ “ồ” một tiếng nhưng không đi. Chàng cầm lấy vật rớt xuống bàn coi lại thì ra viên đá nhỏ. Chàng nghĩ thầm:

– Người này hành động xuất quỷ nhập thần. Không hiểu y đến bên cửa từ lúc nào mà mình chẳng biết gì cả.

Chàng hiểu rõ Trình Linh Tố trong lòng không vui, nhưng chàng không chịu được, bèn đẩy cửa sổ, nhảy ra ngoài coi, chỉ thấy bốn bề tịch mịch không một bóng người.

Hồ Phỉ trở về phòng ngượng ngùng không biết nói gì, thì Trình Linh Tố lên tiếng:

– Đêm đã khuya rồi, đại ca về phòng ngủ đi!

Hồ Phỉ đáp:

– Tiểu huynh chưa mệt.

Trình Linh Tố nói:

– Nhưng tiểu muội mệt rồi, cần ngủ lấy sức để sáng mai lên đường sớm.

Hồ Phỉ đáp:

– Phải rồi!

Rồi chàng về phòng. Đêm hôm ấy Hồ Phỉ trắn trọc không ngủ được. Lúc thì nghĩ tới Viên Tử Y lúc thì nghĩ tới Trình Linh Tố, có lúc Mã Xuân Hoa, Từ Tranh và Thương Bảo Chấn, đến mãi canh tư mới mơ màng ngủ thiếp đi.

Sáng hôm sau chàng chưa dậy, Trình Linh Tố đã gõ cửa phòng đi vào, tay cô cầm bộ quần áo mới, cười hì hì nói:

– Đại ca dậy lẹ đi. Bên ngoài có cái gì đang chờ đại ca đó.

Cô đặt tấm áo xuống bàn rồi trở gót quay ra. Hồ Phỉ trở mình ngồi dậy, mặc áo vào để thử thấy rất vừa vặn thì nghĩ thầm:

– Đêm qua lúc ta về phòng, còn một ống tay áo chưa khâu xong. Chắc lúc ta đi rồi, nàng còn ngồi lại khâu lâu lắm mới xong.

Chàng mặc áo mới ra khỏi phòng, nhìn Trình Linh Tố chắp tay, nói:

– Đa tạ nhị muội!

Trình Linh Tố hỏi:

– Đa tạ cái gì? Người ta còn đem tuấn mã đến tặng đại ca kìa.

Hồ Phỉ kinh ngạc hỏi:

– Tuấn mã nào?

Chàng ra sân, thấy một con ngựa toàn thân trắng như tuyết buộc ở đó. Chính là con ngựa Triệu Bán Sơn đã cưỡi đến Thương gia bảo ngày trước, về sau Viên Tử Y lại cưỡi con bạch mã này.

Trình Linh Tố nói:

– Sáng sớm hôm nay, tiểu muội vừa dậy đã nghe điếm tiểu nhị hô hoán om sòm, nói là có kẻ trộm mở cửa vào nhà, không hiểu đã lấy cắp vật gì. Nhưng điều tra khắp thì chẳng ai mất mát chi hết, ngoài sân lại có thêm một con ngựa. Đây là đồ vật buộc ở trên yên.

Cô vừa nói vừa đưa cái bọc lụa nhỏ, trên để hàng chữ “Hồ tướng công và Trình cô nương cùng mở coi”. Nét bút vô cùng xinh đẹp. Hồ Phỉ mở bọc lụa ra không khỏi ngẩn người. Trong bọc lại có con ngọc phụng, giống hệt con ngọc phụng của Viên Tử Y đã tặng chàng lúc trước.

Chàng tự hỏi:

– Chẳng lẽ con ngọc phụng kia của ta đã bị thất lạc hay là đã bị nàng lấy trộm rồi?

Chàng đưa tày sờ vào bọc thì thấy bàn tay mát lạnh, con ngọc phụng hãy còn nằm nguyên trên đó. Chàng lấy ra xem, hai con quả nhiên được chạm trổ giống hệt nhau. Chỉ khác một con quay đầu về bên trái, một con quay đầu về bên phải.

Trong bọc còn mảnh giấy trắng nhỏ. Trên giấy viết “Ngựa về nguyên chủ, phụng tặng hiệp nữ”. Hồ Phỉ lại ngẩn người ra, tự hỏi:

– Con ngựa này có phải của ta đâu, sao lại bảo là “ngựa về nguyên chủ’’? Chẳng lẽ nàng yêu cầu ta đem trả cho Triệu tam ca?

Chàng cầm tấm thiếp và con ngọc phụng đưa cho Trình Linh Tố, nói:

– Viên cô nương cũng tặng cho nhị muội một con ngọc phụng.

Trình Linh Tố coi hàng chữ trong thiếp rồi đáp:

– Tiểu muội có phải hiệp nữ đâu? Cái này không phải y tặng cho tiểu muội rồi.

Hồ Phỉ nói:

– Trên bọc đã chẳng viết rõ “Trình cô nương” là gì? Tối hôm qua, y cũng nói “Được rồi! Ta sẽ tặng cô một con” mà.

Trình Linh Tố thản nhiên đáp:

– Đã vậy thì tiểu muội cứ giữ lấy. Viên cô nương có lòng hậu ái như vậy, tiểu muội không có gì để đền đáp.

Hai người lên đường tiếp tục tiến về phía bắc. Dọc đường không gặp việc gì khác lạ. Viên Tử Y cũng không xuất hiện nhưng Hồ Phỉ và Trình Linh Tố trong lòng lúc nào cũng nghĩ đến cô. Hai người nói chuyện dưới cửa sổ cũng tưởng tượng đến Viên Tử Y bên ngoài nghe lỏm. Qua đường núi gập ghềnh, hai người cũng tưởng chừng như có nàng đang ẩn nấp bên kia sườn núi. Hai người tuyệt không nhắc đến tên nàng, nhưng cái miệng càng tránh né, thì trong lòng lại càng nghĩ đến. Hai người đều nghĩ: “Đến Bắc Kinh rồi thế nào cũng gặp cô ta”. Có lúc hai người nóng lòng mong sớm gặp được Viên Tử Y, có khi lại hy vọng gặp nàng càng muộn càng tốt.

Đường đến Bắc Kinh còn xa lắc, hai người cứ thủng thẳng mà đi. Đường xa diệu vợi lại trải gió dầm sương khiến cho Trình Linh Tố dung nhan tiều tụy. Nhưng rồi cũng đến Bắc Kinh. Hồ Phỉ và Trình Linh Tố cưỡi ngựa vào cửa thành.

Lúc qua cửa thành, Hồ Phỉ liếc mắt nhìn Trình Linh Tố thấy cặp mắt cô dường như long lanh ngấn lệ, nhưng cô quay đầu đi, nên chàng không nhìn rõ được khuôn mặt. Hồ Phỉ đột nhiên giật mình, tự hỏi:

– Đến Bắc Kinh lần này, là đúng hay sai đây?

Lúc này đang ở vào giai đoạn giữa đời Càn Long, bốn bề thanh bình. Đất kinh đô trù phú, bao nhiêu vinh hoa trong thiên hạ tựa hồ quy tụ cả về đó. Hồ Phỉ và Trình Linh Tố theo cửa Chính Dương mà vào thành, mướn hai phòng trọ trong một khách điếm tại phía nam. Đến trưa hai người ăn mì xong, liền dắt nhau đi dạo chơi trên các đường phố. Cảnh phồn hoa rực rỡ không bút nào tả xiết. Hai người không biết đường, cứ thuận chân mà đi, không cần định hướng. Lúc dạo chơi, Hồ Phỉ mua mấy xâu kẹo cầm tay để hai người vừa đi vừa ăn.

Bỗng nghe bên đường có tiếng thanh la “beng beng” nổi lên. Lại có một người lớn tiếng quát tháo. Nguyên tại một bãi đất trống có một đám người đang diễn võ kiếm tiền. Hồ Phỉ mừng rỡ nói:

– Nhị muội! Mình lại coi chơi.

Hai người chen vào đám đông thấy một hán tử thô tráng cầm đơn đao, chắp tay nói:

– Tiểu đệ xin biểu diễn một đường “Tứ Môn đao pháp”, mong các vị đại gia chỉ giáo. Trong đao quyết có câu:

“Ngư vũ thôi phong quyết thắng cường

Thiển khai thâm nhập địch nhân thương 

Đảm dục đại hề tâm dục tế

Cân tu thư hế tý tu trường

Công phu vi luyện phương vân thục

Thục năng sinh xảo đại danh dương”.

(Quyết đánh thắng mọi thói cương cường bức hiếp

Triển khai thì cạn nhưng vào sâu để đả thương kẻ địch

Lòng can đảm cần lớn còn tâm cần tinh tế

Gân cần thư giãn, tay thì cần phải dài

Công phu rèn luyện lâu ngày mới được gọi là thuần thục

Có thuần thục rồi thì mới dương được đại danh)

Hồ Phỉ nghe nói, nghĩ bụng:

– Mấy câu đao quyết này quả là đúng lắm. Xem chừng võ công người này vị tất đã vào hạng cao cường như vậy.

Hán tử kia đứng che môn hộ, vung đơn đao lên múa những kiểu đâm, chém, đánh, móc, lướt, hớt, từ chiêu “Đại bàng triển xí”, “Kim kê độc lập” đến những chiêu “Độc phách Hoa Sơn”, “Phân hoa phất liễu”, chiêu thức nào cũng đúng chương pháp, có điều cước bộ hời hợt, thế đao lệch lạc, công phu thực không bõ một trận cười.

Hồ Phỉ cười thầm nghĩ bụng:

– Ta thường nghe nói người đất kinh sư phần nhiều ăn nói khoa trương khoác lác. Hán tử này mồm mép trơn tru mà sử chiêu như vậy đó.

Chàng toan cùng Trình Linh Tố bỏ đi, thì trong đám đông đột nhiên có người ha hả, lớn tiếng hỏi:

– Gã hán tử cao kều kia! Ngươi sử đao pháp gì mà như chó đánh rắm vậy?

Hán tử tức giận thu đao về, nhìn người kia, đáp:

– Đường đao của ta là “Tứ môn đao” chánh tông, chẳng lẽ không đúng ư? Vậy ta muốn thỉnh giáo.

Một đại hán ở trong đám đông bước ra cười nói:

– Được lắm! Ta dạy cho ngươi.

Người này mặc sắc phục võ quan, thân thể cao lớn, tư thế hiên ngang, trông rất uy vũ. Y bước lại đón lấy thanh đơn đao trong tay hán tử mãi võ. Đột nhiên y nhìn thấy Hồ Phỉ, ngơ ngác một chút rồi lộ vẻ vui mừng hô:

– Hồ đại ca! Đại ca cũng đến Bắc Kinh ư? Ha ha! Đại ca là một tay hảo thủ về đao pháp hiện nay. Xin đại ca trổ một vài đường để gã tiểu tử này mở rộng tầm mắt và cho gã biết đao pháp là thế nào?

Lúc y ở trong vòng người bước ra, Hồ Phỉ và Trình Linh Tố đã nhận ra y chính là Uông Thiết Ngạc ở Ưng trảo nhạn hành môn. Ngày y vây hãm Mã Xuân Hoa giả làm cường đạo, mà thực ra là một tên võ quan có chức danh.

Hồ Phỉ biết y lòng dạ thẳng ngay, miệng lưỡi nhanh nhảu, chẳng phải hạng giảo quyệt. Chàng liền mỉm cười đáp:

– Tài mọn của tiểu đệ đã ăn thua gì? Uông đại ca! Đại ca phô trương thân thủ hay hơn.

Uông Thiết Ngạc biết mình bản lãnh còn kém Hồ Phỉ xa. Chàng đã ở đây thì làm sao y còn dám múa may? Y ném đơn đao xuống đất, cười nói:

– Lại đây! Hồ đại ca! Còn vị cô nương này họ… họ Trình. Phải rồi! Trình cô nương! Chúng ta cùng thống ẩm một trận đã. Hai vị đến kinh thành. Tại hạ phải làm chủ nhân một phen mới được.

Dứt lời y nắm tay Hồ Phỉ kéo ra khỏi đám đông. Hán tử mãi võ không dám gây gổ với võ quan, lẳng lặng lượm thanh đơn đao lên, tiếp tục biểu diễn.

Uông Thiết Ngạc vừa đi vừa nói lớn:

– Hồ đại ca! Chúng ta đúng là không đánh nhau không thành bạn hữu. Bản lãnh của đại ca, tại hạ thực tình khâm phục lắm. Ngày mai tại hạ dẫn đại ca đến giới thiệu với Phúc đại soái. Lão nhân gia mà gặp được một nhân tài như đại ca tất phải vui mừng trọng dụng. Đến khi đó, tiểu đệ còn mong được đại ca chiếu cố nữa là khác…

Nói đến đó, đột nhiên y hạ thấp giọng xuống nói:

– Còn vị Mã cô nương đó, bọn tiểu đệ đón ba mẹ con cô về kinh rồi. Hiện giờ ở trong phủ Phúc đại soái, tha hồ mà hưởng vinh hoa phú quý. Phúc đại soái cái gì cũng có hết, chỉ hiếm đường con cái. Mã cô nương biết đâu chỉ mai mốt là trở thành đại soái phu nhân. Ha ha! Lão ca mà biết nhau trước thì hôm ấy chúng ta còn đánh đấm làm gì!

Y càng lúc càng nói lớn, lại nổi lên cười ha hả, tựa hồ như trên đường phố không còn ai. Hồ Phỉ nghe y nói, trong lòng cảm thấy không vui thích gì.

Chàng nhận thấy trước khi Mã Xuân Hoa thành hôn với Từ Tranh đã có tư tình với Phúc Khang An. Hai thằng nhỏ đó là cốt nhục của Phúc Công tử mà trước mắt thì trượng phu của nàng đã chết rồi, nàng về ở với Phúc Khang An cũng chẳng có điều gì sai trái, nhưng nghĩ tới cái chết thê thảm của Từ Tranh trong rừng cây, chàng không khỏi buồn rầu.

Chuyện trò một lúc, ba người đã đến trước một tòa đại tửu lâu. Trên cửa đề ba chữ vàng “Tụ Anh lâu” dạng đại tự. Tửu bảo vừa nhìn thấy Uông Thiết Ngạc đã niềm nở chạy ra đón tiếp, mời mọc:

– Uông đại nhân! Bữa nay đại nhân đến sớm. Mời đại nhân ngồi uống mấy chung, được chăng?

Uông Thiết Ngạc đáp:

– Được! Bữa nay ta mời hai vị bằng hữu danh giá đến đây. Rượu nhắm phải đặc biệt thịnh soạn nghe chưa?

Tửu bảo cười nói:

– Cái đó cần gì đại nhân phải dặn bảo?

Gã dẫn ba người vào chỗ rất lịch sự, rồi bưng trà rượu mời mọc ân cần. Hiển nhiên Uông Thiết Ngạc là khách thường xuyên ở tửu lâu này. Hồ Phỉ thấy khách trong tửu lâu mười phần có đến sáu, bảy mặc sắc phục võ quan. Nếu không mặc sắc phục võ quan thì bọn họ phần lớn cũng đều là những hào khách anh hùng trong giới võ lâm. Xem ra tòa tửu lâu này do một võ nhân dựng nên.

Món ăn ở kinh sư quả nhiên hơn hẳn những nơi khác. Hiện thời đang mùa nóng, tửu bảo đưa lên những món ăn tinh khiết ngon lành nhưng không béo. Hồ Phỉ khen không ngớt miệng. Uông Thiết Ngạc muốn giữ thể diện nên kêu thức ăn đầy bàn. Hai người đối ẩm mười mấy chung, bỗng nghe phòng bên có toán người kéo vào. Lát sau tiếng người huyên náo ầm ĩ để mở sòng bài.

Một người lớn tiếng hô:

– Cửu điểm thiên cống! Ăn hết!

Hồ Phỉ nghe giọng rất quen, chàng hơi sửng sốt một chút. Uông Thiết Ngạc cười nói:

– Cũng là bằng hữu thân thuộc đây mà.

Rồi y lớn tiếng hỏi:

– Tần đại ca! Đại ca thử đoán coi có ai đến đây?

Hồ Phỉ lập tức nhận ra là Tần Nại Chi, chưởng môn “Bát Cực quyền”. Lại nghe y ở phòng bên kia lớn tiếng đáp:

– Ai mà biết được ngươi đem loại bạn bè chó lợn nào đến? Sang cả đây đánh mấy tay được không?

Uông Thiết Ngạc cười nói:

– Đại ca thóa mạ tiểu đệ thì không sao, nhưng đắc tội với vị hảo bằng hữu đây thì không xong đâu.

Y đứng dậy kéo tay Hồ Phỉ nói:

– Hồ đại ca! Chúng ta qua bên đó xem đi.

Hai người chạy sang, vừa hé rèm lên đã nghe Tần Nại Chi hô lớn:

– Tam điểm, mai hoa một đôi, ăn cửa thiên, chung cho nhà trên!

Lão ngửng đầu lên thấy Hồ Phỉ, ngẩn người một chút, rồi reo lên:

– Ủa! Huynh đệ đấy ư? Thật không ngờ! Thật không ngờ!

Lão đẩy các quân bài, đứng dậy, đập tay vào trán bốp bốp mấy cái cười nói:

– Đáng chết! Đáng chết! Tại hạ nói nhăng rồi. Ai mà biết đại ca giá đáo. Lại đây! Lại đây làm nhà cái đi.

Hồ Phỉ đảo mắt nhìn quanh một lượt thấy mười mấy võ quan tụ tập trong phòng, vây quanh một cái bàn bài cẩu. Tần Nại Chi làm nhà cái. Trong mười mấy người này thì quá nửa là những người giả làm đại đạo ngăn chặn Phi Mã tiêu cục và cùng chàng giao thủ hôm trước. Gã họ Chử sử lôi chấn đáng, hán tử họ Thượng Quan sử thiểm điện chùy, hán tử họ Nhiếp sử kiếm đều ở cả đây. Mọi người thấy Hồ Phỉ đột nhiên xuất hiện thì nhốn nháo một lúc, rồi yên tĩnh trở lại.

Hồ Phỉ chắp tay vái bốn mặt, cười nói:

– Đa tạ các vị đã tặng cho ngựa cưỡi.

Những người kia cũng nói khiêm tốn vài câu. Hán tử họ Nhiếp hô:

– Hồ đại ca! Đại ca làm cái đi. Có đem theo tiền bạc không? Bữa nay tiểu đệ vận hên lắm. Đại ca dùng trước đi.

Gã nói rồi đẩy ba gói bạc đến trước mặt Hồ Phỉ. Hồ Phỉ bản tính thích kết bạn, tuy chàng không có hảo cảm với bọn quan lại, nhưng những người này đối với chàng đều cực kỳ tôn trọng mà chàng lại khoái đánh bạc, liền cười đáp:

– Xin Tần đại ca tiếp tục làm cái. Tiểu đệ còn thử vận khí xem sao đã. Nhiếp đại ca! Đại ca hãy thu bạc về. Tiểu đệ thua sẽ hỏi tới đại ca.

Chàng quay lại hỏi Trình Linh Tố:

– Nhị muội! Nhị muội có đánh không?

Trình Linh Tố bĩu môi, cười đáp:

– Tiểu muội không đánh bạc, mà chỉ giúp đại ca khuân bạc về nhà.

Tần Nại Chi lại ngồi xuống chỗ nhà cái, xóc bài và gieo xúc xắc. Hồ Phỉ và Uông Thiết Ngạc đặt cửa. Bọn võ quan mới gặp Hồ Phỉ lần đầu không khỏi bỡ ngỡ, nhưng bài cẩu đã xóc rồi, thấy chàng nói cười vui vẻ, không nhắc gì đến chuyện cũ, ai nấy lại chú ý đánh bạc nên không cần giữ ý tứ gì nữa.

Hồ Phỉ bàn được bàn thua, chẳng có gì đáng kể. Chàng nghĩ thầm trong bụng:

– Nay là mồng chín tháng tám rồi, còn sáu ngày nữa là đến tiết Trung Thu. Cuộc đại hội chưởng môn này là do Phúc đại soái triệu tập, đã định ngày trung thu là mở đại yến. Tên gian tặc Phụng Thiên Nam làm chưởng môn phái Ngũ hổ dù không tới đây, ta cũng có thể dò hỏi được tin tức. Bọn này đều là thủ hạ đắc lực dưới trướng Phúc đại soái, ta có kết giao với họ cũng chẳng ngại gì. Ta chẳng làm chưởng môn gì ráo, nhưng chỉ cần họ dẫn dắt mình vào hội, bồi tiếp mình một chung rượu là được rồi.

Chàng nghĩ vậy, cứ tùy ý mà đặt tiền chẳng màng chuyện ăn thua. Nhưng Hồ Phỉ gặp vận hên, nên chẳng mấy chốc đã ăn được ba, bốn trăm lượng bạc. Đánh một hồi lâu, trời đã về chiều, tiền đặt mỗi cửa dần dần lớn lên. Đột nhiên nghe tiếng giày lạo xạo, có ba người vén cửa rèm bước vào. Uông Thiết Ngạc vừa thấy đã vội đứng lên cung kính chào hỏi:

– Đại sư ca, nhị sư ca, hai vị cũng tới đây rồi!

Đám người đang bu quanh sòng bài nhao nhao chào hỏi, người thì chào “Chu đại gia, Tăng đại gia”, kẻ thì chào “Chu đại nhân, Tăng đại nhân”, nét mặt ai cũng lộ vẻ cung kính.

Hồ Phỉ và Trình Linh Tố nghe bọn họ chào hỏi, liền nghĩ thầm:

– Thì ra đây là Chu Thiết Tiêu và Tăng Thiết Âu của Ưng trảo nhạn hành môn. Uy phong của hai người này quả không phải nhỏ.

Chu Thiết Tiêu vóc người nhỏ thó, cao không quá năm thước, ước chừng mới năm mươi tuổi nhưng tóc đã bạc trắng. Tâng Thiết Âu khoảng gần năm mươi tuổi, thân hình cao gầy, tay cầm một lọ thuốc, trên áo có đeo một sợi xích bằng vàng, ra vẻ khí phái của một viên quan quý tộc. Hồ Phỉ vừa nhìn thấy người thứ ba thì không khỏi ngẩn người một chút, thì ra người đó chính là Ân Trọng Tường của Thiên Long môn, mà năm xưa chàng đã từng gặp ở Thương gia bảo. Có điều bây giờ gã tóc đã hoa râm, có vẻ già đi không ít.

Ân Trọng Tường nhìn lướt qua mặt Hồ Phỉ, cho đó là một kẻ nhà quê nên không để ý. Nên biết lúc hai người gặp gỡ năm xưa, Hồ Phỉ chỉ là đứa nhỏ mới mười ba, mười bốn tuổi. Chàng đã cao lớn, gương mặt khác xưa nhiều thì làm sao gã nhận ra?

Tần Nại Chi đứng lên giới thiệu:

– Chu đại ca, Tăng nhị ca, tiểu đệ xin giới thiệu với hai vị một bằng hữu mới. Đây là Hồ đại ca bản lĩnh phi thường, thật là một người bạn rất tốt. Hôm nay Hồ đại ca mới đến Bắc Kinh lần đầu. Xin ba vị làm quen với nhau đi.

Chu Thiết Ngạc nhìn Hồ Phỉ khẽ gật đầu. Còn Tăng Thiết Âu thì cười nói:

– Ngưỡng mộ đã lâu!

Hai người này võ công trác tuyệt, tiếng tăm lừng lẫy ở kinh đô nên không thèm coi một gã thiếu niên nhà quê vào đâu.

Uông Thiết Ngạc nhìn Trình Linh Tố trong lòng lấy làm ngạc nhiên, tự hỏi:

– Cô này bảo quen biết đại sư ca và nhị sư ca của ta, mà sao chẳng chào hỏi gì nhau?

Y cứ ngỡ hôm ấy Trình Linh Tố nói thật. Trình Linh Tố đã đoán được ý nghĩ của hắn, tủm tỉm cười gật đầu, rồi chớp mắt mấy cái, Uông Thiết Ngạc cho là trong vụ này tất có duyên cớ nên hắn không dám hỏi nhiều.

Tần Nại Chi làm cái hai bàn nữa rồi nhường cho Chu Thiết Tiêu. Lúc này bọn Tăng Thiết Âu, Ân Trọng Tường càng đặt tiền tăng dần lên. Hồ Phỉ số rất đỏ, ăn luôn mấy bàn. Mới không đầy nửa giờ chàng đã ăn được gần một ngàn lạng bạc. Chu Thiết Tiêu làm cái xấu quá, tiền bạc đem đi mười phần thua hết bảy, tám. Hắn đánh một bàn nữa, lại chung tiền cho cả sòng, liền đẩy bài ra nói:

– Ta làm cái không được. Nhị đệ làm nhà cái đi.

Tăng Thiết Âu làm cái bàn thua bàn được, vận không đỏ cũng chẳng xấu. Hồ Phỉ vẫn vận đỏ được thêm bảy, tám trăm lạng nữa. Trước mặt chàng để đống bạc sù sụ.

Tăng Thiết Âu cười nói:

– Lão đệ nhà quê này, Đồ thần Bồ Tát đón gió cho lão đệ rồi. Lão đệ làm cái đi.

Hồ Phỉ đáp:

– Được!

Chàng xóc bài, gieo xúc xắc rồi lật bài lên. Người đầu được tám điểm, người thứ hai ít điểm hơn. Chàng ăn được hai nhà.

Chu Thiết Tiêu thua bạc mặt vẫn thản nhiên. Tăng Thiết Âu càng ung dung hơn, thỉnh thoảng lại pha trò mấy câu. Nhưng Ân Trọng Tường cáu tiết, không ngớt lảm nhảm chửi bới. Sau hắn thua hết chỉ còn hai trăm lạng, liền dốc hết đánh một canh bạc nữa. Gã đặt ở cửa Hạ môn, khi mở bài thì ba điểm ăn ba điểm, chín điểm ăn chín điểm, gã lại thua nữa. Ân Trọng Tường vẻ mặt xám xanh, đập bàn đánh binh một tiếng, bao nhiêu quân bài, tiền bạc cùng  xúc xắc trên bàn đều nảy tung lên. Hắn lớn tiếng thóa mạ:

– Trong quân xúc xắc của tên tiểu tử nhà quê này có ma. Có khi nào lại kỳ dị thế, ba điểm ăn ba điểm, chín điểm ăn chín điểm. Dù bài có tốt đến đâu thì cũng chẳng thể tốt như thế được.

Tần Nại Chi vội can:

– Ân đại ca! Đại ca không nên nói bừa. Hồ đại ca đây là một hảo bằng hữu!

Mọi người hết nhìn Ân Trọng Tường lại nhìn Hồ Phỉ. Những người đã được biết thân thủ của Hồ Phỉ không khỏi nghĩ thầm:

– Ân Trọng Tường bảo y đánh bạc gian trá, y quyết chẳng chịu bỏ qua Nếu xảy ra ẩu đả thì Ân Trọng Tường lãnh đủ.

Không ngờ Hồ Phỉ tươi cười, đáp:

– Đã đánh bạc thì phải có hơn thua Ân đại ca làm cái vậy.

Ân Trọng Tường đứng phắt đậy, cởi thanh bội kiếm ở bên hông ra. Mọi người tưởng hắn sắp động thủ, nhưng cũng không khuyên can. Nên biết võ quan đánh bạc rồi dánh nhau là chuyện bình thường. Không ngờ hắn đặt thanh bội kiếm xuống bàn, nói:

– Thanh kiếm này của ta ít ra cũng đáng giá bảy, tám trăm lạng bạc. Vậy ta đặt nó cũng như đặt năm trăm bạc để đánh với ngươi.

Thanh kiếm này vỏ bọc ngoài giát vàng khảm ngọc cực kỳ hoa lệ. Nguyên một cái vỏ không thôi giá trị cũng đã không nhỏ.

Hồ Phỉ cười đáp:

– Hay lắm! Phải đặt thành tám trăm lạng mới công bình!

Ân Trọng Tường cầm bộ xúc xắc lên, nói:

– Ta đánh tay đôi với gã tiểu tử nhà quê này, ta không chịu người ngoài đặt cửa, chén bạc này nhất định ăn thua!

Hồ Phỉ đếm tám trăm lạng bạc, đẩy ra, nói:

– Các hạ gieo xúc xắc đi!

Ân Trọng Tường cầm hai con xúc xắc trong tay lắc mấy cái, hà hơi thối rồi gieo xuống. Một con năm điểm, một con bốn điểm, cộng thành chín điểm. Hắn lại bắt lấy bốn con bài, coi rồi lộ vẻ vui mừng, nói:

– Tên tiểu tử nhà quê kia, lần này ngươi đừng hòng giở trò ma được nữa!

Tay trái hắn lật bài lên được chín điểm, tay phải hắn lật bài lên được một đôi “Thiên bài”. Hồ Phỉ không lật bài, dùng ngón tay sờ phía dưới rồi để trên bàn.

Ân Trọng Tường hô:

– Tiểu tử nhà quê, lật bài lên đi!

Hắn chắc mẩm ăn bàn này, vươn tay ra gom hết tám trăm lạng bạc dồn về trước mặt, Uông Thiết Ngạc la lên:

– Đừng nóng nảy, coi xong bài rồi sẽ tính!

Hồ Phỉ đưa ba ngón tay khẽ đập lên hai quân bài ở trước, đoạn lại đập lên hai quân bài ở sau, rồi chàng xóa tung các quân bài lên, cười đáp:

– Các hạ thắng rồi!

Ân Trọng Tường rất đắc ý, toan mở miệng huênh hoang thì đột nhiên bật tiếng la hoảng:

– Ô hay!

Hắn nhìn xuống bàn, mặt thộn ra. Mọi người nhìn theo mục quang của Ân Trọng Tường thì rõ ràng trên mặt bàn sơn son in rõ rệt dấu bốn quân bài, hai quân bài trước là đôi “Trường tam”, còn hai quân bài sau, một con ba điểm, một con sáu điểm, hợp lại thành “Chí Tôn Bảo”.

Hồ Phỉ chỉ dùng ba ngón tay đập lên các quân bài mà các nút điểm in hằn xuống bàn, nổi bật hẳn lên, thì hiển nhiên chàng đã vận nội lực vào các ngón tay. Bọn người đánh bạc thấy nội lực Hồ Phỉ lợi hại như vậy, không hẹn mà cùng reo hò hoan hô vang dội.

Ân Trọng Tường mặt đỏ bừng, gã đẩy cả thanh bội kiếm lẫn đống tiền đến trước mặt Hồ Phỉ rồi đứng lên trở gót toan đi.

Hồ Phỉ cầm thanh bội kiếm đưa lên, nói:

– Ân đại ca! Tiểu đệ không biết sử kiếm thì lấy kiếm của đại ca làm chi?

Chàng cầm kiếm hai tay đưa lên trả. Ân Trọng Tường không đón lấy kiếm mà hỏi lại:

– Xin hỏi quý tính đại danh của tôn giá là chi?

Hồ Phỉ chưa kịp đáp, Uông Thiết Ngạc đã cướp lời:

– Vị bằng hữu này họ Hồ tên Phỉ.

Ân Trọng Tường lẩm nhẩm nhắc lại:

– Hồ Phỉ, Hồ Phỉ?

Đột nhiên hắn giật mình, hỏi:

– À, ở Thương gia bảo tại Sơn Đông…

Hồ Phỉ cười, đáp:

– Phải rồi! Tại hạ đã có duyên cùng Ân gia gặp gỡ một lần mà Ân gia không nhớ.

Ân Trọng Tường mặt xám như tro tàn, cầm thanh bội kiếm ném xuống, nói:

– Thảo nào! Thảo nào!

Rồi vén rèm lên, rảo bước chạy ra ngoài.

Các võ quan trong phòng râm ran bàn luận. Kẻ thì khen ngợi nội lực của Hồ Phỉ, người thì chê Ân Trọng Tường thua bạc mà tỏ ra thô lỗ làm mất cả phong độ.

Chu Thiết Tiêu từ từ đứng dậy, trỏ đống bạc trước mặt Hồ Phỉ nói:

– Hồ huynh đệ, đống bạc này khoảng bao nhiêu lạng?

Hồ Phỉ đáp:

– Ước chừng bốn, năm ngàn lạng.

Chu Thiết Tiêu xoa bài trên mặt bàn, từ từ xếp lại thành bốn cọc rồi móc trong bọc ra cái túi vải lớn để xuống trước mặt, nói:

– Nào! Ta đánh với huynh đệ một ván nữa. Nếu ta thắng thì lấy bốn, năm ngàn lạng bạc này và thanh bội kiếm, nếu huynh đệ thắng thì lấy cái túi này.

Mọi người nhìn cái túi không thấy đề một chữ nào, chẳng hiểu trong đó có cái gì thì nghĩ thầm:

– Y đánh được bấy nhiêu bạc há chẳng phải chuyện dễ, khi nào lại chịu đánh một ván để thua hết sạch? Lại chẳng biết túi đựng gì, hay chỉ có mảnh giấy trắng thì hóa chẳng oan uổng lắm ư?

Ngờ đâu Hồ Phỉ chẳng nghĩ ngợi gì, đẩy cái đống tiền trước mặt ra, cũng chẳng hỏi trong túi vải đựng gì, nói ngay:

– Đặt đi!

Chu Thiết Tiêu và Tăng Thiết Âu đưa mắt nhìn nhau, trên mặt lộ vẻ tán thưởng, tựa hồ như muốn nói:

– Chàng thiếu niên này tiêu sái hào sảng, khí độ không phải tầm thường.

Chu Thiết Tiêu cầm bộ xúc xắc lên gieo xuống được bảy điểm, nhường cho Hồ Phỉ rút bài trước mặt, còn lão rút tay bài thứ ba. Lão nhìn lướt qua rồi lật những quân bài bằng xương lên, vỗ xuống bàn thành hai tiếng lách cách liên tiếp. Mọi người đứng ngây cả mặt ra rồi bật tiếng hoan hô. Thì ra bốn quân bài sắp thành hai hàng rất ngay ngắn, ngập sâu xuống bàn. Mặt bài và mặt bàn bằng nhau. Dù thợ khảm có khoét lỗ đặt quân bài vào cũng không được phẳng lỳ như vậy. Tay bài của lão cùng bình thường, tiền ngũ hậu lục

Hồ Phỉ đứng lên, cười nói:

– Chu đại gia! Xin lỗi nhé, tại hạ thắng rồi!

Chàng vung tay mặt lên đánh “chát” một tiếng, cả bốn quân bài từ trên không gieo xuống cũng chia thành hai hàng tiền hậu, ngập sâu vào mặt bàn rất ngay ngắn và phẳng lỳ với mặt gỗ. Cú đập đó, Chu Thiết Tiêu đã dùng thủ kình thi triển tuyệt kỹ Ưng trảo lực của bản môn. Đó là môn ngoại môn ngạnh công mà lão đã khổ luyện mấy chục năm, tưởng là vô cùng lợi hại không ngờ Hồ Phỉ chỉ ném quân bài từ trên xuống mà cũng khảm được vào mặt bàn, thì công phu này còn cao minh hơn nhiều. Huống chi Chu Thiết Tiêu phải đập hai lần, còn Hồ Phỉ chỉ tung lên một lần. Mọi người kinh hãi đến thộn mặt ra, quên cả hoan hô.

Chu Thiết Tiêu vẻ mặt tự nhiên đẩy túi vải đến trước mặt Hồ Phỉ, nói:

– Bữa nay Hồ huynh đệ đỏ quá.

Mọi người bây giờ mới trông rõ tay bài của Hồ Phỉ là “Bát bát quan”. Tiền đạo tám điểm, hậu đạo cũng tám điểm.

Hồ Phỉ cười nói:

– Đùa giỡn chơi một chút, đâu phải là chuyện thật.

Rồi chàng kéo những gói bạc của mình về.

Chu Thiết Tiêu chau mày, nói:

– Hồ huynh đệ! Huynh đệ mà không lấy thì xem Chu mỗ đánh bạc không ra gì. Ván bài này nếu Chu Mỗ thắng thì sao phải khách khí với huynh đệ? Đây là căn nhà mà Chu mỗ mới mua hôm nay ở cửa Tuyên Võ, cũng không rộng lắm, chỉ khoảng chừng bốn mẫu.

Lão vừa nói vừa lấy trong túi ra mảnh giấy vàng khè. Đó là khế ước mua nhà. Mọi người đứng xem đều giật mình, nghĩ bụng thấy canh bạc này lớn quá, một tòa nhà trong cửa Tuyên Võ ít ra giá cũng sáu, bảy vạn lạng.

Chu Thiết Tiêu đẩy văn khế mua nhà đến trước mặt Hồ Phỉ nói:

– Bữa nay Tài thần Bồ Tát chiếu cố cho Hồ huynh đệ, chẳng còn gì để nói nữa. Sòng bạc giải tán là xong. Huynh đệ mà không lấy tòa nhà tức là coi thường Chu mỗ!

Hồ Phỉ cười, đáp:

– Đã vậy rồi mà tiểu đệ còn từ chối là bất cung. Đợi khi nào thu xếp mọi việc ổn thỏa, tiểu đệ sẽ mời các vị đại ca đến đánh một canh bạc lớn.

Quần hùng vui vẻ hoan hô rồi tán đồng. Chu Thiết Tiêu chắp tay chào rồi cùng Tăng Thiết Âu ra về. Uông Thiết Ngạc thấy chỉ trong khoảnh khắc đại sư ca đã thua mất cả tòa nhà lớn mà nét mặt vẫn không thay đổi, còn hắn thì trái tim lại đập thình thịch.

Hồ Phỉ từ biệt bọn Tần Nại Chi, Uông Thiết Ngạc, đoạn cùng Trình Linh Tố trở về khách điếm.

Trình Linh Tố cười nói:

– Trong số mạng đã ghi rõ đại ca trở nên đại tài chủ, muốn đẩy ra cũng không xong. Tại Nghĩa Đường trấn đại ca có đã có biết bao nhiêu là ruộng tốt, ai ngờ vừa tới Bắc Kinh lại được một tòa nhà lớn.

Hồ Phỉ đáp:

– Họ Chu quả là người hào khí. Coi lão hình thù bé nhỏ mà Ưng trảo lực không phải tầm thường. Ai ngờ trong đám quan trường cũng có những nhân vật như vậy.

Trình Linh Tố nói:

– Đại ca định dùng tòa nhà đó làm gì? Chúng ta đến ở hay đem bán đi?

Hồ Phỉ đáp:

– Không chừng trong canh bạc lớn ngày mai lại thua nhẵn. Chẳng lẽ thần Bồ Tát cứ đi kè kè với mình hoài?

Sáng sớm hôm sau hai người dậy, vừa dùng điểm tâm xong, điếm chủ đưa một hán tử trung niên vào, nói:

– Hồ đại gia, vị này có việc cần đại gia đó.

Hồ Phỉ thấy người đó đeo kính đen, mặc áo trường bào, y phục rất hoa lệ, móng tay để dài, chàng chưa từng gặp bao giờ. Người kia nhìn Hồ Phỉ gập gối phải xuống thỉnh an, rồi nói:

– Hồ đại gia! Chu đại nhân sai tại hạ đến hỏi lúc nào Hồ đại gia được rảnh xin mời tới cửa Tuyên Võ để coi nhà. Tiểu nhân họ Toàn, làm quản gia nhà đó.

Hồ Phỉ động tính hiếu kỳ, nhìn Trình Linh Tố nói:

– Nhị muội, chúng ta thử đi coi!

Quản gia họ Toàn cung kính dẫn đường cho hai người đến bên trong cửa Tuyên Võ. Hồ Phỉ cùng Trình Linh Tố thấy ngôi nhà đó cánh cổng lớn sơn đỏ đóng đinh bằng đồng, bốn mặt tường vây, thêm lát đá xanh, trông rất bề thế. Từ cổng lớn vào tiền sảnh, hậu sảnh cho đến phòng bên, sương phòng, vườn hoa nhất nhất đều bài trí rất sang trọng, đầy đủ mọi thứ.

Quản gia họ Toàn nói:

– Nếu Hồ đại gia hợp ý thì xin dọn đến ở. Tăng đại nhân đã sai đặt tiệc đêm nay để mừng đại giá của Hồ đại gia về nhà mới. Chu đại nhân, Uông đại nhân cũng đến uống rượu.

Hồ Phỉ cười ha hả, đáp:

– Các vị chu đáo quá! Tại hạ xin mời hết!

Toàn quản gia nói:

– Tiểu nhân xin vâng lệnh.

Hắn khom lưng lui ra. Trình Linh Tố chờ Vương quản gia đi xa rồi nói:

– Đại ca! Tòa nhà này e rằng hai vạn lạng cũng chưa mua được. Vụ này không phải tầm thường đâu.

Hồ Phỉ gật đầu, đáp:

– Phải rồi, nhị muội xem bên trong có điều chi ngoắt ngoéo?

Trình Linh Tố mỉm cười nói:

– Tiểu muội nghĩ rằng có một nhân vật ngấm ngầm yêu mến đại ca, nên cố ý năm lần bảy lượt đưa đại lễ tới.

Hồ Phỉ biết cô cố ý nói đến Viên Tử Y, mặt hơi đỏ lên và khẽ lắc đầu. Trình Linh Tố cười, nói tiếp:

– Tiểu muội muốn đùa đại ca thôi. Đại ca của tiểu muội là người khẳng khái hào hiệp, chẳng thèm để ý đến ruộng nương nhà cửa. Nhân vật tặng lễ vật quyết chẳng phải là tri kỷ của đại ca. Nếu không thì thà tặng một con ngọc phụng còn hay hơn. Nhân vật đưa lễ vật này nếu không sợ đại ca thì không chừng có ý muốn lung lạc đại ca. Chà! Ai mà tặng nhiều thứ thế này?

Hồ Phỉ run lên hỏi:

– Hay là Phúc đại soái?

Trình Linh Tố đáp:

– Tiểu muội thấy có lẽ đúng. Thủ hạ của y rất nhiều, nhưng có một nhân vật nào bì kịp đại ca đâu? Hơn nữa, Mã cô nương được đại soái sủng ái chắc cũng đưa một phần hậu lễ. Họ đã biết đại ca tính tình thẳng thắn, không chịu nhận tài vật của nhà giàu một cách khinh suất, nên phái người lập ra cuộc đánh bạc để tặng đại ca.

Hồ Phỉ nói:

– Chà, tin tức của bọn này mau lẹ thật. Chúng ta vừa đến Bắc Kinh có một ngày mà chúng đã lập tức để ta thắng một canh bạc lớn.

Trình Linh Tố giải thích:

– Bọn ta lại không cải trang, như vậy quá nửa là mọi việc đã được sắp đặt sẵn, chỉ chờ chúng ta tới mà thôi. Việc chúng ta gặp Uông Thiết Ngạc là tình cờ, nhưng tại sòng bạc, tin tức lọt ra ngoài nên Chu Thiết Tiêu mới đem giấy tờ nhà tới.

Hồ Phỉ gật đầu nói:

– Nhị muội phỏng đoán rất hợp lý. Đêm qua tiểu huynh cùng Chu Thiết Tiêu đánh bạc, lão cố ý để thua. Nếu mình có thua chắc lão cũng lại đánh nữa, cho đến lúc nào để thua tòa nhà về tay tiểu huynh mới thôi.

Trình Linh Tố hỏi:

– Vậy đại ca định xử trí thế nào?

Hồ Phỉ đáp:

– Đêm nay ta lại cùng bọn họ mở canh bạc khác, tìm cách làm cho thua mất tòa nhà này, để họ biết Hồ Phỉ này có thủ đoạn hay không?

Trình Linh Tố cười nói:

– Hai nhà đánh bạc cùng cố ý thua, thì cuộc giao thủ này sẽ cực kỳ cam go.

Vào khoảng đầu giờ thân, Tăng Thiết Âu sai người đến bày tiệc “Ngưu thúy yến oa” cực kỳ thịnh soạn. Quản gia họ Toàn chỉ huy gia nhân bố trí đèn lửa rất huy hoàng, không khí vui vẻ ngập tràn. Uông Thiết Ngạc đến trước tiên. Hắn đi khắp mọi chỗ trong nhà, miệng không ngớt ca ngợi tòa nhà là nguy nga tráng lệ, lại trầm trồ tán tụng Hồ Phỉ hôm qua thời vận hanh thông lạ lùng.

Hồ Phỉ thầm nghĩ:

– Uông Thiết Ngạc tính tình thẳng thắn, xem ra y không hiểu những chỗ ngoắt ngoéo bên trong. Để lát nữa ta đem tòa nhà này thua vào tay y coi hai vị sư huynh của y xử trí cách nào? Thật là một màn kịch tuyệt hay.

Chẳng mấy chốc bọn Chư Thiết Tiêu, Tăng Thiết Âu và họ Chử, họ Thượng Quan, họ Nhiếp đến. Lúc sau, Tần Nại Chi cũng tới. Lão cười ha hả, nói:

– Hồ huynh đệ! Tại hạ đưa hai vị lão hữu đến gặp huynh đệ. Huynh đệ thử đoán xem ai?

Phía sau lão có ba người đi vào. Người đi sau cùng là Ân Trọng Tường. Sau sự việc xảy ra hôm qua mà nay hắn lại tìm đến là điều Hồ Phỉ không ngờ tới. Ngoài ra hai người nữa tướng mạo giống nhau và đều là những lão già tinh thần quắc thước, gương mặt trông rất quen thuộc. Chàng còn đang ngơ ngác, đến khi nghe cước bộ hai người đúng là công phu cực kỳ thâm hậu của Bát Quái môn thì chàng tỉnh ngộ, vội tiến lại thi lễ, nói:

– Vương đại gia, Vương nhị gia, hai vị tiền bối giá lâm, thật là chuyện không ngờ. Sau khi chia tay ở Thương gia bảo, nay thấy hai vị tinh thần càng tráng kiện hơn xưa.

Nguyên hai lão này chính là Vương Kiếm Anh và Vương Kiếm Kiệt ở Bát Quái môn. Mười hai người ăn uống rất vui vẻ. Dự tiệc toàn là những anh hùng hào kiệt trên chốn giang hồ. Ân Trọng Tường nhắc lại chuyện năm xưa ở Thương gia bảo, mọi người bị vây khốn trong tòa thiết sảnh bị lửa đốt ra sao, nhờ Hồ Phỉ trí dũng song toàn giải cứu thế nào. Bọn Chu Thiết Tiêu nghe xong, nức nở khen không ngớt lời.

Trình Linh Tố đưa cặp mắt long lanh như hồ nước liếc nhìn Hồ Phỉ, nghĩ bụng:

– Những sự tích anh hùng như vậy mà y chưa chịu kể cho mình nghe.

Sau khi tan tiệc, vừng trăng đã lên đến đỉnh trời. Hôm ấy là đêm mồng mười tháng tám, tuy đã lập thu mà khí trời vẫn còn nóng bức. Toàn quản gia bày trà nước, bánh trái trong lương đình giữa vườn hoa rồi mời quần hùng ra uống nước hóng mát.

Hồ Phỉ nói:

– Mời các vị uống một chén thanh trà rồi chúng ta lại mở cuộc đánh bạc.

Mọi người đồng thanh hoan hô khen phải, kéo ra ngồi trong lương đình.

Mới nói được vài câu, bỗng nghe trên hành lang có tiếng người huyên náo, lại nghe có người lớn tiếng cãi cọ với Toàn quản gia. Tiếp đến hắn la lên “Úi chao!”  rồi nghe “Binh” một tiếng, dường như bị người ta đá ngã lăn ra đất.

Bỗng thấy một đại hán cao lớn như tòa thiết tháp sấn sổ tiến vào lương đình, vỗ bàn đánh “rầm” một tiếng, ấm chén rớt loảng xoảng xuống đất.

Đại hán nọ trỏ vào mặt Chu Thiết Tiêu, cất giọng ồm ồm nói:

– Chu đại ca, đại ca chơi không phải chút nào. Tòa nhà này tiểu đệ bán cho đại ca với giá một vạn hai ngàn, là vừa bán vừa tặng, trước là nể mặt Chu đại ca, sau là chỗ anh em còn tính toán với nhau làm gì. Ai hay trong nháy mắt đại ca lại chuyển tặng cho người khác. Tiểu đệ thật không chịu nổi. Các vị thử nghĩ coi có oan uổng cho Đức mỗ không?

Chu Thiết Tiêu lạnh lùng đáp:

– Ngươi không đủ tiền xài cứ nói tử tế là được. Ở trong nhà của một vị hảo bằng hữu sao ngươi lại làm ầm ỹ thế?

Đại hán đen thui kia đỏ mặt lên, gã lại đưa tay đập xuống bàn một cái nữa. Chu Thiết Tiêu cong tay trái lại như móc câu, chụp lấy hai cổ tay hắn. Không ngờ Chu Thiết Tiêu vóc người lùn thấp, đứng chưa tới vai đại hán, vậy mà hắn để Chu Thiết Tiêu chụp được hai tay như đóng đai sắt khiến hắn không cựa nổi.

Chu Thiết Tiêu kéo đại hán ra ngoài lương đình, khẽ nói mấy câu. Đại hán dường như không chịu nghe theo, cứ lải nhải nói mãi. Chu Thiết Tiêu nổi nóng đẩy mạnh hắn một cái. Đại hán đứng không vững, bị hất lùi mấy bước đụng vào gốc mai. Nghe “lắc rắc” mấy tiếng, hai cành mai bị gãy. Chu Thiết Tiêu quát lớn:

– Tên mãng phu họ Đức kia! Biết điều thì ra ngoài ngay, còn không sợ chết thì cứ vào đây mà sinh sự!

Đại hán xoa chỗ lưng bị đau, cắm đầu lủi thủi đi ra.

Tăng Thiết Âu cười khanh khách nói:

– Tên mãng phu này quen thói làm cho người ta mất hứng. Đại sư ca cho hắn một trận là phải.

Chu Thiết Tiêu mỉm cười đáp:

– Tiểu huynh thấy hắn lòng dạ cũng tử tế nên không muốn chấp trách. Hồ đại ca! Vụ này thật khiến đại ca phải tức cười.

Hồ Phỉ đáp:

– Phải rồi, phải rồi! Tòa nhà này y đã bán rẻ, tiểu đệ trả thêm tiền cho y là xong.

Chu Thiết Tiêu vội nói:

– Hồ đại ca sao lại nói thế? Vụ này để mặc tại hạ thu xếp, đại ca bất tất phải quan tâm. Thằng cha lỗ mãng đó vô ý đắc tội với đại ca, chỉ vì hắn chưa biết Hồ đại ca là bậc anh hùng thế nào. Sau vụ này chắc hắn hối hận không kịp. Để tại hạ kêu hắn tới đây rót rượu kính mời Hồ đại ca để tạ tội. Mong đại ca nể mặt tại hạ cùng các vị đây, không chấp trách mà cho hắn vào gặp được chăng?

Hồ Phỉ cười đáp:

– Hai chữ “tạ tội” xin đừng nhắc tới nữa. Y đã là bạn với Chu đại ca thì xin cho vào đây cùng uống một chung.

Chu Thiết Tiêu đứng lên, nói:

– Hồ đại ca là bậc thiếu niên anh hùng, bọn tại hạ thành tâm muốn kết làm bằng hữu. Tên mãng phu kia sinh sự, bọn tại hạ ai nấy đều sai trái, chỉ có Hồ đại ca là bậc đại nhân đại nghĩa chẳng để vào lòng.

Hồ Phỉ nói:

– Việc nhỏ mọn như vậy có đáng vào đâu? Chu đại ca lại quá khách khí rồi.

Chu Thiết Tiêu khom lưng sát đất, nói:

– Tại hạ xin có lời cảm ơn trước.

Tăng Thiết Âu và Tần Nại Chi cũng đứng dậy, chắp tay, nói:

– Bọn tại hạ đa tạ Hồ đại ca.

Hồ Phỉ vội đứng lên đáp lễ.

Chu Thiết Tiêu nói:

– Tiểu đệ đi kêu tên mãng phu kia vào đây tạ tội với đại ca.

Hắn nói rồi trở gót ra ngoài.

Hồ Phỉ và Trình Linh Tố đưa mắt nhìn nhau, nghĩ bụng:

– Tên mãng phu kia tuy hành vi thô lỗ một cục, nhưng Chu Thiết Tiêu đưa lời tạ lỗi quá ư trịnh trọng. Không hiểu đại hán mặt đen kia ở môn phái nào?

Sau một lúc, tiếng bước chân vang lên. Hai người đi vào vườn. Chu Thiết Tiêu dắt tay đại hán cười ha hả nói:

– Mãng phu hỡi mãng phu! Mau kính mời Hồ đại ca ba chung rượu đi! Bọn chúng ta không đánh nhau thì không thành quen biết. Hồ đại ca đã chịu lượng thứ cho ngươi rồi. Đúng thật là bậc đại trượng phu nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy. Hôm nay quả là may mắn cho tên mãng phu nhà ngươi đó.

Hồ Phỉ bỗng đứng phắt dậy, phi thân ra khỏi lương đình, chân trái vừa điểm xuống, người đã lạng tới chặn đường rút lui của người kia. Nét mặt xám xanh, chàng lớn tiếng quát:

– Họ Chu kia! Ngươi bày trò quỷ gì đây? Nếu không đâm chết được tên này thì Hồ Phỉ ta cũng uổng là nam tử hán đỉnh thiên lập địa!

Người tiến vào chính là Phụng Thiên Nam, chưởng môn phái Ngũ Hổ ở Trấn Phật Sơn tỉnh Quảng Đông, kẻ đã sát hại cả nhà Chung A Tứ. Bây giờ Hồ Phi mới hiểu rõ. Nguyên Chu Thiết Tiêu bày ra cạm bẫy này, hắn sai một tên mãng phu gây rối lừa gạt cho Hồ Phỉ nhận lời tha thứ cho mãng phu. Hồ Phỉ nghĩ tới tình trạng toàn gia Chung A Tứ bị thảm tử, mắt đỏ sọc cơ hồ tóe lửa.

Chu Thiết Tiêu nói:

– Hồ đại ca! Tiểu đệ xin nói thẳng với đại ca. Bao nhiêu ruộng nương nhà cửa ở Nghĩa Đường trấn đều là của tên mãng phu này tặng cho. Cả tòa nhà này cùng bao nhiêu đồ đạc cũng do hắn mua đó. Y đã thành khẩn muốn bồi tội cùng đại ca. Bậc đại trượng phu hễ tha được thì tha đi. Hà tất để tâm đến những chuyện oán thù vặt vãnh? Phụng lão đại, hãy mau bồi tội với Hồ đại ca đi!

Hồ Phỉ thấy Phụng Thiên Nam chắp tay toan hành lễ, liền giang hai tay ra, nói:

– Hãy khoan!

Chàng quay lại bảo Trình Linh Tố:

– Nhị muội, nhị muội lại đây!

Trình Linh Tố rảo bước đến đứng bên chàng.

Hồ Phỉ dõng dạc nói:

– Hồ mỗ kết bạn với ai là vì ý khí tương đồng, thị phi phân minh. Chúng ta cùng nhau uống rượu đánh bạc, cái đó phỏng có chi đáng kể. Bọn tiểu nhân kẻ chợ lại chẳng tụ tập cùng uống rượu đánh bạc đó ư? Nhưng bậc đại trượng phu phải lấy nghĩa khí làm đầu. Dùng kim ngân lung lạc Hồ mỗ là coi Hồ mỗ không đáng một đồng.

Tăng Thiết Âu cười nói:

– Hồ đại ca hiểu lầm mất rồi. Phụng lão đại có đưa tặng chút lễ mọn cũng chỉ vì muốn bày tỏ kính ý, chớ khi nào dám xem thường lão huynh?

Hồ Phỉ xua tay đáp:

– Lão họ Phụng này tác oai tác quái ở Quảng Đông, vì mưu tranh đoạt một mảnh đất của nhà hàng xóm mà đưa toàn gia người ta vào chỗ chết một cách thảm thương. Tại hạ với nhà họ Chung chẳng hề có thân tình hay quen biết, nhưng đã nhúng tay vào việc này thì thề cùng tên ác ôn họ Phụng chẳng đội trời chung. Nếu Hồ mỗ có đắc tội với bạn hữu cũng vì thế bất đắc dĩ. Xin các vị miễn thứ cho. Chu đại ca! Xin đại ca thu lại tòa nhà này.

Chàng nói rồi móc văn khế trong bọc áo ra, khẽ vung tay một cái, tờ văn khế nhẹ nhàng bay tới trước mặt Chu Thiết Tiêu. Chu Thiết Tiêu đành đón lấy toan đưa lại cho chàng, nhưng nghĩ bản lĩnh công phu của mình chưa đủ sức để ném tờ khế ước nhẹ nhàng bay trở lại trước mặt Hồ Phỉ.

Bỗng nghe Hồ Phỉ dõng dạc nói:

– Nơi đây là đất kinh sư, dưới chân thiên tử, gã họ Phụng kia lại có không biết bao nhiêu là bạn hữu, nhưng Hồ Phỉ này đêm nay gạt tính mạng sang một bên, quyết phải giết hắn. Ai là bạn hữu của Hồ mỗ thì xin đừng cản trở, còn ai là bạn của họ Phụng thì cứ việc xông cả vào!

Chàng nói rồi chống nạnh hai tay đứng đó. Hồ Phỉ biết rõ trong thành Bắc Kinh có rất nhiều cao thủ. Phụng Thiên Nam dám ló mặt ra là hắn đã có chuẩn bị rồi. Không cần những tay trợ thủ nào khác, nguyên Vương thị huynh đệ, hai lão Chu, Tăng cũng đủ mệt rồi, nhưng vì trong lòng phẫn khái đã đến cực điểm, nên chàng gác sự sống chết ra ngoài.

Chu Thiết Tiêu cười ha hả, nói:

– Hồ đại ca đã không nể mặt thì việc hòa giải giữa chúng ta không thành rồi. Phụng lão đại, mời lão về đi thôi, chúng ta còn uống rượu đánh bạc nữa.

Hồ Phỉ phải khó khăn lắm mới tìm thấy Phụng Thiên Nam, thì dễ gì để hắn thoát thân? Chàng vươn hai tay lên, lạng người về phía hắn.

Chu Thiết Tiêu cau mày nói:

– Thế này thì quá lắm!

Tay trái hắn đưa ngang ra cản trở, tay mặt xoay thành âm chưởng ngấm ngầm phục sẵn chiêu “Đảo duệ cửu ngưu vỹ” toan chụp lấy cổ tay Hồ Phỉ để kéo chàng lại. Hồ Phỉ đã động thủ tức là tính cả bọn trợ quyền của đối phương vào trong rồi, nhưng chàng nghĩ bụng:

– Bọn họ đã giữ lễ với mình rất chu đáo, mình quyết không thể động thủ trước được.

Chàng thấy Chu Thiết Tiêu vươn tay chụp cũng không trả đòn, để lão chụp trúng cổ tay, nắm lấy huyệt “Mạch môn”. Chu Thiết Tiêu khấp khởi mừng thầm, tự nhủ:

– Tần Nại Chi và Phụng lão đại khoa trương bản lãnh thằng lỏi này ghê gớm lắm, nếu sớm biết trình độ gã chỉ có thế, thì hà tất ta phải nhường nhịn gã.

Bụng nghĩ thế, nhưng miệng hắn vẫn nói:

– Không nên động thủ.

Hắn vận kình kéo một cái, bỗng cảm thấy xương tay Hồ Phỉ cứng như sắt, kình lực đẩy ngược lại rất đột ngột và mãnh liệt. Chu Thiết Tiêu chân đứng không vững, lập tức buông tay ra, loạng choạng cúi về phía trước ba bước. Môn cầm nã thủ này là một công phu đắc ý nhất trong Ưng trảo nhạn hành môn. Hồ Phỉ đã dùng chính công phu này để đả bại vị đại sư huynh chưởng môn. Hai người mới trao đổi có một chiêu, chỉ trong nháy mắt Phụng Thiên Nam đã thừa cơ xoay mình chạy ra ngoài. Hồ Phỉ lạng người tới, vung chưởng đánh ra. Phụng Thiên Nam xoay ngược tay lại đón đỡ.

Tăng Thiết Âu la lên:

– Chúng ta đang uống rượu đánh bạc vui vẻ, sao lại làm tổn thương hòa khí?

Hắn đưa năm ngón tay cứng như sắt của bàn tay phải thành thế Ưng trảo chụp vào sau lưng Hồ Phỉ. Tựa hồ như hắn có ý khuyên giải mà thật tình lại hạ sát thủ. Nhưng Hồ Phỉ chỉ quyết tâm tiến đánh Phụng Thiên Nam, còn đối với địch nhân tập kích ở phía sau tựa như không hay biết.

Gã họ Nhiếp không nhịn được la lên:

– Hồ đại ca! Coi chừng!

Nghe “bộp” một tiếng, năm ngón tay của Tăng Thiết Âu đã chụp xuống sau lưng Hồ Phỉ, nhưng chỗ ngón tay chạm vào khác nào đụng phải khối da trâu vừa cứng vừa dày. Da thịt trên lưng chàng rung lên khiến cho năm ngón tay của hắn tuột đi.

Ân Trọng Tường thấy hai lão Chu, Tăng không cản trở được liền vung quyền đánh thẳng vào mặt Hồ Phỉ. Hồ Phỉ cúi đầu xuống, tay trái đập vào sau lưng hắn. Nghe “ối” một tiếng, người Ân Trọng Tường văng đi, xô vào sau lưng Phụng Thiên Nam. Chàng không ngờ Phụng Thiên Nam chỉ gập người xuống là đã tránh khỏi, đầu Ân Trọng Tường liền đập vào tòa giả sơn. Tình thế này không thể không vươn tay ra cứu, nhưng làm thế thì sẽ chậm lại một chút, khó lòng tẩu thoát, Phụng Thiên Nam là một tay giảo quyệt thâm độc, thấy Ân Trọng Tường vì ra tay cứu mình mà mất mạng đến nơi, hắn cũng bỏ mặc, không xem họ Ân sống chết thế nào, lại còn đạp vào vai bạn để mượn đà nhảy vọt lên tường vây.

Bỗng nghe đánh “huỵch” một tiếng, Ân Trọng Tường đụng phải hòn giả sơn, chảy máu đầm đìa, bất tỉnh nhân sự. Mọi người đứng xem đều là những tay hảo thủ làm gì chẳng nhìn ra cử động đê hèn của Phụng Thiên Nam? Vương thị huynh đệ đã định ra tay viện trợ, nhưng vẫn úy kỵ bản lãnh của Hồ Phỉ, chưa biết phải làm sao. Chính lúc đang ngần ngừ, bỗng thấy Phụng Thiên Nam chỉ mong trốn thoát một mình, chẳng lý gì đến tình bằng hữu, họ đưa mắt nhìn nhau, mặt lộ vẻ khinh bỉ, không muốn ra tay nữa.

Hồ Phỉ tính thầm nếu để tên gian tặc trốn ra ngoài tường vây thì chàng càng thêm mất công. Huống chi hắn nhất định còn có viện binh ở bên ngoài. Chàng thấy hai chân hắn sắp đặt xuống đầu tường, liền lập tức tung người nhảy lên cản lại.

Phụng Thiên Nam vừa đứng xuống đầu tường, đột nhiên thấy trước mặt hiện ra một người. Dưới bóng trăng, hắn nhìn rõ đó là Hồ Phỉ, bất giác giật mình kinh hãi không bút nào tả xiết. Hắn xoay tay mặt đưa lưỡi chủy thủ sáng loáng từ dưới lên nhằm đâm vào bụng chàng. Hồ Phỉ vội tung chân trái đá trúng cổ tay Phụng Thiên Nam. Lưỡi chủy thủ tuột tay bay đi, rớt xuống ngoài tường. Phụng Thiên Nam ra tay cũng tàn độc dị thường. Hắn đứng trên đầu tường chỉ cách Hồ Phỉ chừng hơn thước, lưỡi chủy thủ đâm sểnh, hắn liền vung tả quyền đánh tới. Hồ Phỉ không rụt tay về, phưỡn ngực ra, vận nội kình hứng lấy thoi quyền. Binh một tiếng! Phụng Thiên Nam bị quyền của mình chấn động phải lùi lại, chân đứng không vững, ngã khỏi tường vây.

Hồ Phỉ nhảy xuống, vung chân ra đạp, nhưng Phụng Thiên Nam lăn mình tránh khỏi. Phụng Thiên Nam lại vận kình lực vào hai chân nhảy vọt lên đầu tường. Lần này Hồ Phỉ không để hắn kịp đứng xuống, hai tay ra chiêu “Nhất hạc xung thiên” vọt lên, cao hơn Phụng Thiên Nam mấy thước. Lúc hạ xuống, chàng cưỡi trúng vào đầu vai đối phương, hai chân liền cặp chặt lấy cổ hắn.

Phụng Thiên Nam bị nghẹn thở, tự biết không còn cách nào thoát được đành nhắm mắt chờ chết.

Hồ Phỉ quát:

– Gian tặc! Bữa nay ngươi phải đền tội

Chàng giơ tay lên đập xuống thiên linh cái đối phương.


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.

 Bình luận