Liên thành quyết

Hồi 04: Không Tâm Thái

trước
tiếp

Đinh Điển liếc nhìn ba người kia, hỏi:

– Huynh đệ, bốn chữ số huynh mới đọc, đệ nhớ kỹ chưa?

Địch Vân thấy ba kẻ địch nhân đã đến gần, vây thành một hình vòng cung, trong đó một người cầm đao, một người cầm kiếm, còn một người tuy là tay không nhưng vẻ mặt u ám, thần sắc trông rất dễ sợ. Địch Vân chăm chú nhìn, chưa đáp câu hỏi của Đinh Điển.

Đinh Điển lớn tiếng:

– Đệ nhớ kỹ chưa?

Địch Vân lặng người, nói:

– Chữ thứ nhất là…

Cậu ta vốn nói ra chữ “bốn” nhưng nghĩ ngay: “Nếu mình nói ra, há chẳng để kẻ địch nghe được sao?” Bèn đặt tay trái ra sau lưng, xòe bốn ngón tay chỉ xuống. Đinh Điển nói:

– Tốt!

Tên sử đao cười nhạt, nói:

– Họ Đinh kia, ngươi tự coi là nam tử hán, sao lại đến nỗi này? Lại còn rên rỉ như đàn bà con nít. Mau ngoan ngoãn về với anh em ta, khỏi thương tổn hòa khí.

Tên sử kiếm lại nói:

– Địch đại ca, đã lâu không gặp, huynh khỏe chứ? Ở trong tù chắc là thoải mái lắm nhỉ?

Địch Vân thoáng ngơ ngác, nghe giọng nói quen quen, chú ý nhìn, lập tức nhớ ra, người này là Chu Kỳ, đệ tử thứ hai của Vạn Chấn Sơn, cách biệt lâu năm, nay y đã lún phún ria mép, lại thêm áo quần sang trọng nên nhất thời không nhận ra. Địch Vân mấy năm qua bị hãm hại thê thảm, những nỗi bi phẫn tích tụ bấy lâu nay sôi lên trong tim, mặt đỏ bừng, thét:

– Tưởng là ai, hóa ra là Chu… Chu nhị ca!

Địch Vân vốn định gọi thẳng tên y nhưng rốt cuộc, sau chữ “Chu” lại thêm hai chữ “nhị ca”.

Đinh Điển đoán được ý nghĩ ấy, hét lên:

– Được!

Trong khoảnh khấc quyết đấu sinh tử, Địch Vân có thể ức chế được cơn phẫn nộ, gọi một lời “Chu nhị ca”, cậu ta đã không còn là một kẻ bộp chộp nữa. Đinh Điển nói:

– Vị Chu nhị lang này hẳn là cao đồ của Vạn lão gia. Được lắm, được lắm, ngươi đến làm thuộc hạ của Lăng tri phủ từ lúc nào vậy? Địch huynh đệ, huynh giới thiệu cho đệ một chút. Vị này là Mã Đại Minh trong “Vạn thắng đao môn”. Còn vị kia là hảo thủ ngoại gia của Thái Hàng môn ở Sơn Tây, gọi là “Song đao” Cảnh Thiên Bá. Nghe nói đôi bàn tay sắt của ông ta sắc bén như dao, vì thế mà ngoại hiệu là “Song đao”, kỳ thực ông ta không cần dùng binh khí.

Địch Vân hỏi:

– Võ công của hai vị này thế nào?

Đinh Điển nói:

– Hảo thủ hạng ba, nếu muốn vươn lên hạng hai thì suốt đời cũng không hi vọng.

Địch Vân hỏi:

– Vì sao?

Đinh Điển nói:

– Không hạp, tư chất đã kém, lại không có danh sư truyền thụ.

Hai người một hỏi một đáp, như bên cạnh chẳng có ai. Cảnh Thiên Bá không nhịn được, hét:

– Mẹ kiếp, chết đến nơi còn khua môi múa mép, nếm một đao của ta!

Một đao mà y nói kỳ thực là một chưởng, tiếng thét chưa dứt, chưởng phải đã chém tới.

Đinh Điển sau khi trúng độc, khó lòng vận khí sử kình, không dám đối chưởng, nghiêng mình tránh. Chưởng phải của Cảnh Thiên Bá rơi vào khoảng không, chưởng trái ập tới. Đinh Điển biết đây là “biến thế chưởng” vội lật bàn tay hóa giải. Nhưng một chưởng sắp phóng ra, kình lực hoàn toàn không có, “phách” một tiếng, dưới nách đã bị chưởng phải của Cảnh Thiên Bá đánh trúng. Đinh Điển loạng choạng, “ọe” một tiếng, thổ ra một búng máu tươi. Cảnh Thiên Bá cười:

– Thế nào? Ta hạng ba, ngươi hạng mấy?

Đinh Điển hít một hơi, bỗng cảm thấy nội tức lưu thông. Thì ra chất độc “kim ba tuần hoa” thấm vào huyết quản khiến máu dần dần đông lại, càng lúc càng chảy chậm lại. Chàng vừa thổ ra một búng máu, nội thương tuy không nhẹ bớt, nhưng độc tính tạm thời giảm đi một chút. Chàng thoáng mừng, lập tức bước lên nhằm Cảnh Thiên Bá phóng ra một chưởng. Cảnh Thiên Bá giơ chưởng ngăn lại. Tay trái Đinh Điển quay một vòng tròn, “phách” một tiếng vả mạnh vào miệng y, tiếp đó tay phải lại khoanh một vòng tròn, lật chưởng đánh vào đỉnh đầu Cảnh Thiên Bá. Cảnh Thiên Bá kêu lên một tiếng:

– Ái chà!

Vội nhảy lui phía sau. Chưởng phải của Đinh Điển vung ra, đánh trúng ngực y. Cảnh Thiên Bá lại: “Ái chà!”, lùi thêm hai bước.

Ba chưởng này của Đinh Điển nhờ sự trợ giúp của “Thần chiếu công”, chưởng nào cũng có thể làm mất mạng cao thủ hạng nhất. Cảnh Thiên Bá chỉ có ngoại công là lợi hại, nội công thì tầm thường. Cảnh Thiên Bá bị liền ba chưởng mà vẫn chưa ngã gục. Đinh Điển tự biết cái chết đã đến gần, tuy tính chàng vốn khoáng đạt, lại đã quyết tuẫn tình, nhưng khoảnh khắc này nỗi thống khổ của người anh hùng mạt lộ khiến chàng cảm thấy bi thương.

Cảnh Thiên Bá trúng liền ba chưởng, cả sợ thất sắc, cảm thấy trên mặt, đỉnh đầu và ngực đau ê ẩm, nghĩ bụng ba nơi đều là chỗ chí mạng, không biết thương thế ra sao, không nén được sợ hãi.

Mã Đại Minh liếc mắt nhìn Chu Kỳ, nói:

– Chu huynh đệ, sánh vai tiến lên!

Chu Kỳ nói:

– Phải!

Y tự biết không phải là đối thủ của Địch Vân, nhưng nghĩ trong tay mình có kiếm, mà đối phương thì xích thủ không quyền, lại thêm mấy ngón bàn tay phải đã bị chặt đứt, xương bả vai đã bị xuyên thủng dù võ công có cao cũng không sử dụng được. Thế là y hươi kiếm nhằm Địch Vân mà đâm tới.

Đinh Điển biết Địch Vân chưa luyện xong “Thần chiếu công”, lúc này võ công kém xa trước khi vào tù, nếu tay không đối phó với Chu Kỳ thì chỉ chết uổng mạng. Chàng bèn chao mình một cái, tay trái đoạt lấy trường kiếm của Chu Kỳ. Chiêu này thế đến rất nhanh, chiêu thức đặc biệt lạ, Chu Kỳ chưa kịp nhận ra, ba ngón tay trái của Đinh Điển đã nắm lấy mạch môn trên tay phải Chu Kỳ. Chu Kỳ giật mình, nghĩ rằng chắc phải mất kiếm, tính mạng đi đứt. Nào ngờ, huyệt đạo trên mạch môn vẫn không bị khống chế, liền giằng tay một cái, trường kiếm xoay lại, đâm nhanh vào bên trái ngực Đinh Điển. Đinh Điển nghiêng mình tránh, thở dài một tiếng.

Mã Đại Minh thấy Đinh Điển đánh Cảnh Thiên Bá và Chu Kỳ, hai lần đều sắp chiếm thượng phong nhưng cả hai lần đều không thảng, suy nghĩ một chút chợt hiểu ra lý do: “Lăng tri phủ bảo là Đinh Điển đã bị trúng chất kịch độc, hẳn là độc tính phát tác, công lực đã giảm sút.” Cảnh Thiên Bá thấy Đinh Điển đoạt kiếm không được cũng biết là nội công của Đinh Điển không còn, nghĩ bụng: “Tay họ Đinh này chiêu số lợi hại, nhưng cọp xuống đồng bằng… phì, mẹ nó, cọp xuống đồng bàng bị chó khinh, mình ví thằng tù này với cọp, chẳng phải mình là chó sao?” Hai tên cùng một ý nghĩ, đồng thời nhằm Đinh Điển xông tới.

Địch Vân vọt lên, chặn lại. Đinh Điển nắm vai Địch Vân đẩy ra, hét lên:

– Địch huynh đệ, lui ra.

Tay trái Đinh Điển vươn ra, đã chộp trúng yết hầu Mã Đại Minh. Cú chộp này chỉ cần có nội công tầm thường, ngón tay đã chụp được bộ vị quan trọng như thế tất phải lấy mạng đối phương. Mã Đại Minh sợ hết hồn, bèn lăn ra, tránh thoát.

Đinh Điển than thầm, nội lực càng lúc càng yếu, chỉ nhờ vào chiêu số cao hơn kẻ địch nhiều nên còn có thể cầm cự được chốc lát, nếu không kịp đọc “Liên thành quyết” cho Địch Vân thì bí mật trọng đại này từ đây thất truyền, thật đáng tiếc. Chàng nói:

– Địch huynh đệ, nghe lời huynh. Đệ hãy nấp sau huynh, không cần để ý đến bọn này, chỉ cần nhớ khẩu quyết của huynh. Việc này rất quan trọng, chúng ta thế nào cũng phải thực hiện. Đinh đại ca của đệ bị rơi vào cảnh ngộ hôm nay cũng là vì vậy.

Địch Vân nói:

– Vâng!

Rồi nấp vào sau Đinh Điển. Đinh Điển nói:

– Chữ thứ năm là “mười tám”.

Mã Đại Minh biết Lăng tri phủ hạ lệnh lùng sục đuổi bắt Đinh Điển chủ yếu là để truy tìm bằng được một bí mật võ công, còn Chu Kỳ đến làm thuộc hạ tay sai cho Lăng Thoái Tư chẳng phải vì danh cũng chẳng phải vì lợi mà là theo lệnh của sư phụ ngầm thăm dò “Liên thành quyết.” Lúc này hai người nghe Đinh Điển nói ra chữ thứ năm là “mười tám” trong bụng đều giật thót, chú ý nhớ kỹ. Chỉ nghe Đinh Điển lại nói:

– Chữ thứ sáu là “bảy”.

Ba người Mã Đại Minh, Chu Kỳ và Địch Vân lại cùng thầm chú ý ghi nhớ.

Cảnh Thiên Bá lại chỉ nhận lệnh đi bắt trọng phạm, không biết gì khác, chỉ thấy Đinh Điển niệm niệm mấy từ, “mười bảy”, “mười tám” gì đó, Mã Đại Minh và Chu Kỳ liền lẩm nhẩm đọc theo “mười bảy”, “mười tám”, y cho rằng Đinh Điển đang niệm chú mê hoặc người ta, bèn hét lên:

– Ấy, đừng nghe hắn nói!

Rồi vung chưởng đánh vào Đinh Điển. Nhưng vì sợ đối thủ lợi hại nên đánh xong một chưởng không dám tiến thêm, lập tức lùi lại.

Đinh Điển đứng không vững, ngã sấp xuống. Mã Đại Minh thừa cơ vung đao chém vào vai trái Đinh Điển. Đinh Điển cảm thấy trước mắt tối đen, không biết đường né tránh. Địch Vân cả sợ, không biết giải cứu thế nào bèn vọt lên, húc đầu vào bụng Mã Đại Minh.

Cơn choáng qua đi, Đinh Điển mở mắt ra, thấy Địch Vân và Mã Đại Minh xoắn chặt lấy nhau, Chu Kỳ vung kiếm đang định đâm vào lưng Địch Vân, chàng bèn vung tay trái, hai ngón tay nhằm vào hai mắt Chu Kỳ. Đinh Điển biết khí lực mình đã sắp hết, chỉ nhảm vào chỗ thật mềm yếu như thế thì mới có thể đẩy lui được kẻ địch.

Chu Kỳ không rảnh tay để đâm Địch Vân, vội né sang trái, chính lúc ấy Mã Đại Minh đã nện một cán đao lên đầu Địch Vân, Địch Vân ngã lăn ra đất. Đinh Điển kêu lên:

– Địch huynh đệ, nhớ lấy chữ thứ bảy là…

Bỗng thấy trong ngực trống rỗng, một chưởng của Cảnh Thiên Bá lại đánh tới.

Đinh Điển lắc lắc đầu, bạch quang loang loáng trước mắt, Mã Đại Minh và Chu Kỳ cùng tấn công, Đinh Điển chao mình một cái, đón lấy một đao một kiếm đang đâm tới, “phách phách” hai tiếng, đao kiếm đồng thời đâm trúng người chàng.

Địch Vân kêu to một tiếng, nhảy tới cứu viện. Đinh Điển thừa lúc máu tươi phun ra, độc tính giảm đi một chút vận kình vào hai bàn tay, một chưởng đánh vào thái dương bên phải Mã Đại Minh, một chưởng đánh vào Chu Kỳ.

Chưởng này vốn chắc chắn phải đánh trúng Chu Kỳ, không ngờ Cảnh Thiên Bá lại nhảy vào, thế lao cực mạnh, “cách” một tiếng ngực y hứng trọn phát chưởng của Đinh Điển, xương sườn gãy hết, ngất ngay lập tức.

Hai phát chưởng của Đinh Điển đã dùng hết tinh lực còn lại. Mã Đại Minh chết ngay tại chỗ. Cảnh Thiên Bá thoi thóp, mạng cũng chỉ còn trong khoảnh khắc. Chỉ có Chu Kỳ không bị thương, tay phải nắm vững chuôi kiếm, định rút trường kiếm đang cắm trên người Đinh Điển ra để đâm Địch Vân. Đinh Điển vươn người lên, hai tay ôm chặt ngang lưng Chu Kỳ, kêu to:

– Địch huynh đệ, chạy mau, chạy mau!

Đinh Điển vươn mình lên khiến lưỡi kiếm cắm sâu thêm vào người mấy tấc.

Địch Vân đời nào chịu chạy trốn, nhảy phóc lên lưng Chu Kỳ, bóp chặt yết hầu y, thét lớn:

– Buông Đinh đại ca ra!

Địch Vân không biết thực ra là Đinh Điển túm chặt lấy đối thủ chứ không phải là Chu Kỳ không buông Đinh đại ca của mình ra.

Đinh Điển tự cảm thấy khí lực của mình dần dần suy kiệt, sắp buông lỏng kẻ địch, nếu để Chu Kỳ rút được trường kiếm ra, thoát khỏi mình, Địch Vân sẽ mất mạng, bèn hét lớn:

– Địch huynh đệ, chạy mau! Đừng quan tâm đến ta, ta không sống được nữa rồi!

Địch Vân kêu lên:

– Nếu chết thì cùng chết!

Bèn ráng hết sức bóp chặt cổ họng Chu Kỳ, nhưng sau khi bị xuyên thủng xương bả vai thì gân xương trên tay Địch Vân đều bị tổn thương quá nặng không còn sức mạnh nữa, không thể bóp chết kẻ địch được.

Đinh Điển run giọng nói:

– Hảo huynh đệ, đệ nghĩa khí sâu nặng… không uổng cho ta đã kết giao bằng hữu… với đệ… Kiếm quyết… đáng tiếc không nói hết được. Huynh… huynh rất sung sướng… xuân thủy bích ba… bồn hoa cúc màu lục… ôi! Nàng đặt bên cửa sổ, đệ xem… đẹp biết bao… hoa cúc.

Giọng nối nhỏ dần, mặt ngời sáng, hai tay giữ Chu Kỳ dần dần buông ra.

Chu Kỳ gắng sức, rút trường kiếm ra khỏi người Đinh Điển, lưỡi kiếm toàn máu tươi. Chu Kỳ vội vàng quay mình, mặt đối mặt với Địch Vân, khoảng cách rất gần, y cười nanh ác, vận kình đâm mạnh mũi kiếm vào ngực Địch Vân.

Địch Vân kêu lớn:

– Đinh đại ca, Đinh đại ca!

Bỗng trước ngực cảm thấy đau nhói, liếc nhìn xuống, thấy trường kiếm của Chu Kỳ đã đâm vào ngực mình, bên tai chỉ nghe thấy tiếng cười nanh ác của Chu Kỳ “Ha ha, ha ha!”

Trong chớp mắt, trong óc Địch Vân vùn vụt hiện lên vô số việc thời dĩ vãng – học võ trong nhà sư phụ, cùng Thích sư muội thân thiết không rời, chịu oan khuất trong nhà Vạn Chấn Sơn, năm năm khổ sở trong tù… ôi, bao nhiêu là chuyện cùng cuộn lên trong lòng, bi phẫn tắc nghẹn cả lồng ngực. Địch Vân kêu lớn:

– Ta… ta… và ngươi đồng quy ư tận.

Rồi vươn tay ôm chặt lấy Chu Kỳ.

Địch Vân luyện “Thần chiếu kinh” tuy chưa thành công nhưng cũng đã có hai năm căn cơ, lúc này biết mình sấp chết, khí lực toàn thân đều ngưng tụ ở hai tay, ôm chặt kẻ địch như một cái cùm sắt. Chu Kỳ cảm thấy nghẹt thở, gắng sức giãy giụa, nhưng không cách gì thoát thân.

Địch Vân cảm thấy trước ngực mỗi lúc một đau, cũng không còn rảnh để suy nghĩ, hai tay chỉ gắng hết sức xiết chặt lấy Chu Kỳ. Phải chăng cậu muốn xiết chặt cho chết kẻ địch, cũng không biết nữa, chỉ không thể nào buông tay. Nhưng trường kiếm không đâm sâu vào thêm nữa, tựa như gặp phải một lực cản không thể nào xuyên qua, thân kiếm dần dần cong thành vòng cung, cong dần, cong dần. Chu Kỳ vừa sợ hãi vừa ngạc nhiên, tay phải càng gắng sức đâm mạnh, muốn dùng trường kiếm xâu qua người Địch Vân nhưng không thể đâm vào được nữa.

Địch Vân đỏ ngầu hai mắt, chiếu tia mắt vào mặt Chu Kỳ, mới đầu thấy nét mặt y toàn vẻ đắc ý và tàn nhẫn nhưng dần biến thành ngạc nhiên và kinh hãi, lại qua một lúc, sự sợ hãi càng ngày càng tăng. Trường kiếm của Chu Kỳ rõ ràng đã đâm trúng Địch Vân nhưng chỉ khiến da thịt lõm vào một chút, không thể đâm sâu thêm nữa. Y ba lần vận nội kình vào tay phải vẫn không thể đẩy mũi kiếm sâu thêm, hoảng sợ, y không nghĩ đến chuyện sát thương Địch Vân nữa chỉ muốn thoát chân chạy trốn, nhưng bị Địch Vân ôm chặt cứng, không sao giãy ra được. Chu Kỳ cảm thấy tay phải của mình dần dần bị ép, chuôi kiếm sát tới ngực mình mũi kiếm cũng bị oằn, thân kiếm cong lại thành hình vòng cung. Trong hoảng hốt, chỉ nghe “cách” một tiếng, thân kiếm gãy đôi. Chu Kỳ kêu to một tiếng, ngã ngửa ra phía sau, hai nửa kiếm gãy sắc bén cùng đâm vào bụng y.

Chu Kỳ ngả xuống, Địch Vân cũng ngã nhào theo, đè lên người y, hai tay vẫn ôm chặt không rời. Địch Vân nghe thấy mùi máu tanh nồng nặc, thấy nước mắt chảy ra từ hai mắt Chu Kỳ hòa với máu từ trong miệng ộc ra, đầu ngoẹo sang một bên, không hề động đậy.

Địch Vân lấy làm lạ, còn sợ y giả chết, không dám buông hai tay ra, rồi cảm thấy trước ngực mình hết đau, lại thấy miệng Chu Kỳ ộc máu ra không ngừng. Địch Vân bàng hoàng buông tay, đứng dậy, chỉ thấy hai nửa kiếm gãy đâm vào trong bụng Chu Kỳ chỉ còn chuôi kiếm và mũi kiếm lộ ra ngoài. Khi cúi đầu nhìn xuống trước ngực mình, thấy áo ngoài bị rách một đường khoảng hơn một tấc, bỗng tỉnh ngộ – thì ra tấm “áo tằm đen” mặc sát người đã cứu mạng mình và nhân đó mà giết cả kẻ thù.

Địch Vân vừa định thần, lập tức quay mình lao đến bên Đinh Điển, kêu lớn:

– Đinh đại ca, Đinh đại ca. Huynh… huynh… sao rồi?

Đinh Điển từ từ mở mắt nhìn Địch Vân. Mắt anh không còn thần khí nữa, như nhìn mà không thấy hoặc không nhận ra là ai. Địch Vân kêu lên:

– Địch đại ca, đệ… đệ thế nào cũng phải cứu huynh.

Đinh Điển thều thào nói:

– Đáng tiếc… đáng tiếc kiếm quyết, từ nay… từ nay thất truyền rồi, hợp táng… Sương Hoa…

Địch Vân lớn tiếng, nói:

– Huynh yên lòng, đệ nhớ… nhất định hợp táng cho huynh và Lăng tiểu thư, thực hiện tâm nguyện của hai người.

Mi mắt Đinh Điển dần dần khép lại, hơi thở yếu ớt, nhưng đôi môi vẫn mấp máy như muốn nói. Địch Vân ghé tai đến bên môi, mơ hồ nghe thấy: “Chữ thứ mười một…” nhưng rồi không nghe thấy gì nữa. Địch Vân cảm thấy không còn hơi thở nữa, đưa tay sờ lên ngực, trái tim chàng đã ngừng đập.

Địch Vân đã sớm biết Đinh Điển không thể sống nổi, nhưng khoảnh khắc này mới thực sự nhận thấy người anh mấy năm nay thân như ruột thịt đã bỏ mình mà đi. Địch Vân quỳ bên Đinh Điển, gắng sức hà hơi vào miệng chàng, lòng không ngừng cầu nguyện: “Ông trời ơi, ông trời ơi, hãy cho Đinh đại ca sống lại, tôi thà trở lại trong tù, mãi mãi không ra nữa. Tôi thà không báo thù, thà suốt đời này chịu sự hành hạ ức hiếp của bọn đệ tử Vạn môn, ông trời ơi, ngàn vạn lần xin hãy cho Đinh đại ca sống lại…”

Hai tay Địch Vân ôm chặt Đinh Điển nhưng cảm thấy da thịt Đinh Điển càng lúc càng cứng đờ, càng lúc càng lạnh giá, biết rằng những lời cầu nguyện của mình đều rơi vào khoảng trống. Trong khoảnh khắc cảm thấy vô cùng hiu quạnh, vô cùng cô đơn, cảm thấy thế giới tự do tự tại bên ngoài so với phòng giam chật chội càng đáng sợ hơn nhiều, từ nay về sau càng buồn thảm, thà cùng Đinh Điển trở lại nhà tù.

Địch Vân ôm ngang thi thể của Đinh Điển, đứng dậy, bỗng những nỗi thống khổ bi thương vô hạn vô cùng cùng ập đến trái tim.

Địch Vân cất tiếng khóc vang, gào khóc vang không còn sợ bất kỳ điều gì nữa. Cậu hoàn toàn không nghĩ rằng tiếng khóc sẽ khiến bọn săn lùng tìm đến, cũng không nghĩ rằng nam nhi mà còn khóc lóc là đáng xấu hổ. Nỗi bi thương trong lòng không sao kiềm chế nổi.

Khi nước mắt dần cạn, tiếng kêu khóc chỉ còn nghẹn ngào thổn thức, nỗi bi thương không sao nén nổi trong lòng vẫn là nỗi bi thương không sao nén nổi, nhưng khi đầu óc tỉnh táo ra một chút, Địch Vân mới bất đầu suy nghĩ: “Thi thể của Đinh đại ca phải làm sao đây? Mình làm sao để đem Đinh đại ca đến chôn chung một mồ với Lăng cô nương?” Lúc này không có một ý nghĩ nào khác, đây là đại sự duy nhất trên đời.

Bỗng, có tiếng vó ngựa từ xa vọng đến, mỗi lúc một gần, có đến hơn mười kỵ binh. Nghe có tiếng người hô lớn:

– Mã đại gia, Cảnh đại gia, Chu nhị gia, có thấy tù trốn không?

Mười kỵ binh đã đến ngoài phế viên, cùng dừng lại. Có người kêu lên:

– Vào đây xem xem!

Lại có người nói:

– Chúng không nấp ở đây đâu.

Một người hỏi:

– Sao biết được?

“Bốp” một tiếng, người kia đã nhảy phắt xuống ngựa.

Địch Vân không suy nghĩ gì nữa, ôm thi thể Đinh Điển, theo cửa bên vườn chạy ra, vừa mới ra khỏi cửa, đã nghe mấy người kêu lên kinh hãi, phát hiện ra thi thể của ba tên Mã Đại Minh, Cảnh Thiên Bá và Chu Kỳ.

* * *

Địch Vân chạy cuống cuồng trong thành Giang Lăng. Biết rằng cứ ôm thi thể của Đinh Điển thế này thì vừa không thể chạy nhanh vừa dễ bị người ta phát hiện bất cứ lúc nào. Nhưng thà bị bắt lại, tống giam, thà bị cực hình, chứ quyết không bỏ Đinh đại ca.

Chạy được mấy chục trượng, thấy có một cánh cửa nhỏ khép hờ bèn xông vào, trở chân đá cánh cửa khép lại. Chỉ thấy bên trong là một vườn rau lớn trồng đủ các thứ – củ cải, rau cải, cà, đậu đũa, khoai lang… Địch Vân từ nhỏ đã quen với nghề nông, năm năm xa cách các thứ rau này, bây giờ chợt gặp lại, trong lòng cảm thấy ấm áp và thân thiết. Nhìn bốn phía thấy ở góc đông bắc là một kho củi, qua cửa hông thấy chất đầy những bó củi, và rơm cỏ khô. Địch Vân cúi mình vẹt mấy cây sả, ôm thi thể Đinh Điển đi vào kho củi.

Nghiêng tai nghe ngóng, bốn phía không có tiếng người, bèn khuân mấy bó củi, rơm cỏ trải ra đặt Đinh đại ca lên, rồi nhẹ nhàng dùng rơm cỏ phủ lên. Trong lòng vẫn còn hi vọng: “Biết đâu Đinh đại ca bỗng tỉnh lại.”

Tước vội vỏ củ cải, cắn một miếng lớn, nước củ cải sống ngọt ngọt cay cay chảy vào cổ họng. Hơn năm năm chưa được nếm, nhớ lại ngày ở làng quê Hồ Nam không biết bao nhiêu lần cùng sư muội Thích Phương nhổ củ cải, đi thong thả trên đồng, tước củ cải nhai rau ráu…

Địch Vân ăn hết củ này sang củ khác, mắt rưng rưng, bỗng mơ hồ nghe thấy tiếng gọi. Địch Vân chấn động toàn thân, nửa củ cải trong tay rơi xuống đất. Trên củ cải trắng ngần dính đầy đất cát, cỏ và rơm vụn.

Địch Vân nghe thấy thanh âm trong trẻo dịu dàng kêu gọi:

– Không Tâm Thái, Không Tâm Thái, ở đâu rồi?

Lập tức muốn lớn tiếng trả lời “Huynh ở đây!”

Nhưng tiếng “huynh” mới dâng lên nửa chừng đã tắc nghẹn, đưa tay lên bịt miệng, toàn thân run rẩy.

Bởi vì “Không Tâm Thái” là ngoại hiệu của Địch Vân, trên đời này chỉ có hai người là Địch Vân và sư muội Thích Phương biết ngoại hiệu này, đến cả sư phụ cũng không biết. Thích Phương bảo Địch Vân không có đầu óc, thật thà đến nỗi chẳng có một chút tâm sự gì, ngoài luyện võ ra chẳng hiểu việc gì cả, bảo rằng bụng dạ của sư ca giống như rau muống (không tâm thái) hoàn toàn trống không.

Địch Vân chỉ cười, không biện bạch, rất thích sư muội gọi mình là “Không Tâm Thái, Không Tâm Thái”. Mỗi lần nghe cái tên “Không Tâm Thái” trong lòng lại cảm thấy ngọt ngào êm dịu không sao nói được thành lời. Bởi vì khi có người thứ ba, sư muội không bao giờ gọi như vậy. Nếu gọi “Không Tâm Thái” tức là chỉ có hai người với nhau.

Khi chỉ có hai người với nhau, cô ấy vui vẻ cũng được, tức giận cũng được, Địch Vân chỉ cảm thấy sung sướng không sao tả xiết.

Địch Vân là một chàng ngốc không biết đường ăn nói, có khi làm cho Thích Phương tức giận, nhưng mấy tiếng “Không Tâm Thái, Không Tâm Thái” vang lên là khiến cho cả hai đều bật cười.

Nhớ lại lần Bốc Viên đến nhà, sư muội làm thức ăn đãi khách, có gà có cá, có củ cải đậu phụ, có cả một đĩa rau muống lớn. Tối ấy Bốc Viên và sư phụ uống rượu, đàm luận chuyện võ lâm Lưỡng Hồ, Địch Vân ngẩn ra nghe, tình cờ bắt gặp ánh mắt của Thích Phương, chỉ thấy cô ấy gắp một đũa rau muống đưa lên môi mà không đưa vào miệng. Đôi môi mềm mại hồng hồng của cô ấy nhè nhẹ chạm vào mấy cọng rau muống, ánh mất đầy nét cười. Không phải cô ấy ăn rau mà là đang hôn những ngọn rau muống. Lúc ấy, Địch Vân chỉ biết rằng: “Sư muội cười mình là “Không Tâm Thái (rau rỗng ruột).”

Giờ đây trong kho củi, linh quang lóe lên trong óc, bỗng nhận ra hàm ý hôn những ngọn rau muống của sư muội lúc ấy.

Tiếng gọi “Không Tâm Thái” lúc này rõ ràng là giọng của sư muội Thích Phương, không thể nhầm lẫn được.

– Không Tâm Thái, Không Tâm Thái đâu rồi?

Tiếng gọi ấy dịu dàng biết bao, ngọt ngào êm ái biết bao. Không, không phải chỉ như thế, ngày còn ở làng quê với sư muội, trong tiếng gọi của sư muội có tình thân mến, có tình thiết tha nhưng cũng có ý mặc kệ, có ý giận hờn trách móc, còn trong mấy tiếng “Không Tâm Thái” hôm nay chỉ có tình thương yêu thảm thiết.

“Cô ấy biết nỗi oan uổng khổ sở của mình mấy năm nay, càng thương mình hơn, phải thế không nhỉ?”

Địch Vân không dám tin ở tai mình. “Mình đang mơ. Sư muội làm sao biết mà đến đây? Cô ấy đã lấy Vạn Khuê, còn tìm mình làm gì?”

Nhưng, âm thanh ấy lại vang lên, lần này lại gần hơn một chút:

– Không Tâm Thái, Không Tâm Thái nấp ở đâu vậy?

Tiếng gọi vui vẻ và thương yêu biết bao.

Địch Vân cảm thấy từng mạch máu đều căng phồng lên, không nén được thở gấp, hai lòng bàn tay đầy mồ hôi, lặng lẽ đứng lên, nấp sau đống rơm cỏ, nhìn qua khe cửa sổ chỉ thấy bóng lưng một người phụ nữ đang quay về phía mình, dáng đang tìm kiếm. Đúng rồi, đôi vai gầy, tấm lưng thon, dáng người mảnh mai, chính là sư muội.

Chỉ nghe thấy cô ấy cười gọi:

– Không Tâm Thái, Không Tâm Thái còn chưa ra à?

Đột nhiên, cô quay người lại.

Địch Vân hoa mắt, đầu cảm thấy choáng váng, trước mặt chính là Thích Phương. Đôi mắt đen thăm thảm, đôi cánh mũi nhỏ nhắn hơi hếch, mặt có trắng hơn một chút, không hồng hào như dạo ở Hồ Nam, nhưng rõ ràng là sư muội, rõ ràng là sư muội muôn vạn lần nhung nhớ, muôn vạn lần thương yêu, muôn vạn lần thầm nhắc trong những tháng năm tù tội.

Nét mặt cô ấy vẫn cười cười, gọi:

– Không Tâm Thái, Không Tâm Thái còn chưa ra à?

Nghe tiếng gọi ân cần thắm thiết gọi mình, mừng đến phát điên, Địch Vân muốn bước ra gặp sư muội muôn vàn mong nhớ, nhưng vừa bước được một bước chợt giật mình nghĩ ra: “Đinh đại ca thường bảo mình quá thật thà trung hậu, rất dễ tin người. Sư muội đã lấy con trai nhà họ Vạn, hôm nay Chu Kỳ chết dưới tay mình, biết đâu cô ấy không cố ý lừa mình bước ra?” Nghĩ đến đó, lập tức dừng bước.

Nghe thấy Thích Phương lại gọi mấy tiếng “Không Tâm Thái, Không Tâm Thái”, tâm hồn Địch Vân lại dao động, nghĩ ngơi: “Cô ấy gọi mình như thế, tình ý chân thành sâu nặng, quyết không phải là giả. Hơn nữa, nếu cô ấy muốn lấy mạng mình thì mình chết dưới tay cô ấy cũng được.” Trong lòng chua xót, bỗng ý nghĩ tự ti, tự coi rẻ mình lại dấy lên, lại một lần nữa dợm bước ra.

Bỗng nghe thấy tiếng cười của một đứa con gái nhỏ trong trẻo vang lên, rồi tiếp theo là tiếng nói:

– Mẹ, mẹ, con ở đây!

Địch Vân giật nẩy người, lại qua khe cửa sổ nhìn ra ngoài, thấy một đứa bé gái mặc áo đỏ từ mé bên đông lẫm chẫm chạy ra. Nó còn rất nhỏ, chạy còn chưa vững. Chỉ nghe thấy tiếng nói mang giọng cười dịu dàng của Thích Phương:

– Không Tâm Thái, con trốn ở đâu? Mẹ tìm mãi không thấy.

Con bé đắc ý nói:

– Không Tâm Thái ở vườn hoa! Không Tâm Thái xem kiến!

Tai Địch Vân ù lên, trái tim như bị ai đấm mạnh. Lẽ nào sư muội đã sinh con gái? Lẽ nào con gái của cô ấy cũng tên là “Không Tâm Thái”? Cô ấy gọi “Không Tâm Thái” là gọi con gái chứ không phải gọi mình? Lẽ nào mình đã nhầm bước vào nhà Vạn Chấn Sơn?

Mấy năm nay trong đáy lòng Địch Vân vẫn thầm hy vọng có một ngày nào đó chợt phát hiện thật ra sư muội không lấy Vạn Khuê, lời Thẩm Thành nói hôm ấy chỉ là nói láo. Nhưng lúc này, rốt cuộc đã thấy tận mắt, nghe tận tai có một bé gái gọi cô ấy là mẹ.

Nước mắt trào ra, mơ hồ nhìn qua khe cửa chỉ thấy Thích Phương ngồi xuống, dang hai tay, bé gái vừa cười vừa nhào vào lòng mẹ. Thích Phương hôn liền mấy cái lên má con gái, dịu dàng cười nói:

– Không Tâm Thái biết chơi một mình rồi, ngoan quá!

Địch Vân chỉ nhìn thấy khuôn mặt nhìn nghiêng của Thích Phương, nhìn thấy nét mày dài thanh tú, khóe miệng cong cong, khuôn mặt đầy đặn hơn mấy năm trước, càng nõn nà diễm lệ. Trái tim lại xót xa: “Mấy năm nay làm thiếu phu nhân ở nhà họ Vạn, không phải làm ruộng, không phải dầm mưa dãi nắng, người đẹp hẳn ra.”

Nghe thấy Thích Phương nói:

– Không Tâm Thái đừng chơi ở đây, vào nhà với mẹ.

Bé gái nói:

– Ở đây chơi thích lắm, Không Tâm Thái muốn xem kiến.

Thích Phương nói:

– Hôm nay ở bên ngoài có người xấu, muốn bắt trẻ con. Không Tâm Thái vào nhà đi.

Bé gái nói:

– Người xấu là gì? Bắt trẻ con làm gì?

Thích Phương đứng lên, dắt tay con gái, nói:

– Trong nhà tù có hai người xấu rất hung ác bỏ trốn. Cha đi bắt người xấu rồi. Người xấu đến đây sẽ bắt Không Tâm Thái. Không Tâm Thái nghe lời mẹ, vào nhà chơi, mẹ làm cho con búp bê vải, được không?

Đứa bé bướng bỉnh đáp:

– Không cần búp bê vải, Không Tâm Thái giúp cha bắt người xấu.

Địch Vân nghe Thích Phương nói đi nói lại là mình là “người xấu”, trái tim chìm hẳn xuống.

Chính lúc ấy, bên ngoài vườn rau tiếng vó ngựa lộp cộp, có mấy kỵ mã chạy đến. Thích Phương rút trường kiếm bên hông, chạy ra phía sau vườn.

Địch Vân đứng bên cửa sổ không dám nhúc nhích, sợ phát ra tiếng động. Dẫu sao cũng không muốn gặp sư muội, nỗi bi phẫn ngập tràn lồng ngực không sao nén nổi, cô ấy lại bảo mình là “người xấu”.

Địch Vân thấy bé gái chạy gần đến kho củi, chỉ mong nó đừng vào, nhưng con bé không biết còn nghĩ gì vẫn cứ xăm xăm bước vào. Địch Vân nấp vào sau đống cỏ, nói thầm:

– Ra đi, ra đi!

Chợt con bé nhìn thấy Địch Vân, nhìn thấy bộ dạng đáng sợ đầu tốc râu ria bờm xờm, nó sợ hãi đứng ngẩn ra, tròn mắt, muốn khóc mà không dám.

Địch Vân biết là hỏng rồi, chỉ cần bé gái khóc lên tung tích của mình sẽ bị Thích Phương phát hiện, bèn bước lên, tay trái ôm lấy nó, tay trái bịt lấy miệng. Những đã muộn mất một chút, đứa trẻ đã “a” lên một tiếng. Chỉ một tiếng rồi im bặt vì bàn tay Địch Vân đã bịt miệng.

Thích Phương mắt nhìn ra ngoài vườn, tâm trí lại đang để vào con gái, bỗng nghe thấy tiếng kêu khác lạ của nó, quay đầu lại đã không thấy bóng nó đâu, theo phía tiếng kêu của nó sau đống rơm cỏ trong kho củi, vội lao vào như mũi tên. Đến cửa kho củi chỉ thấy một người đàn ông râu tóc xồm xoàm, toàn thân bê bết máu đang ôm chặt con gái, một tay bịt miệng nó. Thích Phương rụng rời hết vía, vung trường kiếm đâm thẳng vào mặt Địch Vân, hét:

– Mau buông đứa trẻ ra!

Địch Vân xót xa trong lòng, ý nghĩ tự ti lại dậy lên: “Cô muốn giết tôi, thì giết đi!” Thích Phương ngẩn người, sợ con gái bị thương, vội thu kiếm, lại thét lên:

– Buông con ta ra!

Địch Vân nghe thấy cô ta chỉ toàn bảo buông con gái ra, không có một chút tình cố cựu nào, nổi giận bừng bừng, không buông con cô nữa, thuận tay rút luôn một thanh củi, gạt thanh trường kiếm, lùi lại một bước.

Thích Phương thấy người đàn ông hung ác này vẫn ôm chặt con gái không buông, càng sợ hãi, hai đầu gối nhũn ra, hít vào một hơi, đâm nhanh vào vai phải Địch Vân. Địch Vân nghiêng mình tránh, dùng thanh củi thay kiếm, từ bên trái đánh xéo sang rồi đâm vào phía sau. Thích Phương kêu lên một tiếng cảm thấy kiếm pháp rất quen thuộc, chính là chiêu “Ca ông hám thượng lai” mà cha cô đã dạy, bèn không kịp suy nghĩ, cúi đầu tránh, trường kiếm trong tay lại xuất hai chiêu “Hổ thế bôn kinh phong, Liên sơn nhược bố đào”.

Kho củi này vốn rất chật chội, chất đầy rơm, củi, chỗ trống chỉ đủ cho hai người đứng, bây giờ chiết chiêu, chân tay đều vướng víu.

Địch Vân và Thích Phương từ nhỏ cùng học một thầy, không có ngày nào không chiết chiêu luyện kiếm, thuộc lòng kiếm chiêu của nhau, thấy cô sử hai chiêu này, tự nhiên cũng dùng kiếm chiêu của sư phụ đã dạy để đối phó, xuất hai chiêu “Lão nê chiêu đại thư, mã mệnh phong tiểu tiểu”, thanh củi trong tay khua một vòng tròn, miệng hú dài, chặn đứng hai chiêu kiếm của Thích Phương.

Năm ấy sư huynh sư muội luyện kiếm đến chiêu này Thích Phương đã chống đỡ không nổi. Nhưng bây giờ nhát thứ ba chém thanh củi xuống bỗng cổ tay tê dại, “cách” một tiếng, thanh củi đã rơi xuống đất. Địch Vân giật mình, liền tỉnh ngộ: “Ngón tay phải của mình đã bị chặt đứt, suốt đời không thể sử kiếm, mình lại quên mất.”

Ngẩng đầu lên thấy mũi kiếm của Thích Phương đã cách ngực mình không đầy một tấc, thân kiếm run rẩy, vẻ ngạc nhiên trên mặt cô thật khó hình dung nổi.

Hai người đứng ngẩn ra nhìn nhau, không ai thốt nên lời. Mãi một lúc sau Thích Phương mới nói:

– Là… là huynh ư?

Giọng khản đặc, ú ớ không thành tiếng.

Địch Vân gật gật đầu, tay trái đang ôm đứa bé trao qua. Thích Phương ném trường kiếm, đón lấy con gái, không biết nói thế nào. Đứa nhỏ sợ đến nỗi khóc không ra tiếng. Thích Phương nói:

– Muội… muội không biết là huynh. Mấy năm nay…

Bỗng bên ngoài có tiếng gọi của một người đàn ông:

– Phương muội, Phương muội! Muội đang ở đâu?

Chính là Vạn Khuê. Tiếng gọi mỗi lúc một gần, đang nhảm phía vườn rau đi tới. Thích Phương tái mặt, nói nhỏ vào tai con gái:

– Không Tâm Thái, bác này không phải là người xấu, con đừng nói với cha, biết chưa?

Con bé ngẩng đầu lên, nhìn Địch Vân một cái, thấy vẻ đáng sợ bỗng “òa” một tiếng khóc ré lên.

Người đàn ông phía ngoài nghe tiếng khóc của con gái, theo tiếng mà đến, gọi:

– Không Tâm Thái, đừng khóc, cha đây!

Thích Phương nhìn Địch Vân một cái, quay mình bước ra, khép cửa kho củi lại, ôm con đi về phía chồng.

Địch Vân đứng sững, tựa hồ có thanh âm vang lên bên tai: “Mình chết cho xong, mình chết cho xong.”

Chỉ nghe thấy người đàn ông kia cười, hỏi:

– Không Tâm Thái, vì sao lại khóc?

Địch Vân rất muốn đến bên cửa sổ xem xem Vạn Khuê bây giờ ra sao, nhưng đôi chân như bị đóng đinh xuống đất.

Nghe thấy Thích Phương cười nói:

– Muội chơi với Không Tâm Thái ở sau vườn, có hai kỵ mã chạy qua, người trên ngựa cầm vũ khí, trông rất hung dữ, Không Tâm Thái bảo là người xấu muốn bắt nó, sợ quá khóc thét lên.

Vạn Khuê cười nói:

– Đó là người của nha môn đuổi bắt tù trốn, cha bồng Không Tâm Thái. Cha đánh chết người xấu. Không Tâm Thái không sợ người xấu, cha đánh chết hết bọn xấu.

Địch Vân ớn lạnh trong lòng: “Bản lĩnh nói dối của đàn bà thật ghê gớm. Nói vậy, con bé có mách là thấy người xấu, chồng cô ta cũng không nghi ngờ gì. Hừ, ta cần gì cô che giấu? Các người chỉ muốn bắt ta, đánh chết ta.”

Bước đến bên cửa sổ, nhìn ra ngoài, chỉ thấy Vạn Khuê ăn vận sang trọng, đang bồng con gái đi vào nhà, Thích Phương líu ríu đi bên cạnh, sánh vai cùng bước, có vẻ rất thân mật.

Sư muội đã lấy Vạn Khuê, điều này trước đây Địch Vân đã nghìn vạn lần nghĩ đến nhưng vẫn mong không phải là sự thật, bây giờ điều ấy rõ mồn một trước mắt. Địch Vân há miệng thét lên:

– Ta…

Cúi mình định nhặt thanh trường kiếm của Thích Phương ném ở dưới đất, xông ra liều mạng với Vạn Khuê. Thân bị tù tội, chịu biết bao khổ sở đều là do sự hãm hại của kẻ đang trước mặt kia, cả người bạn tình mà mình yêu hơn cả tính mạng lại trở thành vợ của y. Lúc này trong tim không còn ý nghĩ nào khác ngoài ý nghĩ nếu không giết chết người này thì chết dưới tay y.

Nhưng vừa cúi xuống, nhìn thấy thi thể của Đinh Điển trong đống cỏ, nhìn thấy đôi mắt nhắm nghiền sắc mặt thanh thản của anh chợt nghĩ: “Đinh đại ca lúc lâm chung nhờ cậy một điều duy nhất là hợp táng huynh ấy với Lăng tiểu thư, lúc này mình xông ra quyết đấu với thằng giặc Vạn Khuê, mình mất mạng thì không quan trọng lầm nhưng tâm nguyện của Đinh đại ca không thực hiện được.” Rồi lại nghĩ: “Mình nhờ sư muội thực hiện việc này, e rằng cũng có thể được… Hừ, hừ! Tên tiểu tử Địch Vân này, việc mà ngươi không chịu đảm nhận sao lại trút sang cho người khác? Ngươi chết xuống đất còn mặt mũi nào mà gặp Đinh đại ca? Sư muội vô lương tâm như thế, há chịu vì ngươi mà làm việc lớn này sao?” Nghĩ thế rồi dần dần kìm nén cơn phẫn nộ.

Nhưng một tiếng “ta…” của Địch Vân đã kinh động Vạn Khuê. Chỉ nghe thấy y nói:

– Giống như trong kho củi có người.

Thích Phương cười nói:

– Thật không? Muội vừa thấy lão Vương vào vác củi. Khuê ca, muội đã chưng yến sào cho huynh rồi, mau vào ăn đi. Không Tâm Thái cứ khóc hoài, để cho nó ngủ yên một chút.

Vạn Khuê “ừ” một tiếng, nói:

– Lão bếp họ Vương trong kho củi à?

Rồi ôm con gái, hai vợ chồng sánh vai đi xa.

Đầu óc Địch Vân trống rỗng, không nghĩ được cách nào, một lúc sau, tự đấm vào đầu mình suy nghĩ: “Kho củi này không thể ẩn thân lâu được, lão bếp họ Vương thế nào cũng vào lấy củi nấu cơm, làm sao đây? Hay là mình đem Đinh đại ca giấu kín, một mình trốn ra, đến tối lại trở lại mang thi thể của Đinh đại ca đi. Ừ, thôi thì làm thế cũng được.”

Nhưng, mới bước được một bước, trong lòng lại có một thanh âm níu lại: “Sư muội nhất định sẽ trở lại thăm mình. Mình đi sẽ chẳng bao giờ gặp lại cô ấy nữa.” “Nhìn lại cô ấy một chút thì có gì là hay? Cô ấy có chồng, có con gái, một nhà vui vẻ, làm gì có kẻ giết người vượt ngục trong lòng?” “Mình ở trong tù chờ đợi bao năm, ngày mong đêm nhớ, chỉ mong được gặp lại cô ấy dù chỉ một lần, hôm nay há lại để mất dịp tốt sao? Lẽ nào mình còn có hy vọng nào khác? Chỉ gặp một chút để hỏi tin tức của sư phụ. Mình phải hỏi cô ấy vì sao có mới nới cũ, mình vừa mới gặp tai họa cô ấy đã lập tức không quan tâm gì đến mình?” “Hỏi những điều ấy thì có nghĩa lý gì? Cô ấy không nói dối, cứ sự thực mà trả lời, còn nói dối thì có gì đáng nghe? Nếu cô ấy nói thực thì mình chỉ càng đau lòng mà thôi.”

Cứ nghĩ tới nghĩ lui như thế, chốc lát quyết tâm đã nguội, không có chủ ý rõ ràng. Địch Vân bản tính vô tư, không phải là người hay do dự đắn đo, nhưng hôm nay đứng trước vấn đề trọng đại nhất đời lại không biết nên làm thế nào. Ở lại, rõ ràng là không ổn, nhưng đi thì lại không đành.

Chính trong lúc sóng lòng cuồn cuộn, day dứt bất an, bỗng nghe thấy trong vườn rau có bước chân người nhè nhẹ, một người đang rón rén đi tới. Người ấy đi được mấy bước lại dừng lại, lại bước mấy bước, rõ ràng là cố ý đề phòng, sợ có người biết.

Người kia mỗi lúc một gần, trái tim Địch Vân đập thình thịch: “Rốt cuộc sư muội cũng đến tìm mình. Cô ấy muốn nói gì với mình? Có phải là xin mình tha thứ? Cô ấy có còn nghĩ đến tình xưa không?” Lại nghĩ: “Mình còn gì để nói với cô ấy nữa? Ôi, phải rồi, phải rồi! Cô ấy có người chồng tốt, có đứa con gái ngoan, sống những ngày vui vẻ, mình vĩnh viễn không nên gặp lại cô ấy.

Ý muốn trả thù đang bốc lên hừng hực bỗng dưng nguội lạnh: “Mình vốn chỉ là một thằng bé nhà quê nghèo khổ, giả dụ không gặp phải nỗi oan khuất này, sư muội và mình thành vợ chồng, tất nhiên mình sẽ rất vui sướng, nhưng sư muội thì phải vất vả suốt đời, như vậy có gì là hay cho cô ấy? Mình muốn báo thù, giết Vạn Khuê đi ư? Sư muội sẽ thành góa bụa, lẽ nào còn có thể lấy mình, lấy kẻ thù giết chồng? Trong lòng cô ấy sớm đã không có mình, trước kia mình đã không bằng được Vạn Khuê, bây giờ so với hắn mình càng cách xa trời vực. Nỗi oan cừu này, thôi đành cho qua, để vợ chồng mẹ con cô ấy sống những ngày hạnh phúc.”

Nghĩ đến đó, quyết ý không nói gì với Thích Phương nữa, cúi mình bước tới ôm lấy thi thể Đinh Điển trong đống cỏ, đột ngột nghe “bình” một tiếng, cửa kho củi bị chân người đạp mở toang. Địch Vân giật nẩy mình, quay lại, thấy một người đàn ông cao gầy tay cầm trường kiếm sáng loáng đứng ngay cửa, chính là Vạn Khuê. Địch Vân kêu khẽ một tiếng, không kịp suy nghĩ, cúi nhặt thanh trường kiếm Thích Phương bỏ quên.

Vạn Khuê mặt đầy sát khí. Y sớm đã biết tin Địch Vân vượt ngục, suốt ngày tâm thần bất định, lúc này nhìn thấy trong tay Địch Vân là thanh kiếm của Thích Phương, càng vừa ghen vừa hận, lạnh lùng nói:

– Được đấy, gặp nhau trong kho củi, đến cả vũ khí của mình cô ấy cũng giao cho ngươi, định mưu giết chồng à? E rằng không dễ thế đâu!

Đầu óc Địch Vân rối loạn, nhất thời không hiểu Vạn Khuê nói gì, chỉ nghĩ bụng: “Tại sao y lại đến? Làm sao biết mình ở đây? Tất nhiên là sư muội nói, rồi bảo chồng đến đây bắt mình lĩnh thưởng. Sao cô ấy có thể vô tình vô nghĩa như thế?”

Vạn Khuê thấy Địch Vân không trả lời, tưởng rằng Địch Vân sợ, bèn vung kiếm đâm tới trước ngực, Địch Vân giơ kiếm chặn lại, tự nhiên ra chiêu “thích hầu thức” mà lão ăn mày đã dạy hơn năm năm trước, trường kiếm phạt xiên đã chĩa vào yết hầu Vạn Khuê. Chiêu kiếm này cực kỳ quái dị, Vạn Khuê năm ấy đỡ không nổi, năm năm rồi, tuy võ công của y đã tiến xa nhưng vẫn không sao đỡ nổi.

Vạn Khuê kinh hãi, không biết sử thanh trường kiếm trong tay như thế nào, thu kiếm để chặn dĩ nhiên là không kịp, phát kiếm tấn công cũng đã muộn mất rồi, tính mạng đã hoàn toàn ở trong tay đối phương, y tức đến nổ ruột nhưng không dám nhúc nhích, nhìn khuôn mặt râu ria xồm xoàm của Địch Vân, lòng phẫn nộ biến thành sợ sệt.

Nhát kiếm của Địch Vân lại không đâm tới, phân vân: “Mình giết y hay không?”

Trong lúc vạn phần nguy hiểm, Vạn Khuê bỗng thấy trong mắt đối phương có ý băn khoăn, cổ tay cầm kiếm hơi rung, linh cơ lóe lên, y kêu to:

– Thích Phương, muội đến xem!

Địch Vân nghe y gọi “Thích Phương”, giật mình, hơi ngoái đầu nhìn. Không ngờ đó là Vạn Khuê dùng mẹo lừa, thừa lúc Địch Vân quay đầu, lập tức trường kiếm vung lên gạt. Các ngón tay phải của Địch Vân đã bị chặt đứt, cầm kiếm không vững, trường kiếm tuột khỏi tay. Vạn Khuê cả mừng, lập tức đâm tới.

Địch Vân né tránh, nấp sau đống củi, thuận tay rút một thanh củi, dùng củi làm kiếm, ra sức đánh tới. Chém hai nhát vun vút, Vạn Khuê đã chém đứt thanh củi, Địch Vân dùng sức ném mạnh đoạn củi còn lại ra, đợi y né tránh lại rút một thanh củi khác tiếp tục tấn công.

Vạn Khuê thấy Địch Vân rơi kiếm, nghĩ mình cầm chắc phần thảng, y định thần triển khai kiếm pháp từ từ tấn công. Sau mấy chiêu, Địch Vân gầm lên một tiếng, cổ tay phải trúng kiếm, máu chảy ra như suối, ngón tay bủn rủn, rơi mất thanh củi. Vạn Khuê đâm tiếp, một kiếm trúng đùi Địch Vân, co chân trái đá tới, Địch Vân ngã xuống đất. Địch Vân giãy giụa định bò dậy, Vạn Khuê lại đá, tiếp một cú vào gò má, Địch Vân lập tức ngất đi.

Vạn Khuê mảng:

– Giả chết à?

Lại chém một nhát lên vai Địch Vân, thấy không động đậy mới biết là ngất đi thật, nghĩ bụng:“Lăng tri phủ hứa trọng thưởng năm ngàn lạng bạc, trốc nã hai tên tù này, tất nhiên là bắt sống mới tốt. Lần này giải lên quan y ắt bị tử hình, mình hà tất phải ra tay giết y.” Chợt thấy trong đống cỏ lộ ra một cái chân, Vạn Khuê vừa sợ vừa mừng: “Đây lại một tên nữa!” Y không biết Đinh Điển đã chết, vội vàng vung kiếm chém vào chân xác chết.

Địch Vân tuy bị ngất trong đầu óc vẫn vang lên những âm thanh gào thét: “Mình không được chết, mình không thể chết! Mình đã nhận lời với Đinh đại ca phải hợp táng cho đại ca và Lăng tiểu thư.” Ý nghĩ ấy cực kỳ mạnh mẽ, lay tỉnh Địch Vân, mơ hồ nghĩ: “Một buổi tối năm xưa, mình cũng bị y đá ngã, cũng bị y đạp lên đầu”… Địch Vân từ từ mở mắt, thấy Vạn Khuê đang vung kiếm chém thi thể Đinh Điển. Mới đầu Địch Vân còn chưa tỉnh hẳn, không biết trước mắt đang xảy ra việc gì, nhưng tiếp đố thấy Vạn Khuê kéo thi thể của Đinh Điển từ trong đống cỏ ra, Địch Vân gào lớn:

– Đinh đại ca!

Đột nhiên tinh lực tràn ngập toàn thân, Địch Vân vội chồm dậy, nhào lên lưng Vạn Khuê, tay phải đã bóp chặt cổ họng Vạn Khuê.

Vạn Khuê cả sợ, muốn lật kiếm để đâm nhưng cánh tay không cách gì vòng lại phía sau, đâm với liền mấy nhát đều vướng phải đống củi, mà tay Địch Vân bóp yết hầu y thì càng ngày càng chặt.

Địch Vân thấy Vạn Khuê chém vào thi thể của Đinh Điển, tức giận như điên. Người này hãm hại mình, đoạt mất Thích Phương, oán cừu ấy còn có thể cho qua nhưng hành hạ thi thể Đinh đại ca thì muôn vạn lần không thể tha thứ, bấy giờ trong lòng không có một ý nghĩ nào khác, chỉ mong tức khắc bóp chết kẻ thù. Chỉ cảm thấy Vạn Khuê giãy giụa một hồi, sức chống cự dần dần yếu ớt, nhưng Địch Vân bị thương mấy chỗ, máu chảy không ngừng, khí lực nơi tay cũng giảm sút, nghĩ bụng: “Mình phải ra sức giữ vững một lúc thì có thể bóp chết hắn.” Một lúc sau, muôn sao nhảy múa trước mắt, đầu óc quánh lại rồi cũng không biết gì nữa.

Tuy đã ngất đi nhưng cánh tay chặn họng Vạn Khuê vẫn không buông lỏng. Vạn Khuê bị bóp cổ khó lòng thở được, đến khi Địch Vân ngất đi thì y cũng mất hết tri giác.

Trong đống củi khô rơm cỏ một đôi oan gia cùng nằm bất tỉnh. Hai người hầu như đều đã chết, nhưng ngực còn phập phồng, mũi và miệng vẫn còn hơi thở.

Không biết trong cõi u minh kia sắp xếp thế nào? Nếu Địch Vân tỉnh lại trước một chút, nhặt thanh trường kiếm dưới đất lên, một nhát giết chết Vạn Khuê. Nếu Vạn Khuê tỉnh lại trước, y cũng không còn định bắt sống Địch Vân nữa, như thế nguy hiểm quá, thế tất sẽ giáng một nhát kiếm vào đầu lấy mạng Địch Vân tức khắc.

Trên thế giới này chuyện gì cũng có thể xảy ra. Chưa chắc người tốt đã gặp may, kẻ xấu phải gặp đen đủi. Ngược lại cũng vậy, chưa chắc kẻ xấu đã gặp may, người tốt phải chịu rủi ro. Người ta ai cũng chết, người chết muộn cũng chưa chắc là may mắn.

Nhưng đối với người sống, đối với Thích Phương và con gái của cô, Địch Vân chết trước hay là Vạn Khuê chết trước khác nhau rất xa. Nếu lúc này yêu cầu Thích Phương lựa chọn, chọn để một người tỉnh lại trước, không biết cô sẽ chọn ai?

Trong kho củi hai người vẫn hôn mê bất tỉnh, có tiếng bước chân của một người, từ từ bước đến gần kho củi.

* * *

Tai Địch Vân nghe thấy tiếng nước tí tách, trên mặt có cái gì lạnh ngắt đang nhỏ xuống, đau đau, rồi cảm thấy lạnh, không có một chút sức lực nào. Địch Vân vừa tỉnh lại, lập tức tay phải vận kình, nói:

– Ta bóp chết ngươi, ta bóp chết ngươi!

Nhưng trong tay trống rỗng không có gì, rồi lại phát hiện ra thân hình mình cứ lắc lư, không ngừng di động. Trong kinh hoàng, Địch Vân mở mắt, tối om, chỉ cảm thấy từng giọt từng giọt nước rơi lên mặt, lên tay, lên thân thể, thì ra trời đang mưa.

Thân hình vẫn không ngừng lắc lư, ngực nóng bỏng, chỉ muốn nôn. Bỗng bên mình có một chiếc thuyền lướt qua, trên thuyền có buồm, rõ ràng là một chiếc thuyền. Lạ thật, sao bên mình lại có một chiếc thuyền?

Muốn ngồi dậy xem sao, nhưng toàn thân bủn rủn, đến một ngón tay cũng không nhúc nhích được, chỉ có thể nằm ngửa mắt nhìn những tảng mây đen đang vần vũ, thì ra không phải ở trong kho củi. Bỗng nghĩ: “Đinh đại ca đâu?” Vừa nghĩ tới Đinh Điển, trong người bỗng xuất hiện một luồng sức mạnh, chống hai tay xuống liền ngồi dậy được, người lại lắc lư mấy cái.

Địch Vân đang ở trong một chiếc thuyền nhỏ. Chiếc thuyền nhỏ đang trôi xuôi theo dòng sông cuồn cuộn. Đang đêm, trời đầy mây đen, mưa lớn. Địch Vân nhìn lên bờ hai bên thuyền, hai bên đều tối mịt mù, không nhìn thấy gì cả. Trong lòng lo lắng, Địch Vân gọi lớn:

– Đinh đại ca, Đinh đại ca!

Dẫu biết rằng Đinh Điển đã chết, nhưng muôn vạn lần không thể để mất thi thể huynh ấy. Bỗng chân trái đụng phải một cái gì mềm mềm, cúi đầu xem, không nén nổi vui mừng, kêu lên:

– Đinh đại ca, huynh đây rồi!

Địch Vân giang hai tay ôm chầm lấy thi hài Đinh Điển.

Yếu đến nỗi thở không ra hơi, cũng không cố sức suy nghĩ. Chỉ cảm thấy họng khô lưỡi ráo, liền há miệng để mưa rơi vào đẫm môi, miệng, lưỡi. Mơ mơ hồ hồ như thức như ngủ, hai tay vẫn ôm thi thể Đinh Điển, cho đến khi trời tang tảng sáng, mưa vẫn không ngừng rơi.

Trong ánh trời rạng sáng, Địch Vân bỗng nhận thấy trên đùi mình có một băng vải trắng quấn vào, định thần nhìn kỹ, phát hiện ra băng vải này rịt vào vết thương, rồi lại phát hiện thấy hai băng vải trắng nữa rịt vết thương trên cánh tay và trên vai, mũi phảng phất ngửi thấy mùi thuốc kim sang. Suốt đêm mưa mấy băng vải đều ướt sũng, nhưng vết thương đã cầm máu.

“Ai băng bó vết thương cho mình? Nếu vết thương không được băng bó, chẳng cần phải có ai đến giết mình, chỉ chảy máu cũng đủ mất mạng rồi.” Bỗng Địch Vân cảm thấy một nỗi quạnh quẽ thê lương không sao chịu đựng nổi: “Trên đời này còn có ai quan tâm đến mình, giúp đỡ mình? Đinh đại ca đã mất, còn có ai mong cho mình sống nữa? Có ai chịu mất công băng vết thương cho mình?” Xem kỹ mấy băng vải, băng bó rất không ngay ngắn chỉnh tề, hình như người này băng trong lúc lo lắng hoang mang. Nhưng không phải là vải thô mà là lụa thượng phẩm, biên lụa rất tinh xảo, có viền hoa, còn một bên thì có khuy áo rõ ràng là xé từ áo ra, mà lại là áo phụ nữ.

Sư muội chăng? Tim Địch Vân đập rộn ràng, ngực nóng ran, khóe miệng hiện ra một nụ cười đau khổ: “Cô ấy bảo chồng đến giết mình có lý nào lại băng bó vết thương cho mình? Nếu như cô ấy không báo tin, mình nấp trong kho củi, Vạn Khuê làm sao mà biết được?”.

“Nhưng mình lại đang ở trong một chiếc thuyền nhỏ, thuyền đang trôi trên sông. Không biết nơi này cách Giang Lăng bao xa? Dù sao cũng tạm thời thoát nạn, không bị Lăng tri phủ truy nã nữa.”

“Ai băng bó vết thương cho mình? Ai đặt mình vào con thuyền nhỏ này? Cả Đinh đại ca cũng được đặt vào đây với mình?” Đối với sự sống cái chết của mình, Địch Vân không mấy quan tâm, nhưng thi hài Đinh Điển cũng vẫn ở bên mình, điều này khiến Địch Vân vô cùng cảm kích.

Suy nghĩ đến đau cả đầu, rốt cuộc vẫn không tìm ra manh mối. Địch Vân nhớ lại việc xảy ra trong một ngày vừa qua, nghĩ đến nhát kiếm Vạn Khuê chém vào thi thể Đinh Điển, nhớ lại việc mình ráng sức bóp chặt cổ họng Vạn Khuê, rồi không nghĩ gì thêm được nữa. Sự tình xảy ra sau đó trong óc không ghi nhận được điều gì.

Nghiêng đầu một cái, góc trán đụng phải một bao gì cứng cứng, ra là một cái túi lụa nhỏ, Địch Vân mừng rỡ, chắc rằng trong bao này có đầu mối, hai tay run rẩy mở ra, chỉ thấy trong bao có năm sáu đĩnh bạc vụn, còn có bốn thứ nữ trang: một bông hoa bằng ngọc, một đôi hoa tai, một cái xuyến vàng, một chiếc nhẫn đá quý. Ngoài ra còn có một chiếc khóa vàng trẻ con thường đeo ở cổ, trên chiếc khóa còn một mảnh vải áo trẻ em, hẳn là do vội vàng dứt ra nên còn mác lại. Trên chiếc khóa vàng khắc bốn chữ: “đức dung song mậu”[1]. Địch Vân học hành chữ nghĩa chẳng được bao nhiêu, tuy biết chữ nhưng không rõ bốn chữ này có ý nghĩa gì, nghĩ bụng: “Chắc là tên của đứa trẻ.”

Địch Vân mân mê mấy món nữ trang, so với lúc chưa thấy chiếc túi vải, trong lòng lại càng băn khoăn: “Bạc và nữ trang tất nhiên là của người cứu mình cho, để khi thuyền cập vào bờ mình có thể mua cái ăn. Nhưng, rốt cuộc là ai cho? Nữ trang không phải là của sư muội, trước nay mình chưa thấy cô ấy đeo bao giờ.”

Dòng sông cuồn cuộn, đưa con thuyền nhỏ xuôi dòng. Suốt ngày hôm ấy, Địch Vân cứ day dứt băn khoăn: “Ai băng bó vết thương cho mình? Ai cho mình bạc và nữ trang.”

——————————————————

[1] Đức dung song mậu: đạo đức và dung nhan đều tốt đẹp – lời cầu chúc cho bé gái


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.

 Bình luận